Quá trình giải quyết việc làm cho người lao động ở tỉnh Yên Bái từ năm 1991 đến năm 2010 - Pdf 39

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRIỆU THỊ TRINH

QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO
NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở TỈNH YÊN BÁI
TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2010
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 62 22 03 13

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Đình Lê

HÀ NỘI - 2016


Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong Luận án là trung thực và chưa từng được công bố
trong bất kỳ công trình nào khác. Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho
việc thực hiện Luận án này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong
Luận án đã được chỉ rõ nguồn gốc.

Nghiên cứu sinh

Triệu Thị Trinh



ĐỘNG Ở TỈNH YÊN BÁI GIAI ĐOẠN 2001 - 2010........................................... 67
3.1. Bối cảnh lịch sử và những yêu cầu giải quyết việc của tỉnh Yên Bái
(2001-2010) .............................................................................................................. 67
3.2. Chủ trương, chính sách mới của Đảng, Nhà nước và tỉnh Yên Bái về giải quyết
việc làm cho người lao động .................................................................................... 71
3.3. Quá trình giải quyết việc làm cho người lao động của tỉnh Yên Bái từ năm
2001 đến năm 2010 ................................................................................................... 78
Chương 4: NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM .................................. 115
4.1. Nhận xét về quá trình giải quyết việc làm ở tỉnh yên Bái (1991-2010) ........... 115
4.2. Những đặc điểm của quá trình giải quyết việc làm ở tỉnh Yên Bái giai đoạn
1991-2010................................................................................................................ 134
4.3. Một số kinh nghiệm ......................................................................................... 136
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 146
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN .......................................................................... 150
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................. 151
PHỤ LỤC ............................................................................................................... 166


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CNH, HĐH

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CTMTQG

Chương trình mục tiêu Quốc gia

HTX



DANH MỤC CÁC BẢNG
Stt

Tên bảng

Trang

Bảng 2.1

Lao động ở Yên Bái thuộc các đơn vị hành chính sự nghiệp
trước và sau khi được xắp xếp lại tháng 3/1992

39

Bảng 2.2

Lực lượng công nhân viên chức Nhà nước tỉnh Yên Bái giai
đoạn 1991 - 2000

41

Bảng 2.3

Lao động của tỉnh Yên Bái khu vực thành thị từ năm 1991
đến năm 1995

55



Số lao động được tạo việc làm mới trong các đơn vị hành
chính sự nghiệp, Đảng, Đoàn thể và ngành khác ở Yên Bái
giai đoạn 2001-2009

89

Bảng 3.5

Số lao động trong các doanh nghiệp đang hoạt động ở Yên
Bái tính đế thời điểm ngày 31/12/2010 phân theo thành phần
kinh tế

93

Bảng 3.6

Số trường trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng và số học sinh,
sinh viên ở Yên Bái từ năm 2005 đến năm 2010

97

Bảng 3.7

Lao động được giải quyết việc làm từ Quỹ Quốc gia hỗ trợ
việc làm cho các chương trình, dự án ở Yên Bái giai đoạn
2001-2010

100


chất lượng nguồn nhân lực còn nhiều hạn chế về sức bền, kỹ năng quản lý. Bên
cạnh đó Việt Nam còn phải đối mặt với những bài toán khó về giải quyết việc
làm như cần tạo thêm nhiều việc làm mới, giảm tình trạng thất nghiệp thành thị,
tăng chất lượng, hiệu quả việc làm ở nông thôn, giải quyết việc làm cho thanh
niên mới tốt nghiệp…
Giải quyết việc làm không chỉ là giải quyết một vấn đề cấp thiết trong xã
hội mà còn là tiền đề quan trọng để sử dụng có hiệu quả nguồn lực lao động, góp
phần chuyển đổi cơ cấu lao động đáp ứng nhu cầu của quá trình CNH, HĐH và
hội nhập quốc tế, là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người trong thời
kỳ đổi mới.
Yên Bái là một trong 13 tỉnh miền núi phía Bắc, từ sau khi tái lập tỉnh
năm 1991 được Nhà nước hỗ trợ, đầu tư thông qua các Chương trình mục tiêu
quốc gia về xóa đói giảm nghèo, về an sinh xã hội, về tạo việc làm, giải quyết
việc làm và cũng đạt được một số kết quả đáng ghi nhận. Song, Yên Bái vẫn gặp
phải không ít những khó khăn, đặc biệt là trong việc nâng cao điều kiện sống cho
đồng bào các dân tộc.
Trên toàn địa bàn tỉnh Yên Bái ngoài dân tộc kinh còn có 34 đồng bào dân
tộc thiểu số. Những khó khăn trong vấn đề giải quyết việc làm của Yên Bái bị
phần nào tác động bởi địa hình miền núi phức tạp, hiểm trở, chia cắt khiến cho
1


hệ thống giao thông đi lại khó khăn, khó phát triển cơ sở hạ tầng, không hấp dẫn
được các nhà đầu tư. Bên cạnh đó tỉ lệ lao động đã qua đào tạo, có trình độ
chuyên môn kỹ thuật còn rất thấp. Yên Bái còn tồn tại nhiều vấn đề xã hội nổi
cộm như tỷ lệ hộ nghèo cao, số người đến tuổi lao động chưa có việc làm còn
nhiều, nhất là thanh niên khu vực thành thị. Tỷ lệ người thiếu việc làm ở khu vực
nông thôn còn phổ biến đi kèm là chất lượng làm việc cũng thấp kém. Các vi
phạm, tội phạm về ma tuý như trồng, buôn bán và sử dụng thuốc phiện nhất là
khu vực đồng bào thiểu số còn phổ biến. Đời sống đồng bào vùng cao, vùng sâu,

Trên cơ sở nghiên cứu những kết quả đã đạt được làm rõ những ưu điểm,
hạn chế và nguyên nhân, từ đó rút ra một số đặc điểm, kinh nghiệm về giải quyết
việc làm, đảm bảo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động ở
tỉnh Yên Bái trong thời gian tiếp theo.
2.2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là quá trình giải quyết việc làm cho
người lao động ở tỉnh Yên Bái từ năm 1991 đến năm 2010.
2.3. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tập hợp, hệ thống hóa những vấn đề lý luận và những tài liệu liên quan
đến việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động nói chung, ở tỉnh Yên
Bái nói riêng.
- Nghiên cứu về tình trạng lao động dôi dư do xắp xếp lại doanh nghiệp
Nhà nước theo cơ chế kinh tế mới, thất nghiệp, thiếu việc làm, …
- Luận án nghiên cứu, làm rõ quá trình triển khai thực hiện và kết quả của
giải quyết việc làm cho người lao động trong từng lĩnh vực cụ thể để phát triển
sản xuất và ổn định xã hội, từng bước nâng cao đời sống người lao động ở tỉnh
Yên Bái.
- So sánh quá trình thực hiện và kinh nghiệm của một số địa phương trong
nước về giải quyết việc là cho người lao động và rút ra bài học kinh nghiệm đối
với tỉnh Yên Bái.

3


- Luận án phân tích, đánh giá những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân, chỉ
ra những đặc điểm cơ bản và rút ra một số kinh nghiệm của quá trình giải quyết
việc làm cho người lao động ở tỉnh Yên Bái từ năm 1991 đến năm 2010.
3. Phạm vi nghiên cứu
3.1. Phạm vi thời gian: Luận án chọn mốc năm 1991 là năm tái lập tỉnh
Yên Bái trên cơ sở tách ra từ tỉnh Hoàng Liên Sơn. Năm 2010 là năm cả nước

- Luận án góp phần làm rõ hơn ý nghĩa, vai trò của giải quyết việc làm
thông qua các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và của tỉnh Yên Bái
từ năm 1991 đến năm 2010.
- Luận án làm rõ thực trạng về lao động, việc làm và quá trình giải quyết
việc làm cho người lao động ở tỉnh Yên Bái từ năm 1991 đến năm 2010.
- Luận án đánh giá những thành tựu, hạn chế và tìm ra nguyên nhân, nêu
ra các đặc điểm của quá trình giải quyết việc làm cho người lao động ở tỉnh Yên
Bái từ năm 1991 đến năm 2010. Trên cơ sở đó rút ra một số kinh nghiệm của
quá trình giải quyết việc làm cho người lao động của tỉnh Yên Bái trong giai
đoạn tiếp theo.
- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể góp phần cung cấp cơ sở thực tiễn
cho việc hoạch định chính sách giải quyết vấn đề lao động, việc làm và có thể sử
dụng làm tài liệu phục vụ cho nghiên cứu, giảng dạy và học tập về lịch sử địa
phương và một số ngành khoa học có liên quan.
7. Kết cấu của luận án:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận án
được bố cục thành 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến
đề tài luận án
Chương 2: Giải quyết việc làm cho người lao động ở tỉnh Yên Bái giai
đoạn 1991 - 2000
Chương 3: Đẩy manh giải quyết việc làm cho người lao động ở tỉnh Yên
Bái giai đoạn 2001 - 2010
Chương 4: Nhận xét và một số kinh nghiệm

5


Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN


thuê 1-3 lao động thường xuyên và 10-20 lao động thời vụ, thậm chí những trang
trại lâm nghiệp có diện tích khoảng 300ha thì số lao động thường xuyên còn lên tới
hàng trăm người. Tác giả cũng đưa ra ví dụ về mô hình kinh tế trang trại lâm nghiệp
ở Yên Bái với diện tích đất chiếm trên 70%, khiến 9,8% số hộ gia đình có điều kiện
tốt để tích tụ mô hình kinh tế này. Bên cạnh đó cuốn sách cũng tập trung vào làm rõ
các vấn đề trình độ chuyên môn, của chủ trang trại, của lao động trong trang trại
và đề xuất các giải pháp nâng cao trình độ, áp dụng khoa học kỹ thuật (nhất là chủ
trang trại, người lao động trẻ) nhằm phát huy hết những tiềm năng mà mô hình
kinh tế này mang lại.
Có thể nói cuốn sách đã phân tích sâu sắc những yếu tố tác động của kinh tế
trang trại với nông thôn Việt Nam qua các thời kỳ trong đó tập trung chủ yếu vào
thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, qua đó tác giả cũng đánh giá chất
lượng nguồn nhân lực để đề ra các giải pháp thiết thực là cơ sở giúp Chính phủ ra
Nghị định số 03/2000/NQ-CP về kinh tế trang trại ngày 02 tháng 2 năm 2000.
Năm 2002 Nxb Lao động (Hà Nội) đã xuất bản cuốn “Quá trình chuyển dịch
cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở vùng Bắc Bộ nước ta”
của GS.TS Phạm Đức Thành và TS Lê Doãn Khải. Cuốn sách đã hệ thống hóa cơ
sở khoa học của quá trình cơ cấu lao động theo hướng CNH, HĐH trong nông
nghiệp, nông thôn Việt Nam. Tập thể tác giả đã tập trung phân tích những nhân tố
cơ bản tác động đến quy mô và tốc độ chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng
CNH, HĐH và đánh giá thực trạng này qua điển hình 3 tiểu vùng ở vùng Đồng
bằng Bắc Bộ trong giai đoạn (1996-1999).
Công trình khoa học này cũng phân tích rõ những tồn tại của các vấn đề
như: tốc độ chuyển dịch cơ cấu lao động chậm nên khiến cho tỉ lệ lao động
nông nghiệp trong giai đoạn này vẫn chiếm đến 77,3% trong khi công nghiệp là
9,37% và dịch vụ chiếm 13,32%; chất lượng nguồn lao động qua một số chỉ
tiêu đánh giá trình độ chuyên môn kỹ thuật còn thấp (không có chuyên môn kỹ
thuật chiếm 90,25%, sơ cấp 1,5%, công nhân kỹ thuật 3,5%, trung học chuyên
nghiệp 3,5%, cao đẳng - đại học cũng chỉ chiếm 1,25%) vì vậy mà quá trình

nghiên cứu hàng đầu Việt Nam về lao động, việc làm thuộc Bộ LĐTBXH. Xuất
phát từ tính cấp thiết của vấn đề giải quyết việc làm theo Nghị Quyết 120/HĐBT
ngày 11/04/1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính Phủ), theo Chương trình
Quốc gia về xóa đói giảm nghèo v.v. đồng thời với việc triển khai các dự án
8


nhằm khai thác mọi nguồn lực tạo việc làm cho người lao động đặc biệt là thông
qua Quỹ Quốc gia hỗ trợ giải quyết việc làm. Đề tài có cách nhìn sâu sắc, toàn
diện những vấn đề lý luận của giải quyết việc làm từ đó rút ra đặc điểm, xây
dựng hệ thống đánh giá, phương pháp đánh giá theo các chương trình dự án phát
triển kinh tế xã hội ở nước ta. Nội dung đề tài còn tập trung đánh giá vấn đề giải
quyết việc làm ở 60 dự án điển hình ở các tỉnh thành được vay vốn thuộc Quỹ
Quốc gia hỗ trợ giải quyết việc làm giai đoạn từ năm 1992 đến năm 2000. Đề tài
thống kê khá cụ thể kết quả thu nhập bình quân của người lao động theo dự án
là tạo thêm việc làm, mỗi năm thu hút hơn 1,5 triệu lao động thông qua 66.000
dự án, tăng thu nhập cho người lao động 20-40% so với trước, thu hút thêm số
lao động gián tiếp. Cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động ở nông thôn chuyển dịch
tích cực, khôi phục các ngành nghề truyền thống, khuyến khích phát triển tiểu
thủ công nghiệp có giá trị kinh tế cao. Góp phần làm thay đổi căn bản nhận thức
của nhân dân và toàn xã hội về giải quyết việc làm, lồng ghép tích cực với các
chương trình kinh tế xã hội ở địa phương. Sau khi làm rõ các nội dung đề tài đã
chỉ ra những tồn tại, hạn chế và những vướng mắc như chất lượng, tính ổn định,
khả năng phát triển của việc làm tạo ra theo dự án còn hạn chế, quy trình, thủ
tục vay vốn phức tạp...Qua những kết quả và đánh giá mà đề tài chỉ ra là cơ sở
để tập thể tác giả đề xuất những khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết
việc làm theo các chương trình, dự án. Đề tài đã cung cấp nguồn tư liệu rất đầy
đủ về giải quyết việc làm theo chương trình, dự án trên phạm vi cả nước, là cơ sở
để tác giả tìm hiểu cụ thể quá trình tổ chức thực hiện, đánh giá những kết quả
giải quyết việc làm theo chương trình, dự án trên phạm vi tỉnh Yên Bái.

Thống kê (GSO). Ngoài ra, báo cáo cũng dành một phần nội dung đáng kể để
đánh giá tổng quan về hệ thống chính sách có liên quan. Phần II của báo cáo là
kết quả khảo sát tại 9 tỉnh gồm: Yên Bái, Hà Nam, Vĩnh Phúc, Quảng Bình,
Quảng Trị, Quảng Ngãi, Bình Dương, Vĩnh Long và Đồng Tháp nhằm tiếp tục
nghiên cứu, đánh giá về các vấn đề có liên quan tới tình hình lao động, việc
làm tại nông thôn Việt Nam để bổ sung cho các kết quả phân tích từ số liệu
điều tra LFS 2009.
Các bài báo khoa học: Bên cạnh các công trình nghiên cứu, sách, đề tài
khoa học còn có nhiều bài viết đăng tải trên các tạp chí khoa học chuyên ngành
10


và kỷ yếu hội thảo khoa học. Các bài viết tập trung nghiên cứu về vấn đề việc
làm của người lao động, trong đó đáng chú ý là bài“Việc làm trong hội nhập
kinh tế quốc tế ở nước ta” của PGS.TS Nguyễn Tiệp đăng trên Tạp chí Lao động
Xã hội số 394 tháng 11/2010.
Tác giả đã đánh giá những tác động của toàn cầu hóa đến việc làm của
người lao động mà biểu hiện rõ nhất ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và khu
vực FDI đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người lao động. Tác giả cũng chỉ ra
những tiêu cực của hội nhập kinh tế đến việc làm và các vấn đề xã hội như tăng
khoảng cách thu nhập giữa các ngành nghề, tác động do quá trình đô thị hóa, mở
rộng sản xuất đem tới. Tác giả cũng đưa ra những dự báo tác động của hội nhập
kinh tế quốc tế đến việc làm ở Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo (2011 - 2020).
Qua đó tác giả đề xuất những khuyến nghị như tăng cường công tác đánh
giá, dự báo, nâng cao hiệu quả các chính sách thị trường lao động, nâng cao trình
độ của nguồn nhân lực nhằm tăng khả năng cạnh tranh, xúc tiến bảo hiểm xã hội.
Bài viết của PGS.TS Nguyễn Tiệp tuy chỉ đánh giá sơ qua vấn đề việc làm và
giải quyết việc làm cho người lao động trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm
2010 nhưng lại có những đánh giá và dự báo rất quan trọng đối với vấn đề việc
làm và giải quyết việc làm cho người lao động trong giai đoạn 10 năm tiếp theo

nhân, rút ra kinh nghiệm từ trong quá trình lãnh đạo thực hiện giải quyết việc
làm của Đảng bộ tỉnh Nam Định từ năm 1997 đến năm 2006.
Năm 2008 trong luận văn thạc sĩ Ngành Kinh tế chính trị - Học viện
Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh của tác giả Phạm Văn Duyên
cũng đã nghiên cứu về Việc làm cho thanh niên nông thôn miền Tây Nam Bộ một
cách khá đầy đủ về những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn của giải quyết việc
làm thanh niên nông thôn. Từ thực tiễn giải quyết việc làm cho người lao động ở
nông thôn của tỉnh Thái Bình, Bình Dương và một số mô hình dạy nghề có hiệu
quả của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Tác giả rút ra một số bài học có thể vận dụng
vào giải quyết vấn đề việc làm cho người lao động ở nông thôn nói chung, thanh
niên miền Tây Nam Bộ nói riêng. Tác giả đã có những tổng kết, đánh giá vấn đề
giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn miền Tây Nam Bộ từ 2002-2007
với những tác động ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội. Qua đó
tác giả nêu ra một số giải pháp, định hướng giải quyết việc làm cho thanh niên
nông thôn nói chung và Tây Nam Bộ nói riêng trong thời gian tiếp theo.
12


Năm 2012 tác giả Nguyễn Thị Hoàng Anh đã đưa ra những nghiên cứu về
giải quyết việc làm cho người lao động khá cụ thể của tỉnh Phú Thọ qua luận văn
thạc sĩ của mình tại Trung tâm Đào tạo, Bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị,
Đại học Quốc gia Hà Nội. Bằng những số liệu, đánh giá, tổng kết, tác giả đã khôi
phục “bức tranh” mà “Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo giải quyết việc làm cho
người lao động từ năm 1997 đến năm 2006”. Tác giả đã chia quá trình giải quyết
việc làm của Phú Thọ thành hai giai đoạn từ năm 1997 (sau khi tái lập tỉnh) đến
năm 2001 và từ năm 2002 đến năm 2006. Dù luận văn của tác giả Nguyễn Thị
Hoàng Anh cũng còn những vấn đề chưa được phân tích cặn kẽ nhưng với
những kết quả nghiên cứu đó có thể giúp cho luận án có điều kiện đánh giá, so
sánh toàn diện hơn với giải quyết việc làm của tỉnh Yên Bái.
Luận văn thạc sĩ Đảng bộ Vĩnh Phúc chỉ đạo giải quyết việc làm cho nông

hoá, công nghiệp hoá.
Trên cơ sở phân tích, đánh giá quá trình giải quyết việc làm cho nông
dân khi thu hồi đất ở Hà Nội qua các số liệu báo cáo của các cơ quan có thẩm
quyền và thực tiễn điều tra bằng bảng hỏi của tác giả, tác giả đưa ra những
nhận định khách quan về những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của các
hạn chế trong quá trình giải quyết việc làm cho nông dân khi thu hồi đất ở Hà
Nội. Tác giả đã đi sâu điều tra thực trạng việc làm và giải quyết việc làm ở
một số huyện mang tính đại diện ở Hà Nội để từ đó có để tác giả đưa ra quan
điểm, đề xuất các nhóm giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả công tác
giải quyết việc làm cho nông dân khi thu hồi đất, đạt được các chỉ tiêu mà
Thành phố đã đề ra.
1.1.3. Những công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề lao động và
việc làm ở tỉnh Yên Bái
Cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu cụ thể, toàn diện, có
hệ thống về giải quyết việc làm cho người lao động ở tỉnh Yên Bái mà chỉ có một
số công trình, bài viết về tỉnh Yên Bái hoặc một số công trình đã ít nhiều đề cập
gián tiếp đến vấn đề lao động và việc làm của tỉnh Yên Bái.
Trong số tháng 3 năm 2000, Tạp chí Lao động Xã hội số 160 đã dành hẳn
một chuyên đề gồm các bài viết về “Công tác lao động xã hội ở tỉnh Yên Bái”
Trong đó, tác giả Lương Văn Phương (nguyên Phó Chủ tịch UBND tỉnh Yên
Bái) với bài “Yên Bái thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo” đã đánh giá hiện
14


trạng các huyện đặc biệt khó khăn trước khi thực hiện chương trình xóa đói giảm
nghèo, tập trung phân tích thực trạng lực lượng lao động trên các mặt và biến
động của nó trong giai đoạn 1996-2000 qua đó tác giả đánh giá kết quả xóa đói
giảm nghèo từ 1996 - 1999, nêu ra những mục tiêu, giải pháp cho công tác xóa
đói giảm nghèo trong giai đoạn 2001 - 2005 trong đó vấn đề tuyên truyền vận
động người lao động tránh tâm lý trông chờ, ỷ lại, phát huy khả năng tự cứu

ngàn lao động có đến 78,3% sống và làm việc ở nông thôn, tuyệt đại đa số làm
nông nghiệp. Vì vậy tác giả đã đưa ra những thách thức và những phương hướng
cho vấn đề giải quyết việc làm ở Yên Bái trong giai đoạn tiếp theo.
Tháng 4/2006 tác giả Hoàng Thị Hạnh với bài “Xóa đói giảm nghèo nhiệm vụ chiến lược ở Yên Bái” đã đánh giá khá sâu sắc tình hình thực hiện
công tác XĐGN ở Yên Bái. Chương trình XĐGN được thực hiện thông qua cán
bộ cấp xã và Trưởng thôn bản, nhưng phần lớn họ chưa được đào tạo kỹ năng
một cách hệ thống ảnh hưởng đến tiến độ hiệu quả triển khai.
Ngoài ra, trên tạp chí Lao động Xã hội số 394 ra tháng 11/2010 có giới
thiệu bài viết của tác giả Huy Ngọc về “5 năm thực hiện chương trình mục tiêu
quốc gia về giảm nghèo tại Yên Bái”. Bài viết đã tổng kết đánh giá về giảm
nghèo theo Chương trình mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo trong giai đoạn
(2006-2010) tại Yên Bái với thống kê đưa ra về số hộ, tỉ lệ thoát nghèo trên địa
bàn toàn tỉnh.
Tác giả chủ yếu đánh giá kết quả của các dự án như Dự án dạy nghề cho
người nghèo sử dụng nguồn vốn từ Quỹ giải quyết việc làm của địa phương
mỗi năm khoảng 4 tỉ đồng cho khoảng 4.200 - 4.500 lao động ở nông thôn. Dự
án khuyến nông - lâm - ngư, phát triển sản xuất, phát triển các ngành nghề với
mục đích hỗ trợ người nghèo về kiến thức, kĩ năng xây dựng kế hoạch, bố trí
sản xuất, tiêu thụ sản phẩm một cách tích cực. Dự án về hỗ trợ phát triển cơ sở
hạ tầng ở nông thôn tạo điều kiện tốt hơn cho người lao động tiếp cận với thị
trường từ đó có cơ hội tự tạo việc làm. Nhóm các dự án hỗ trợ trực tiếp các hộ
nghèo để phát triển sản xuất, kinh doanh thông qua chính sách ưu đãi tín dụng
của địa phương.
Tuy nhiên nội dung bài báo mới chỉ dừng lại ở những kết quả của các dự
án giảm nghèo từ năm 2006 đến năm 2010 và nêu ra một vài định hướng khuyến

16


nghị nhằm giảm nghèo tại Yên Bái trong thời gian tiếp theo chứ hầu như chưa có



phát triển sản xuất, đào tạo nâng cao năng lực cán bộ xóa đói giảm nghèo…cũng
được đánh giá một cách khái quát cho thấy những nỗ lực và kết quả của ngành
LĐTBXH tỉnh nói chung và trong vấn đề lao động việc làm nói riêng.
Năm 2011, tác giả Lương Thị Thuần lựa chọn đề tài “Quá trình thực hiện
chính sách xóa đói giảm nghèo của Đảng ở tỉnh Yên Bái từ năm 1996 đến năm
2010” làm luận văn thạc sĩ chuyên nghành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam tại
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội). Tác
giả đã đi từ những vấn đề lý luận nghiên cứu về XĐGN trên thế giới và Việt
Nam như vấn đề về dinh dưỡng, về thu nhập tối thiểu, về so sánh chuẩn nghèo
giữa nông thôn với thành thị để xem xét, đối chiếu với đói nghèo ở tỉnh Yên Bái.
Luận văn tập trung phân tích, đánh giá sự lãnh đạo của Đảng bộ Tỉnh Yên Bái
với công tác XĐGN trong hai giai đoạn (1996-2000) và (2000-2010).
Giai đoạn (1996-2000) tác giả nêu ra những khó khăn trong vấn đề chuyển
dịch cơ cấu kinh tế của một tỉnh nghèo như Yên Bái với thu nhập bình quân đầu
người chưa đầy 300USD, trình độ kỹ thuật, canh tác kém do tập quán, phong tục
lạc hậu v.v. Đảng bộ Tỉnh dù mới tái lập (1991) nhưng đã chỉ đạo đúng đắn giải
quyết từng bước vấn đề XĐGN ở địa phương. Trong phần này tác giả đề cập khá
chi tiết đến những chỉ đạo của Đảng bộ Tỉnh về vấn đề giải quyết việc làm, tạo
việc làm của ban, ngành, đoàn thể, người dân và những kết quả thu được như
mỗi năm tạo được 12.000 chỗ làm việc mới, số hộ khá và giàu tăng từ 7,3% lên
14%, số hộ nghèo giảm từ 33% năm 1991 xuống 18% năm 1995. Tác giả cũng
dựa trên những Báo cáo của địa phương chỉ ra mô hình kinh tế phù hợp, khả thi
và hiệu quả của kinh tế trang trại, kinh tế đồi rừng. Cùng với đó luận văn cũng
đưa ra những đánh giá về kết quả các dự án lồng ghép với chương trình 135, 327
của Chính phủ và các chương trình quốc gia khác về giải quyết việc làm, XĐGN
ở một số xã, huyện của tỉnh.
Giai đoạn (2000-2010) luận văn đã cơ bản làm nổi bật sự lãnh đạo của
Đảng bộ tỉnh trong điều kiện, tình hình mới của đất nước cũng như nhiệm vụ

quyết việc làm góp phần trực tiếp vào sự tăng trưởng, khẳng định vị thế kinh tế,
chính trị của mỗi địa phương nói riêng và của cả nước với quốc tế và khu vực
nói chung. Tuy nhiên tính xã hội hóa nhằm giúp người lao động tự tạo, giải
quyết việc làm mới chỉ được các tác giả đề cập khá chung chung. Những giải
pháp, kiến nghị được đề xuất hầu hết ở khía cạnh Nhà nước vĩ mô, chưa đề cập
19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status