ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
---------------------------------
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Ngày nay, với cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật phát triển mạnh mẽ
và sự bùng nổ thông tin trên nhiều lĩnh vực, thế giới đang bƣớc vào thời đại
NÔNG THỊ MAI
của toàn cầu hoá thì vai trò của giáo dục ngày càng đƣợc tăng cƣờng trong
việc “Đào tạo ra những ngƣời lao động tự chủ, năng động, sáng tạo, có năng
lực giải quyết những vấn đề thực tế”. Định hƣớng cho phát triển giáo dục đó
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN ĐỂ THIẾT KẾ
BÀI GIẢNG ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN VIỆT NAM TRONG
SÁCH GIÁO KHOA ĐỊA LÍ 8 THCS
(VẬN DỤNG TẠI TỈNH CAO BẰNG)
là “Phát huy tính tích cực, chủ động, tƣ duy sáng tạo của ngƣời học; bồi
dƣỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vƣơn lên”. (Luật giáo
dục 1998, chƣơng 1, điều 24).
Trong nhà trƣờng phổ thông, ngƣời giáo viên vừa phải truyền đạt cho
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC ĐỊA LÍ
Mã số: 60.14.10
học sinh những nội dung chính của bài học, vừa phải cập nhật những vấn đề
mới của xã hội và nội dung khoa học của bộ môn, điều này đòi hỏi phải có sự
đổi mới phƣơng pháp giảng dạy của giáo viên. Ngƣời giáo viên phải biết lựa
Môn học địa lí nói chung và chƣơng trình địa lí tự nhiên Việt Nam nói
riêng có nhiều thuận lợi trong việc ứng dụng CNTT vào dạy học, vì đây là
- Thiết kế một số bài giảng cụ thể trong phần địa lí tự nhiên Việt Nam
trong chƣơng trình địa lí 8 THCS có ứng dụng CNTT.
môn học sử dụng nhiều phƣơng tiện và thiết bị dạy học, các phƣơng tiện này
- Tiến hành thực nghiệm sƣ phạm nhằm đánh giá những thuận lợi, khó
không đơn thuần là công cụ dạy học mà còn là nguồn tri thức, nó có thế mạnh
khăn và đƣa ra một số giải pháp cụ thể về việc ứng dụng CNTT trong dạy
rất lớn trong quá trình dạy học thông qua việc thể hiện: Bản đồ, biểu đồ, tranh
học địa lí ở các trƣờng THCS tỉnh Cao Bằng.
ảnh, Video... Tuy nhiên, hiện nay trong các trƣờng phổ thông ở nƣớc ta nói
4. Giới hạn của đề tài
chung và ở tỉnh Cao Bằng nói riêng, việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy
Bƣớc đầu nghiên cứu cách thức ứng dụng CNTT vào việc thiết kế một
còn ít và chƣa phát huy đƣợc tính hiệu quả, nên chƣa gây đƣợc hứng thú học
số bài giảng địa lí tự nhiên Việt Nam trong SGK địa lí 8 THCS.
Nghệ thuật công nghiệp, Toán, Âm nhạc, Tôn giáo, Khoa học tự nhiên,
2. Mục đích nghiên cứu
Khoa học xã hội, Giáo dục đặc biệt….
- Nghiên cứu lí luận chung về việc thiết kế và giảng dạy địa lí tự nhiên
Việt Nam.
Ở Ấn Độ tổ chức NCERT (National Council of Educasion Resarch
and Training) ở New Dehli đã thực hiện đề án CLASS (Computer
- Nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học theo hƣớng
Literacy and Studies in School). Đề án xem xét việc sử dụng máy tính trợ
tích cực nhằm nâng cao chất lƣợng giảng dạy và học tập môn địa lí tự nhiên
giúp việc dạy học trong lớp, đồng thời quan tâm đến vai trò của máy tính
Việt Nam trong chƣơng trình địa lí lớp 8 THCS tỉnh Cao Bằng.
nhƣ là một công cụ ƣu việt đánh dấu sự thay đổi có ý nghĩa về phƣơng
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
pháp luận dạy học.
- Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc ứng dụng công nghệ
công trình, đề tài nghiên cứu khoa học, các phần mềm nghiên cứu ứng dụng
giải quyết các vấn đề đặt ra trong tiết học. Nhật Bản khẳng định việc sử
dạy học có nội dung liên quan. Để việc thiết kế bài giảng đảm bảo tính khoa
dụng máy tính trong dạy học, đặc biệt ở phổ thông, đã có tác dụng kích thích
học và tính giáo dục, khi thu thập tài liệu cần chú ý nghiên cứu sách giáo
sự hứng thú học tập của học sinh. Hiện nay các nƣớc trong khu vực nhƣ:
khoa lớp 8 hiện hành làm tài liệu chuẩn cho nội dung thiết kế của bài học.
Singapo, Thái Lan việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy cũng
Ngoài ra còn thu thập các tài liệu về lí luận dạy học đại cƣơng, lí luận dạy
đã trở nên rất phổ biến.
học địa lí, tâm lí học sƣ phạm, tâm lí học lứa tuổi nhằm giúp cho việc thiết
Ở Việt Nam, việc ứng dụng CNTT vào dạy học ngày càng đƣợc quan
tâm, đã có văn bản chỉ đạo về vấn đề này nhƣ Nghị quyết 49/CP (4/8/1993)
kế bài giảng phát huy đƣợc tính tích cực của học sinh.
6.2 Phương pháp điều tra thực tế
về phát triển CNTT. Trong những năm gần đây, nƣớc ta đã có nhiều công
chỉnh: Xem xét cấu trúc hệ thống của chƣơng trình, hệ thống kiến thức
trong mỗi bài học.
6.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành thiết kế một số bài giảng địa lí tự nhiên Việt Nam lớp 8
THCS có ứng dụng CNTT và tiến hành thực nghiệm tại một số trƣờng trên
địa bàn tỉnh Cao Bằng.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phân tích những kết quả thực nghiệm, rút ra những ƣu, nhƣợc điểm từ
6.1. Phương Pháp thu thập tài liệu
Dựa vào mục đích và nhiệm vụ của đề tài, việc thu thập tài liệu đƣợc
tiến hành từ nhiều nguồn khác nhau nhƣ sách báo, tạp chí chuyên ngành, các
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6.3 Phương pháp phân tích hệ thống
4
http://www.Lrc-tnu.edu.vn
đó đề xuất kiến nghị giải pháp nhằm đem lại hiệu quả cao trong việc ứng
dụng CNTT trong giảng dạy địa lí tự nhiên Việt Nam lớp 8 THCS.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
lí nói riêng.
cực, tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức của mình để thực hiện tốt
- Đƣa ra đƣợc thực trạng của việc thiết kế bài giảng điện tử
trong chƣơng trình Địa lí tự nhiên Việt Nam ở một số trƣờng THCS
tỉnh Cao Bằng.
quá trình học. Nhƣ vậy quá trình dạy học là một hoạt động thống nhất hữu cơ
của hai hoạt động dạy và học.
Dạy là quá trình tổ chức nhận thức cho học sinh của ngƣời giáo viên,
- Thiết kế hoàn chỉnh một số bài giảng điện tử và có thể sử dụng ở
bản chất của dạy học là tạo ra các tình huống học tập, trong đó học sinh hoạt
trƣờng phổ thông.
động dƣới sự hƣớng dẫn của giáo viên nhằm đạt đƣợc chất lƣợng và hiệu quả
8. Cấu trúc của luận văn
dạy học.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
Học là một quá trình hoạt động tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh tri
đƣợc trình bày 3 chƣơng.
http://www.Lrc-tnu.edu.vn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
http://www.Lrc-tnu.edu.vn
của giáo viên nhằm mục đích nắm kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, hình thành thế
một hệ thống mệnh lệnh, chỉ dẫn, trợ giúp, đánh giá (bao gồm cả sự động
giới quan và phát triển nhân cách cũng nhƣ những năng lực riêng về trí tuệ.
viên).
Cách hiểu trên về cơ bản đã thể hiện đƣợc quan điểm mới về vai trò vị trí chủ
thể của học sinh trong quá trình dạy học.
Thể chế hoá, tức là xác nhận, định vị kiến thức mới trong hệ thống tri
thức đã có, đồng nhất hoá kiến thức riêng lẻ của học sinh thành tri thức khoa
Trong thực tế quá trình dạy học không phải là sự liên kết máy móc của
học xã hội, hƣớng dẫn học sinh vận dụng và ghi nhớ kiến thức. [30].
hai hoạt động dạy và học, mà nó là một quá trình tổng hợp mới hẳn về chất,
1.1.1.2. Phương pháp dạy học địa lí
pháp dạy học, chúng ta thƣờng gặp một số quan niệm về phƣơng pháp dạy
thiếu đƣợc. Với tƣ cách là ngƣời tổ chức, chỉ đạo, điều khiển quá trình học
học nhƣ sau:
tập của học sinh, ngƣời thầy cần phải đảm nhiệm và thực hiện tốt các chức
- Phƣơng pháp dạy học là cách thức hoạt động của ngƣời giáo viên để
truyền thụ kiến thức, rèn luyện kỹ năng và giáo dục học sinh theo mục tiêu
năng sau:
Thiết kế, tức là lập kế hoạch cho quá trình dạy học về cả mục đích, nội
của nhà trƣờng. Theo quan niệm này thì giáo viên là nhân vật trọng tâm giữ
dung, phƣơng pháp, phƣơng tiện và hình thức dạy học. Ngƣời giáo viên cần
vai trò chỉ đạo, còn học sinh thì thụ động thực hiện những điều thầy dạy,
phải xuất phát từ mục đích, nội dung của bài học để thiết kế những tình huống
ngƣời thầy cố gắng truyền đạt hết những kiến thức và kinh nghiệm của mình
thích hợp, để học sinh chiếm lĩnh tri thức thông qua hoạt động học tập tích
để hoàn thành bài giảng còn học sinh lắng nghe lời giảng của thầy, ghi chép
cực, tự giác, sáng tạo theo hƣớng độc lập hoặc hợp tác giao lƣu.
http://www.Lrc-tnu.edu.vn
- Phƣơng pháp dạy học là cách thức hƣớng dẫn và chỉ đạo của giáo viên
giảng, làm bài tập và ghi nhớ thông tin. Bản chất của dạy học tích cực nằm
nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và hoạt động thực hành của học sinh dẫn
trong khái niệm học nhƣ một quá trình tích cực và sáng tạo, thông qua đó
tới việc học sinh lĩnh hội vững chắc nội dung học vấn, hình thành thế giới
ngƣời học xây dựng mối liên hệ giữa thông tin mới và những kiến thức, kỹ
quan và phát triển năng lực nhận thức [2]. Có thể nói đây là quan niệm mới
năng đã có. Sự vận dụng phƣơng pháp dạy học tích cực phải dựa trên cơ sở
nhất về phƣơng pháp dạy học. Theo quan niệm này thì dạy học chính là quá
khai thác những mặt tích cực của các phƣơng pháp dạy học truyền thống đồng
trình tổ chức cho học sinh chiếm lĩnh tri thức, học sinh có vai trò chủ động
thời áp dụng rộng rãi các phƣơng pháp dạy học mới: Dạy và học phát hiện và
trong quá trình dạy học. Nói một cách khác các phƣơng pháp học tập, xuất
giải quyết vấn đề, dạy và học hợp tác trong nhóm nhỏ, dạy và học theo dự
Trong dạy học địa lí nhóm các phƣơng pháp dùng lời vẫn đƣợc đa số
đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dƣỡng phƣơng pháp tự học, rèn
giáo viên sử dụng từ xƣa đến nay. Nhóm này gồm các phƣơng pháp: Diễn
luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem
giảng, giảng thuật, giảng giải và đàm thoại.
lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.
Các phƣơng pháp dùng lời có một số ƣu điểm nhất định. Chúng có khả
Thực hiện dạy và học tích cực sẽ mang lại hiệu quả cao trong giáo dục.
năng cung cấp cho học sinh một lƣợng thông tin lớn trong một thời gian ngắn.
Nhiệm vụ chủ yếu của giáo viên là trở thành ngƣời thiết kế và thực hiện cho
Nếu nhƣ lời lẽ trình bày của giáo viên trong sáng, truyền cảm, nội dung khoa
việc học tích cực của học sinh trong bối cảnh cụ thể (nhu cầu giáo dục, điều
học, chính xác, có lôgic chặt chẽ thì bài giảng sẽ có sức hấp dẫn, làm cho học
kiện làm việc của giáo viên và điều kiện học tập của học sinh). Nhiệm vụ của
sinh tiếp thu tri thức một cách dễ dàng. Tuy nhiên, nhƣợc điểm chính của
- Nhóm các phƣơng pháp hƣớng dẫn học sinh tích cực, chủ động khai
khai thác kiến thức qua sự hƣớng dẫn của giáo viên, qua các bài viết trong
thác tri thức với các nguồn tri thức và phƣơng tiện thiết bị kỹ thuật dạy học
sách giáo khoa, qua các nguồn tri thức khác nhau: Bản đồ, biểu đồ, sơ đồ, các
địa lí:
số liệu thống kê, các phƣơng tiện nghe nhìn và các tranh ảnh địa lí, các tài liệu
Đây là nhóm phƣơng pháp có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành
thông tin khác. Trong quá trình khai thác tri thức, học sinh không những có
những khái niệm, biểu tƣợng địa lí cho học sinh. Đối với môn địa lí, việc sử
điều kiện thuận lợi để vận dụng các thao tác tƣ duy một cách tích cực, mà còn
dụng các phƣơng tiện trực quan trong dạy học là rất cần thiết vì học sinh chỉ
có điều kiện củng cố các tri thức cũ một cách sáng tạo vào những trƣờng hợp
có thể quan sát đƣợc một phần nhỏ các đối tƣợng, hiện tƣợng địa lí ở xung
thực tế cụ thể. Tuy nhiên để làm đƣợc điều đó, học sinh cần phải biết cách
quanh, còn phần lớn các đối tƣợng khác thì không có điều kiện quan sát trực
một phƣơng pháp, còn nếu chỉ sử dụng nhƣ một đồ dùng minh hoạ thì đó là
+ Khai thác tri thức qua quan sát ngoài thực địa.
biện pháp phục vụ cho phƣơng pháp dùng lời. Những phƣơng tiện trực quan
+ Khai thác tri thức từ những tranh ảnh địa lí.
thƣờng đƣợc sử dụng trong dạy học địa lí là:
+ Thảo luận.
+ Tranh ảnh giáo khoa địa lí, các tranh ảnh minh hoạ trong SGK.
+ Sử dụng sách giáo khoa địa lí.
+ Các mô hình, mẫu vật, các bộ sƣu tầm phục vụ cho chủ đề về địa lí.
+ Sử dụng các phƣơng tiện hiện đại.
+ Phim ảnh, phim đèn chiếu, băng video,...
+ Tìm tòi khám phá hay phƣơng pháp nghiên cứu.
+ Các loại bản đồ, sơ đồ, biểu đồ, hình vẽ,...
Hiện nay, nhóm phƣơng pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm đã
- Nhóm các phƣơng pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm:
1.1.1.3. Phương tiện thiết bị dạy học địa lí
“Phƣơng pháp giảng dạy địa lí kinh tế” thì thiết bị dạy học là những
* Khái niệm về phương tiện dạy học
phƣơng tiện trực quan, nó là một nhân tố ảnh hƣởng lớn đến sự tổ chức và
Có nhiều quan niệm khác nhau về các phƣơng tiện dạy học (nói chung)
kết quả của việc giảng dạy địa lí ở nhà trƣờng. Các thiết bị đó bao gồm:
và phƣơng tiện dạy học địa lí (nói riêng). Trong các tài liệu lý luận dạy học đã
Phòng địa lí, các bản đồ giáo khoa, quả cầu địa lí, các tranh treo tƣờng,
trình bày: Phƣơng tiện dạy học đồng nghĩa với các phƣơng tiện trực quan, đó
biểu đồ, đồ thị,...
là các vật thật, vật tƣơng trƣng và các vật tạo hình đƣợc sử dụng để dạy học.
Theo G.S Nguyễn Dƣợc và một số tác giả khác trong giáo trình “ Lý
Các vật thật giúp cho học sinh tiếp thu tri thức, gây hứng thú tìm tòi, học tập
luận dạy học địa lí” xuất bản năm 1993 cho rằng: Các thiết bị dạy học địa lí
chiếu, băng Video, vô tuyến truyền hình, máy chiếu ảnh, máy ghi âm, máy
Theo Nguyễn Ngọc Quang (Lý luận dạy học địa lí đại cƣơng tập
chiếu hình nổi, máy vi tính,...
1,1998): “Phƣơng tiện dạy học là mọi thiết bị kỹ thuật từ đơn giản đến phức
Ngày nay, các phƣơng tiện thiết bị dạy học địa lí đã đƣợc phát triển ở
tạp đƣợc dùng trong quá trình dạy học để làm dễ dàng cho sự truyền đạt và sự
mức độ cao nhất là có ứng dụng CNTT đã trở thành một hệ thống phức tạp
lĩnh hội kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo”. Với quan niệm này, các phƣơng tiện dạy
với nhiều loại khác nhau. Tuy vậy, các quan niệm trên có những điểm tƣơng
học đƣợc phân thành ba nhóm.
đồng để có thể đi đến một quan niệm chung là: Phƣơng tiện dạy học là một
+ Các phƣơng tiện phòng thí nghiệm.
tập hợp các loại vật chất, kỹ thuật, nhằm biểu hiện những sự vật hiện tƣợng và
+ Các phƣơng tiện nghe, nhìn: Phim đèn chiếu, Băng Video, máy tính
các quá trình xảy ra trong thực tiễn mà giáo viên và học sinh không thể tiếp
nhất. Theo Tô Xuân Giáp có một số cách phân loại sau:
Theo cách phân loại này, các phƣơng tiện dạy học truyền thống gồm
phần lớn các phƣơng tiện đã sử dụng từ trƣớc đến nay: Phòng địa lí, vƣờn địa
lí, quả cầu địa lí, biểu đồ, tranh ảnh, tủ sách địa lí, những dụng cụ rèn luyện
+ Phân loại theo tính chất của phƣơng tiện dạy học.
+ Phân loại theo cách sử dụng phƣơng tiện dạy học.
+ Phân loại theo mức độ chế tạo phức tạp hay không phức tạp của các
phƣơng tiện dạy học...
kỹ năng kỹ xảo.
Các phƣơng tiện và thiết bị kỹ thuật dạy học địa lí hiện đại gồm: Các
loại máy chiếu phim, đầu video, truyền hình, máy chiếu ảnh, máy ghi âm,
máy chiếu hình nổi... (hình 1.1).
Trong các cách phân loại trên thì việc phân loại theo cách sử dụng các
HỆ THỐNG CÁC PHƢƠNG TIỆN
DẠY HỌC ĐỊA LÍ
phƣơng tiện dạy học phù hợp với hệ thống phƣơng tiện dạy học đƣợc sử dụng
trong nhà trƣờng hiện nay. Theo cách phân loại này các phƣơng tiện dạy học
Các phƣơng tiện dạy học
truyền thống
đƣợc chia làm 2 nhóm:
Các phƣơng tiện nghe nhìn
các đối
tƣợng địa
lí bằng
hình ảnh
( các mô
hình,
tranh ảnh,
hình vẽ)
Các
phƣơng
tiện phản
ánh các
đối
tƣợng
bằng
ngôn
ngữ và
vật
tƣợng
trƣng
Các
phƣơng
tiện, dụng
cụ nghiên
cứu địa
lí( các
dụng cụ
quan trắc,
truyền
hình)
vụ dạy học.
Trên cơ sở phân loại các phƣơng tiện dạy học, do đặc trƣng của bộ
Hình 1.1 Hệ thống các phƣơng tiện dạy học địa lí
môn, các phƣơng tiện trực tiếp dạy học địa lí đƣợc phân thành 2 nhóm
* Vai trò, chức năng của các phương tiện thiết bị dạy học
phƣơng tiện cơ bản:
Theo quan điểm cấu trúc hệ thống thì phƣơng tiện dạy học là một nhân
- Nhóm các phƣơng tiện dạy học truyền thống.
tố trong quá trình dạy học, nó cùng với các nhân tố khác nhƣ: Mục đích,
- Nhóm các phƣơng tiện, thiết bị kỹ thuật dạy học địa lí hiện đại.
nhiệm vụ, nội dung dạy học, hoạt động của giáo viên - học sinh tạo thành một
thể hoàn chỉnh và có quan hệ biện chứng thúc đẩy quá trình dạy học đạt tới
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
http://www.Lrc-tnu.edu.vn
trở nên đáng tin cậy và nhớ đƣợc lâu hơn, đồng thời dùng phƣơng tiện dạy
lĩnh hội kiến thức và phải thuận tiện trong sử dụng. (hình 1.2)
học sẽ dễ dàng gây đƣợc sự chú ý và tạo hƣng phấn học tập cho học sinh.
+ Thông qua việc sử dụng các phƣơng tiện dạy học ngƣời thầy có thể
Mục tiêu, kế hoạch giáo dục
phổ thông
giúp học sinh đào sâu những tri thức đã lĩnh hội đƣợc và kích thích hứng thú
nhận thức, năng lực quan sát, phân tích, tổng hợp để rút ra những kết luận cần
Phƣơng pháp dạy học
Nội dung dạy học
thiết có độ tin cậy cao.
+ Phƣơng tiện dạy học giúp cho giáo viên có thêm điều kiện thuận lợi
để trình bày bài giảng một cách tinh giản, đầy đủ, sâu sắc... đồng thời điều
Phƣơng tiện, thiết bị kỹ thuật
dạy học
khiển hoạt động nhận thức của học sinh cũng nhƣ kiểm tra, đánh giá kết quả
học tập của học sinh thuận lợi, có hiệu quả hơn.
+ Theo quan điểm dạy học lấy học sinh làm trung tâm, phƣơng tiện dạy
Hình 1.2: Mối quan hệ giữa mục tiêu-phƣơng tiện-phƣơng pháp dạy học.
Phƣơng tiện dạy học có vai trò quan trọng trong quá trình dạy học, một
19
http://www.Lrc-tnu.edu.vn
+ Nhờ có phƣơng tiện thiết bị dạy học, ngƣời thầy giải phóng đƣợc một
khối lƣợng lớn các công việc dạy học. Có thể làm tốt hơn chức năng hƣớng
có quan niệm mới về thiết kế bài giảng và biết cách thiết kế bài giảng theo
hƣớng tổ chức các hoạt động nhận thức của học sinh.
dẫn của mình để định hƣớng cho học sinh tự mình lĩnh hội kiến thức, nâng
* Chuẩn bị cho việc lập kế hoạch dạy học
cao chất lƣợng học tập. Đối với dạy học địa lí, phƣơng tiện dạy học ảnh
Dạy học theo tinh thần tích cực chỉ có thể thực hiện tốt khi giáo viên có
hƣởng rất lớn đến chất lƣợng dạy và học. Ở các trƣờng phổ thông hiện nay thì
bản thiết kế kế hoạch bài học một cách khoa học, phù hợp với mục tiêu và
phƣơng tiện dạy học là tranh ảnh, bản đồ, sơ đồ, biểu đồ, lƣợc đồ, đèn chiếu
thực tiễn dạy học. Có thể coi kế hoạch bài dạy học là bản thiết kế các hoạt
băng hình, băng ghi âm, máy vi tính...
động của giáo viên và học sinh theo trình tự thời gian của một tiết học trên cơ
quả giờ dạy, hoàn thiện phong cách học tập của học sinh và phong cách giảng
- Chủ động lựa chọn các hoạt động phù hợp với mục tiêu, nội dung bài
dạy của giáo viên. Phƣơng tiện dạy học là một bộ phận trong hệ thống của
học, với phƣơng tiện dạy học đƣợc sử dụng trong bài và trình bày các hoạt
quá trình dạy học, tác động trực tiếp đến quá trình dạy - học. Sự thay đổi của
động một cách hệ thống, lôgic.
phƣơng tiện dạy học góp phần đổi mới phƣơng pháp dạy học có hiệu quả. Vì
vậy, khi lựa chọn phƣơng tiện dạy học phải phù hợp với yêu cầu của bài
giảng. Sự truyền đạt của thầy giáo và sự tiếp thu của học sinh phải đạt đƣợc
trong thời gian ngắn nhất. Để đạt đƣợc các mục tiêu trên việc ứng dụng công
nghệ thông tin và các phần mềm dạy học trong giảng dạy địa lí sẽ tạo điều
kiện thuận lợi cho việc dạy học theo hƣớng tích cực hoá hoạt động nhận thức
của học sinh.
Đây là một việc làm rất quan trọng và là công việc khởi đầu cho toàn
bộ quá trình đổi mới phƣơng pháp dạy học. Bởi vậy ngƣời giáo viên cần phải
20
từng hoạt động trong tiết học.
- Xác định đƣợc những phƣơng pháp dạy học chủ yếu sẽ đƣợc sử dụng
trong bài.
- Lƣờng trƣớc đƣợc những tình huống có thể xảy ra trong tiết học.
- Sử dụng tốt nhất thời gian của một giờ lên lớp.
đƣợc cảm xúc, tƣ tƣởng, tình cảm của ngƣời dạy và ngƣời học. Giáo án cũng
2) Chuẩn bị các thiết bị dạy học.
không thể trình bày hết những dự kiến, cũng nhƣ cách ứng xử của ngƣời dạy.
3) Xác định kiến thức, kỹ năng cơ bản và kiến thức trọng tâm của bài
Đây là điểm khác nhau giữa giáo án và thiết kế bài dạy học. Về mặt khái
học, mối quan hệ giữa các kiến thức.
niệm, giáo án là một bản kế hoạch cụ thể, còn thiết kế bài dạy là một hoạt
4) Tạo nhu cầu hứng thú nhận thức cho học sinh không chỉ thực hiện
động đa diện, phức tạp, tốn nhiều công sức, trí tuệ của ngƣời giáo viên. Tất cả
lúc vào bài mới mà cần phải duy trì trong suốt tiết học.
những chuẩn bị, dự kiến, hình dung hoạt động thiết kế không đƣợc trình bày
5) Xác định các hình thức tổ chức dạy học.
hết ở giáo án, giáo án thể hiện những sản phẩm cụ thể, rõ ràng của hoạt động
6) Xác định các phƣơng pháp dạy học.
thiết kế bài dạy học đƣợc thể hiện bằng vật chất trƣớc khi bài học đƣợc tiến
Việc thiết kế các hoạt động học tập cho học sinh đƣợc tiến hành đồng thời với
những điều mình chƣa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã
quá trình lập kế hoạch bài học và là một bộ phận của bản kế hoạch này. Việc
đƣợc giáo viên sắp đặt. Học sinh đƣợc đặt vào những tình huống của đời sống
thiết kế càng kỹ lƣỡng, khoa học thì kết quả của việc tổ chức các hoạt động
thực tế, đƣợc trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề
học tập cho học sinh trên lớp càng đạt đƣợc hiệu quả cao. Ngoài ra, nó còn
đặt ra theo cách suy nghĩ của bản thân. Từ đó, vừa nắm đƣợc kiến thức, kỹ
giúp cho giáo viên tự tin, uyển chuyển, sáng tạo hơn trong quá trình dạy học.
năng mới, vừa nắm đƣợc phƣơng pháp “làm ra” kiến thức, kỹ năng đó, không
* Soạn giáo án
theo những khuôn mẫu sẵn có, đƣợc bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo.
Sản phẩm của việc thiết kế bài dạy học bao gồm giáo án và toàn bộ
Dạy theo cách này, giáo viên không chỉ đơn giản là truyền đạt kiến thức mà
những suy nghĩ về quá trình dạy học sẽ diễn ra trong tiết học sắp tới. Giáo án
cho học sinh không chỉ là biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là
luận tập thể, ý kiến mỗi cá nhân đƣợc bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó
mục tiêu dạy học.
ngƣời học nâng mình lên ở một trình độ mới. Trong nhà trƣờng phổ thông
Trong xã hội hiện nay với sự bùng nổ thông tin, sự phát triển của khoa
phƣơng pháp học tập hợp tác đƣợc tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp hoặc trƣờng.
học kỹ thuật, công nghệ, thì học sinh không thể tiếp nhận khối lƣợng kiến
Đƣợc sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ từ
thức ngày càng khổng lồ ở trên lớp. Bởi vậy phải quan tâm dạy cho trẻ
4 – 6 học sinh. Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là những lúc
phƣơng pháp tự học ngay từ cấp tiểu học và càng ở cấp học cao hơn càng phải
phải giải quyết những vấn đề khó, gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối
đƣợc chú trọng.
hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung. Trong hoạt động theo
Trong các phƣơng pháp học thì quan trọng nhất là phƣơng pháp tự học.
- Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác
ngƣời giáo viên tiến hành kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh,
Trong một lớp học trình độ kiến thức và tƣ duy của học sinh không thể
đồng thời học sinh cũng phải biết tự kiểm tra đánh giá việc học tập của chính
đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng các phƣơng pháp tích cực buộc phải chấp
mình để nâng cao kiến thức, phát triển tƣ duy cũng nhƣ vận dụng thành thạo
nhận sự phân hoá về cƣờng độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi
các kỹ năng cơ bản của môn địa lí. Ngoài ra, giáo viên cần tạo điều kiện cho
bài học đƣợc thiết kế thành một chuỗi công tác độc lập. Áp dụng phƣơng pháp
học sinh kiểm tra, đánh giá lẫn nhau. Đối với học sinh, việc kiểm tra và biết
tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hoá này càng lớn, việc sử dụng các
cách kiểm tra lẫn nhau có tác dụng tích cực đối với việc tìm ra phƣơng pháp
phƣơng tiện công nghệ thông tin trong nhà trƣờng phổ thông sẽ đáp ứng yêu cầu
tự học có hiệu quả. Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng
cá thể hoá hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi học sinh.
quyết hợp lý các vấn đề nảy sinh.
những tình huống thực tế. Với sự trợ giúp của các thiết bị kỹ thuật, việc kiểm
Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề không chỉ giới hạn ở phạm trù
tra đánh giá sẽ không còn là một công việc khó khăn với giáo viên, mà còn
phƣơng pháp dạy học mà nó đòi hỏi cải tạo nội dung, đổi mới cách tổ chức
đem lại nhiều thông tin kịp thời hơn để linh hoạt điều chỉnh hoạt động dạy,
quá trình dạy học trong mối quan hệ thống nhất với phƣơng pháp dạy học.
chỉ đạo hoạt động học [30].
- Phương pháp đàm thoại (hỏi – đáp)
1.1.2.2. Các phương pháp dạy học tích cực ở trường phổ thông
Phƣơng pháp đàm thoại là phƣơng pháp dùng lời nhƣng dƣới hình thức
Để thực hiện tốt việc dạy và học tích cực thì cần phải có các phƣơng
trao đổi qua lại giữa thầy và trò. Thông thƣờng giáo viên là ngƣời chủ động
pháp tích cực. Trong đó, cần phát triển các phƣơng pháp thực hành, phƣơng
nêu ra câu hỏi và yêu cầu học sinh trả lời. Phƣơng pháp đàm thoại gồm ba
hỏi với mục đích vừa kích thích học sinh suy nghĩ, vừa gợi ý để học sinh trả
Nền kinh tế xã hội nƣớc ta hiện nay đang phát triển nhanh theo cơ chế
lời. Khi sử dụng phƣơng pháp đàm thoại nếu giáo viên muốn phát huy đƣợc
thị trƣờng thì việc phát hiện sớm và giải quyết hợp lý các vấn đề nảy sinh
trí lực, gợi mở cho học sinh làm sáng tỏ những vấn đề mới, giúp học sinh tự
trong thực tiễn là năng lực không thể thiếu để đảm bảo sự thành công trong
khám phá tri thức bằng tái hiện những kiến thức đã học hay từ những kinh
cuộc sống. Vì vậy, khi đào tạo thế hệ trẻ, ngay từ trong nhà trƣờng phổ thông
nghiệm đã tích luỹ đƣợc trong cuộc sống, thì giáo viên phải chuẩn bị những
cần trang bị cho các em kỹ năng phát hiện, đặt ra và giải quyết những vấn đề
câu hỏi nêu vấn đề đòi hỏi học sinh phải hoạt động trí óc để tìm ra lời giải
gặp phải trong học tập, trong cuộc sống cá nhân, trong gia đình và cộng đồng.
đáp. Khi chuẩn bị giáo viên cần nghiên cứu kỹ nội dung của bài, tìm ra những
Điều này không chỉ có ý nghĩa ở tầm phƣơng pháp dạy học mà phải đƣợc đặt
vấn đề đòi hỏi học sinh phải tích cực suy nghĩ, phải vận dụng các thao tác tƣ
chƣa bao giờ có điều kiện đến tận nơi để quan sát.
hợp tác giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ những băn khoăn, kinh
Về mặt kiến thức, bản đồ có khả năng phản ánh sự phân bố và những
nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng tri thức mới. Bằng cách nói ra suy
mối quan hệ của các đối tƣợng địa lí trên bề mặt Trái Đất một cách cụ thể mà
nghĩ của mình, mỗi ngƣời có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của bản thân về
không một phƣơng tiện nào khác có thể làm đƣợc. Những ký hiệu, màu sắc,
chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì. Bài học trở thành quá
cách biểu hiện trên bản đồ là những nội dung địa lí đã đƣợc mã hoá, trở thành
trình học hỏi lẫn nhau, chứ không phải là sự tiếp nhận thụ động từ giáo viên.
Thành công của bài học phụ thuộc vào sự nhiệt tình tham gia của mọi thành
viên. Vì vậy, đây còn đƣợc gọi là phƣơng pháp cùng tham gia, nó nhƣ một
phƣơng pháp trung gian giữa sự làm việc độc lập của mỗi học sinh với sự làm
việc chung của cả lớp.
một thứ ngôn ngữ đặc biệt – ngôn ngữ bản đồ. Về mặt phƣơng pháp, bản đồ
đƣợc coi là phƣơng tiện trực quan, giúp học sinh khai thác, củng cố tri thức và
phát triển tƣ duy trong quá trình giảng dạy và học tập địa lí.
Để khai thác đƣợc tri thức trên bản đồ học sinh cần phải hiểu bản đồ,
đọc đƣợc bản đồ, nghĩa là phải nắm đƣợc những kiến thức lý thuyết về bản
giữa học sinh và giáo viên, giữa học sinh và học sinh. Thảo luận ở trên lớp có
chƣơng trình hành động cụ thể...
tác dụng rất tốt đối việc phát huy tính tích cực của học sinh. Đồng thời, thông
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
28
http://www.Lrc-tnu.edu.vn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
29
http://www.Lrc-tnu.edu.vn
qua quá trình thảo luận, dƣới sự hƣớng dẫn của giáo viên cũng tạo ra mối
đạo đức… Chính vì vậy, giáo viên cần lựa chọn nội dung, phƣơng pháp, phƣơng
quan hệ hai chiều giữa giáo viên và học sinh, giữa học sinh và học sinh giúp
tiện dạy học phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi học sinh THCS.
cho giáo viên nắm đƣợc hiệu quả giáo dục về mặt nhận thức cũng nhƣ quan
1.1.3.1. Đặc điểm học tập của học sinh THCS
đúng đắn thì tài liệu học tập phải có nội dung khoa học, xúc tích và phải gắn
địa lí, vì các đối tƣợng nghiên cứu của địa lí học là các thể tổng hợp tự nhiên
với cuộc sống thực tiễn.
hoặc kinh tế xã hội theo lãnh thổ. Để cho học sinh hiểu đƣợc các thành phần
Đối với học sinh THCS, chú ý có chủ định đƣợc hình thành dần, mặt
và mối quan hệ của các thành phần trong các thể tổng hợp đó thì giáo viên
khác chú ý dễ bị phân tán và không bền vững. Để thu hút sự chú ý của học
phải hƣớng dẫn các em nghiên cứu trên một lãnh thổ cụ thể, đó thƣờng là địa
sinh lứa tuổi này cần tổ chức các hoạt động học tập hợp lý, nội dung học tập
phƣơng nơi các em đang sinh sống và học tập. Giáo viên đƣa ra các vấn đề
đòi hỏi phải giúp học sinh hoạt động nhận thức thôi thúc tìm tòi. Đối với môn
cần khảo sát, đồng thời là ngƣời tổ chức, hƣớng dẫn, gợi ý để học sinh thực
địa lí, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong thiết kế bài học sẽ góp phần
hiện. Ngoài ra, có thể tham khảo và vận dụng một số phƣơng pháp bổ trợ nhƣ:
thu hút sự chú ý và phát triển động cơ học tập của các em. Tuy nhiên, việc lựa
thiếu sự chỉ đạo của giáo viên để hƣớng dẫn các em vào một nhiệm vụ quan
dung cơ bản và sự khác biệt trong mọi mặt phát triển: Thể chất, trí tuệ, tình cảm,
sát cụ thể. Việc ghi nhớ máy móc ngày càng nhƣờng chỗ cho ghi nhớ có ý
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
30
http://www.Lrc-tnu.edu.vn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
31
http://www.Lrc-tnu.edu.vn
nghĩa, dựa trên sự phân loại, hệ thống hoá. Tốc độ ghi nhớ và khối lƣợng tài
trong đời sống xã hội. CNTT đã và đang ảnh hƣởng ngày càng sâu sắc đến
liệu ghi nhớ tăng lên, lúc này dạy học cần tránh việc buộc học sinh phải công
giáo dục và đào tạo, nhất là trong việc đổi mới phƣơng pháp giảng dạy, công
nhận, ghi nhớ máy móc. Việc áp dụng các phƣơng tiện hiện đại vào dạy học
đối tƣợng một cách hình thức. Nhờ sự phát triển mạnh mẽ của các phƣơng
nói chung và thu phát thông tin trong dạy học nói riêng có những đặc điểm
tiện thông tin đại chúng mà học sinh THCS ngày nay có nhận thức phát triển hơn
khá giống nhau, thông tin càng có sự bất ngờ lớn thì càng có giá trị và ngƣời
những năm 70 – 80 của thế kỷ trƣớc. Do đó, việc dạy học nếu chỉ sử dụng các
học càng cảm thấy hứng thú. Ngƣời học lúc này nhƣ một máy thu với nhiều
phƣơng tiện truyền thống sẽ làm cho nội dung dạy học kém hấp dẫn, ít gây đƣợc
ăngten thu nhận thông tin ở nhiều kênh khác nhau, thông qua các giác quan
hứng thú học tập và hạn chế khả năng phát triển tƣ duy của học sinh.
nhƣ: Thính giác, thị giác, khứu giác,... từ đó ngƣời học sẽ tự điều chỉnh mình
Ở lứa tuổi này, do đặc điểm phát triển tâm sinh lý hầu hết các em có
nhu cầu hiểu biết, độc lập suy nghĩ trong học tập, nhu cầu nâng cao nhận thức
nên đòi hỏi phải có những cải tiến trong hoạt động học tập trong nhà trƣờng
cho phù hợp với nhu cầu phát triển trí tuệ và nhân cách của học sinh. Việc
ứng dụng CNTT vào dạy học địa lí nói chung và địa lí tự nhiên Việt Nam nói
riêng sẽ giúp các em độc lập chiếm lĩnh khối lƣợng kiến thức phong phú, trực
quan, kích thích sự phát triển nhận thức của trẻ và hình thành thế giới quan về
tự nhiên và xã hội [10].
nhớ ngoài. Vì vậy, muốn truyền lƣợng thông tin lớn giáo viên phải biết lựa
33
http://www.Lrc-tnu.edu.vn
Đổi mới phƣơng pháp giảng dạy có ứng dụng công nghệ thông tin là
thông tin vào dạy học nhằm đạt đƣợc mục tiêu dạy học đào tạo ra những con
phƣơng pháp làm tăng giá trị lƣợng thông tin, trao đổi thông tin nhanh hơn,
ngƣời thích ứng với nhu cầu hiện tại của xã hội. Để dạy học địa lí có hiệu quả
nhiều hơn và hiệu quả hơn. Do đó, việc đƣa máy tính và các ứng dụng tin học
ngƣời giáo viên nên có sự chuẩn bị cho quá trình dạy học, bao gồm:
khác vào giảng dạy là rất cần thiết để hiện đại hoá nền giáo dục nƣớc nhà, đáp
Phần truyền thống
ứng đƣợc những yêu cầu, mục tiêu và nhiệm vụ mà ngành giáo dục đề ra. Đối
1. Bài giảng, SGK và tài liệu tham khảo.
với bộ môn địa lí trong nhà trƣờng phổ thông, việc ứng dụng công nghệ thông
2. Bài tập tại lớp, bài tập về nhà.
tin vào dạy học tạo điều kiện thuận lợi cho việc dạy và học. [16] [17]
http://www.Lrc-tnu.edu.vn
4. Phim chiếu để giảng với máy chiếu Overhead.
5. Máy vi tính, phần mềm có nội dung dạy học (nếu sử dụng máy vi
tính trong giảng dạy)
6. Phần mềm giúp học sinh tự học tại nhà.
7. Công nghệ kiểm tra đánh giá bằng trắc nghiệm trên máy vi tính.
8. Quan hệ trao đổi giữa thầy và trò: qua mạng Internet.
9. Sử dụng nối mạng Internet để trao đổi và tìm kiếm thông tin.
Trong mỗi bài học không nhất thiết phải chuẩn bị tất cả các mục nói
trên song có thể kết hợp nhiều mục trong một bài. Mỗi mục đều cần có sự
chuẩn bị công phu và để làm tốt, có chất lƣợng thì thầy giáo phải mất nhiều
thời gian và công sức [7] [17].
1.2.1.3. Hiệu quả giáo dục của việc ứng dụng CNTT trong dạy học
Hiện nay, máy vi tính đƣợc sử dụng trong hầu hết các lĩnh vực của đời
sống xã hội, trong đó có giáo dục. Máy vi tính có vai trò đặc biệt trong dạy
học địa lí do tính đặc thù của bộ môn, đó là phƣơng tiện giúp cho giáo viên và
học sinh khai thác nguồn tri thức địa lí, làm phong phú thêm nội dung bài học.
Có thể coi máy vi tính nhƣ những phƣơng tiện dạy học hiện đại bởi những
khả năng thực tiễn sau:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
35
http://www.Lrc-tnu.edu.vn
+ Máy tính có khả năng cung cấp thông tin dƣới dạng ký hiệu (chỉ số,
giúp thống kê các số liệu, biểu thị các đồ thị hay các chuỗi số liệu thống kê.
Tạo ngân hàng dữ liệu về thông tin địa lí, hệ thống các bản đồ, các bài tập
thực hành, xây dựng giáo án điện tử...
+ Nối mạng vi tính: Việc nối mạng vi tính cho phép các máy tính cá
nhân trao đổi những dữ kiện khai thác từ các phần mềm một cách dễ dàng,
nhanh chóng. Internet là một công cụ hữu ích đối với nhiều hoạt động khác
nhau của dạy học địa lí, Internet tạo điều kiện cho giáo viên chuẩn bị bài
giảng và cho học sinh chuẩn bị bài học, làm bài tập ở nhà và chuẩn bị các báo
cáo học tập, Internet có thể trở thành một công cụ dạy học địa lí hữu hiệu khi
là ƣu thế của loại phƣơng tiện này. Nhờ đó tạo điều kiện thuận lợi để giáo
giáo viên tổ chức cho việc học tập địa lí theo quan điểm thầy thiết kế - trò thi
viên mở rộng kiến thức, cập nhật thông tin, làm cho nội dung bài giảng phong
công và áp dụng phƣơng pháp dự án trong dạy học địa lí. Có thể nói việc sử
phú, sâu sắc hơn.
dụng Internet một cách có hiệu quả trong dạy học địa lí sẽ góp phần đáng kể
+ Các phần mềm trình diễn trên máy tính cho phép giáo viên thiết kế
toàn bộ nội dung bài giảng trên máy với kênh chữ, kênh hình, âm thanh...
vào việc đổi mới phƣơng pháp dạy học địa lí theo định hƣớng tăng cƣờng
hoạt động tích cực, độc lập của học sinh [13].
ngoài ra có thể thiết kế các mô hình, các hình ảnh động trong môn địa lí nhƣ:
37
http://www.Lrc-tnu.edu.vn
1.2.2. Chƣơng trình và nội dung môn địa lí lớp 8 THCS
1.2.2.1. Cấu trúc và nội dung của chương trình địa lí THCS
Hệ thống kiến thức địa lí ở THCS liên quan đến ba nội dung cơ bản của
Những kiến thức về địa lí tự nhiên Việt Nam ở lớp 8, một mặt là cơ
sở giúp cho học sinh tiếp thu tốt chƣơng trình địa lí kinh tế - xã hội Việt
Nam ở lớp 9, mặt khác giúp các em có những hiểu biết nhất định về tự
nhiên Việt Nam.
khoa học địa lí đó là:
Chƣơng trình địa lí tự nhiên Việt Nam ở lớp 8 tập trung vào phần khái
- Lớp 6: Những kiến thức về địa lí đại cƣơng.
- Lớp 7, 8: Những kiến thức về địa lí các châu lục.
quát địa lí tự nhiên, nhằm cung cấp cho học sinh những hiểu biết tƣơng đối
- Lớp 8,9: Những kiến thức về địa lí Việt Nam.
vững chắc về:
Những kiến thức trong chƣơng trình địa lí THCS đƣợc sắp xếp theo thứ
tự các kiến thức địa lí đại cƣơng, địa lí các châu lục, địa lí Việt Nam đƣợc xếp
chung nhất về Trái Đất, về các châu lục và thế giới, về địa lí tự nhiên và kinh
giúp cho học sinh nắm đƣợc đặc điểm địa lí tự nhiên và nguồn tài nguyên
tế xã hội Việt Nam.
1.2.2.2. Cấu trúc và nội dung của chương trình địa lí lớp 8 THCS
Chƣơng trình địa lí lớp 8 gồm 2 phần:
Phần I: Thiên nhiên, con ngƣời ở các châu lục (tiếp theo chƣơng
trình lớp 7) gồm 25 tiết, trong đó Châu Á: 18 tiết (15 tiết lý thuyết + 3 tiết
thực hành). Tổng kết địa lí tự nhiên và địa lí các châu lục: 3 tiết; ôn tập,
kiểm tra 4 tiết.
Phần II: Địa lí Việt Nam: 27 tiết bao gồm: Bài giới thiệu (1 tiết), Địa lí
tự nhiên: 22 tiết (17 tiết lý thuyết + 5 tiết thực hành); ôn tập kiểm tra: 4 tiết.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
+ Thực hành: 5 tiết, chiếm 23% tổng số tiết
Phần địa lí tự nhiên Việt Nam lớp 8 THCS gồm 22 tiết, đây là phần
38
http://www.Lrc-tnu.edu.vn
thiên nhiên của nƣớc ta. Thông qua đó học sinh sẽ hiểu đƣợc tính đa dạng của
tự nhiên, các mối quan hệ tƣơng tác giữa các thành phần tự nhiên với nhau,
vai trò của điều kiện tự nhiên đối với sự phát triển kinh tế xã hội và các tác
động của con ngƣời với môi trƣờng xung quanh. Đồng thời rèn luyện cho học
sinh các kỹ năng địa lí nhƣ:
+ Đọc, sử dụng bản đồ địa lí.
+ Đọc, phân tích, nhận xét các biểu đồ địa lí.
và giải thích các hiện tƣợng các vấn đề tự nhiên – kinh tế xã hội xảy ra ở nƣớc
Trong học tập, rèn luyện các mặt chƣa thể hiện sự phấn đấu rõ ràng. Về tƣ
ta và trên thế giới. Giáo viên cũng cần hình thành ở học sinh tình yêu thiên
duy, các em thiên về tƣ duy cụ thể, máy móc, hạn chế về tƣ duy trừu tƣợng,
nhiên, yêu quê hƣơng, đất nƣớc, yêu mến ngƣời lao động và các thành quả
khái quát, lƣời suy nghĩ, gặp tình huống khó hay bài tập khó thƣờng không tự
của lao động sáng tạo. Có ý thức tham gia các hoạt động bảo vệ môi trƣờng,
tìm cách giải quyết, mà hay trông chờ sự giúp đỡ của bạn bè hay giáo viên.
xây dựng nếp sống văn minh của gia đình, cộng đồng và xã hội [29].
Do vậy kết quả học tập các môn khoa học tự nhiên thƣờng không cao, các em
Với mục đích và nội dung nhƣ vậy, việc giảng dạy địa lí tự nhiên Việt
thƣờng thích học các môn khoa học xã hội nhƣng cũng không hiểu sâu bản
Nam lớp 8 THCS đòi hỏi ngƣời giáo viên phải có những phƣơng pháp có hiệu
chất kiến thức mà chỉ là học vẹt. Đối với môn Địa lí, đặc biệt là kiến thức về
quả trong việc phát triển tƣ duy, kích thích học sinh suy nghĩ tìm tòi, liên hệ
1.2.3. Tình hình dạy học địa lí lớp 8 ở trƣờng THCS tỉnh Cao Bằng
viên độc thoại là chính. Vì thế không khí lớp học thƣờng không sôi nổi, học
1.2.3.1. Đặc điểm đặc trưng của học sinh tỉnh Cao Bằng
sinh thụ động trong việc học. Hiện nay, dù đã thực hiện đổi mới sách giáo
Cao Bằng là một tỉnh miền núi, kinh tế - xã hội còn kém phát triển, là
khoa và phƣơng pháp dạy học, nhƣng vẫn còn hiện tƣợng giáo viên chỉ phát
một trong số các tỉnh nghèo nhất nƣớc. Đại bộ phận dân cƣ là đồng bào dân
vấn những câu hỏi mà phần kiến thức có sẵn trong sách giáo khoa và học sinh
tộc thiểu số, trình độ dân trí chƣa cao, đời sống còn gặp nhiều khó khăn, hoạt
chỉ việc đọc ra để trả lời, không cần động não suy nghĩ. Những kiến thức phát
động kinh tế chủ yếu là nông, lâm nghiệp, giao thông không thuận lợi. Do
triển và mở rộng mà giáo viên cung cấp hầu nhƣ học sinh không kịp nắm bắt
vậy, điều kiện giao lƣu, tiếp thu khoa học kỹ thuật còn hạn chế. Những đặc
và không biết cách tự củng cố thêm kiến thức. Nên khi làm bài kiểm tra, phần
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
sinh không biết vận dụng kiến thức đã học ở phần trƣớc vào làm bài tập,
hiện kiến thức, lặp lại các kỹ năng đã học mà chƣa khuyến khích trí thông
không phát huy đƣợc tính kế thừa, cách trình bày bài kiểm tra thƣờng là trình
minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế nên kết quả
bày theo vở ghi, do vậy kết quả học tập nhìn chung còn thấp so với các tỉnh
học tập của học sinh chƣa cao.
đồng bằng và có sự chênh lệch giữa các vùng miền trong tỉnh.
Trong những năm gần đây, đội ngũ giáo viên dạy môn địa lí ở bậc
Qua thực tế giảng dạy và điều tra cho thấy đa số học sinh trung học cơ
trung học cơ sở của tỉnh Cao Bằng đa số đều đƣợc đào tạo đúng chuyên
sở trong tỉnh chƣa có thói quen tƣ duy phức tạp, đặc biệt là các thao tác nhƣ
ngành sƣ phạm Địa lí tại trƣờng Đại học sƣ phạm Thái Nguyên và chủ yếu là
phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát. Tuy vậy, vẫn có một số em đạt học
ở trƣờng Cao đẳng sƣ phạm của tỉnh: Chuyên ngành Văn – Địa. Mặc dù đa số
sinh khá, giỏi. Qua các đợt thi học sinh giỏi môn địa lí cấp huyện, tỉnh một số
phƣơng tiện đó để tiếp thu kiến thức tốt hơn, mà trong đó ứng dụng CNTT là
chƣa thực sự vững vàng, kỹ năng sƣ phạm còn hạn chế.
một trong những giải pháp đem lại hiệu quả.
1.2.3.2. Thực trạng của việc ứng dụng CNTT trong dạy học địa lí và địa lí
Trƣớc đây, việc dạy và học địa lí ở các trƣờng THCS tỉnh Cao Bằng
tự nhiên Việt Nam ở tỉnh Cao Bằng
chủ yếu là theo phƣơng pháp truyền thống. Thầy giáo giữ vai trò trung tâm
Để tìm hiểu thực trạng giảng dạy địa lí ở các trƣờng THCS và việc ứng
trong suốt tiết học còn học sinh chỉ thụ động ngồi nghe và ghi chép. Quan
dụng CNTT trong thiết kế bài giảng địa lí tự nhiên Việt Nam trong SGK địa lí
niệm của trò, thậm chí của cả một số giáo viên cho rằng “Địa lí là môn học
8, chúng tôi đã tiến hành điều tra tìm hiểu thực tế tại một số trƣờng THCS
phụ” nên sự đầu tƣ cho việc dạy của thầy và học của trò chƣa thực sự đƣợc
trong địa bàn tỉnh Cao Bằng: Trƣờng THCS nội trú, THPT Canh Tân (huyện
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
- Về phía giáo viên:
Nội dung điều tra bao gồm :
Đội ngũ giáo viên dạy môn địa lí hiện nay ở bậc trung học cơ sở trong
- Tình hình dạy học địa lí lớp 8 THCS tỉnh Cao Bằng.
tỉnh hầu hết đƣợc đào tạo đúng chuyên ngành (chỉ còn một số ít giáo viên là
- Các phƣơng pháp dạy học đang đƣợc sử dụng và cách thức tiến hành
không đƣợc đào tạo đúng chuyên môn Địa lí, nhƣng do thiếu giáo viên nên
thiết kế bài giảng của giáo viên địa lí ở các trƣờng THCS.
vẫn đƣợc phân công giảng dạy). Hầu hết giáo viên đã đƣợc tập huấn, bồi
- Mức độ đổi mới phƣơng pháp dạy học và thiết kế bài giảng của
dƣỡng về chƣơng trình sách giáo khoa mới và đổi mới phƣơng pháp dạy học
theo hƣớng tích cực. Nhiều giáo viên có năng lực sƣ phạm tốt, nhiều năm liền
giáo viên.
- Cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy học và thiết kế bài giảng có ứng
dụng công nghệ thông tin.
là giáo viên dạy giỏi. Tuy nhiên phần lớn lực lƣợng này ở các trƣờng thị xã,
thị trấn, còn ở vùng sâu, vùng xa, điều kiện khó khăn, thì đội ngũ giáo viên có
đƣợc tính sáng tạo của học sinh. Những hạn chế trên, ngoài nguyên nhân chủ
- Về phía học sinh: Đa số học sinh, kể cả học sinh các trƣờng trung tâm
quan là giáo viên chƣa tích cực trau dồi kiến thức, tự học, tự bồi dƣỡng, còn
thị xã cũng nhƣ các trƣờng vùng 3 (vùng khó khăn) trong các giờ học địa lí
có nguyên nhân khách quan dễ thấy ở tỉnh miền núi nhƣ Cao Bằng đó là:
đều chƣa tích cực phát biểu ý kiến xây dựng bài mà chủ yếu chỉ ngồi ghi chép
Trƣờng học phân tán theo địa bàn dân cƣ nên số lớp của một trƣờng không
(trên 90%). Việc tự học ở nhà, làm bài tập bản đồ còn ít (khoảng 50%). Việc
nhiều, đa phần là dƣới 10 lớp, nhiều trƣờng chỉ có mỗi khối 1 lớp (tổng số 4
tìm tài liệu tham khảo để bổ sung kiến thức hầu nhƣ không có vì đa phần các
lớp). Số giáo viên dạy địa lí ở một trƣờng THCS thƣờng rất ít, chỉ có từ 1 đến
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
44
http://www.Lrc-tnu.edu.vn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
- Quan niệm của nhiều học sinh về chức năng vị trí của môn địa lí trong
cạnh đó cần có những lớp tập huấn cho giáo viên để nâng cao trình độ tin học,
nhà trƣờng phổ thông là “môn học phụ”, dẫn đến học sinh chƣa tích cực chủ
kĩ năng khai thác thông tin để phục vụ cho việc giảng dạy.
Việc dạy học địa lí nói chung và địa lí tự nhiên Việt Nam lớp 8 nói
riêng phần lớn vẫn theo kiểu truyền thống (trên 80%) chủ yếu là thuyết trình,
giảng giải, đàm thoại. Nhìn chung các giáo viên thiết kế bài giảng dựa theo
cấu trúc, nội dung trình bày sẵn trong SGK. Giáo viên chỉ chú ý tới việc dễ
truyền đạt hết kiến thức trong SGK với các phƣơng pháp đã định sẵn, ít có các
tình huống sƣ phạm và cách sử lý các tình huống đó. Bởi vậy, việc dạy học
chủ yếu nặng về truyền thụ kiến thức, việc tổ chức cho học sinh tự khai thác,
lĩnh hội tri thức còn ít đƣợc chú trọng. Đã có một số giáo viên thiết kế bài
giảng theo phƣơng pháp dạy học tích cực, trong đó có ứng dụng CNTT vào
thiết kế bài giảng và giảng dạy, song mới dừng lại ở các cuộc thi giáo viên
dạy giỏi (cấp trƣờng, huyện, tỉnh), hoặc ở những trƣờng có trang bị khá đầy
đủ về cơ sở vật chất (khoảng 30% số trƣờng THCS), với những giáo viên có
điều kiện (có máy tính) và hiểu biết ít nhiều về tin học, nhƣng số này rất ít.
Hiện nay, một số trƣờng có phòng máy thì chủ yếu dành cho việc dạy tin học
và dạy nghề phổ thông, còn phòng học cho các môn khác vẫn là phòng học
bình thƣờng chỉ có thêm một máy tính cho giáo viên và một máy chiếu
động trong học tập, giáo viên chƣa mạnh dạn đổi mới phƣơng pháp dạy học
theo hƣớng tích cực.
- Điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật cho việc đổi mới phƣơng pháp dạy
học, nhất là ứng dụng CNTT vào dạy học còn thiếu ở hầu hết các trƣờng.
Thực tế hiện nay ở các trƣờng THCS của tỉnh đã đƣợc cung cấp đầy đủ các
nghĩa vì nó tăng tính trực quan, giúp cho giáo viên không phải mang nhiều
thậm chí không ít giáo viên chƣa bao giờ sử dụng máy tính. Trình độ tin học
bản đồ, bảng biểu và không tốn thời gian trình bày, giáo viên không phải mất
của giáo viên còn hạn chế, việc đầu tƣ cơ sở vật chất kỹ thuật thiếu đồng bộ
nhiều sức mô tả các hiện tƣợng địa lý nên có thêm thời gian tổ chức các hoạt
và không đều giữa các trƣờng. Các phần mềm dạy học phù hợp với nội dung
động học tập cho học sinh.
và chƣơng trình có rất ít, nên việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy địa lí nói
- Học sinh rất hứng thú khi đƣợc học môn địa lí có ứng dụng CNTT vì
chung và địa lí tự nhiên THCS nói riêng ở tỉnh Cao Bằng còn rất hạn chế.
mới lạ, trực quan, có các Video minh hoạ nên giờ học thƣờng sôi nổi hơn, học
Mặc dù trong năm học này sở GD – ĐT Cao Bằng đã có nhiều nỗ lực để đƣa
sinh dễ tiếp thu và dễ nhớ nội dung bài học hơn vì có điều kiện quan sát các
CNTT vào dạy học nhƣ: Đầu tƣ trang thiết bị, khuyến khích giáo viên tham
sự vật, hiện tƣợng qua các Video, hình ảnh, hình vẽ. Các em mong muốn
Việc đổi mới thiết kế bài giảng địa lí nói chung và thiết kế bài giảng có sử
minh họa thay thế cho việc viết bảng chƣa chú ý đến cách thức tổ chức các
dụng CNTT nói riêng là việc làm hết sức cần thiết. Tuy nhiên, tuỳ theo điều
hoạt động cho học sinh. Đội ngũ giáo viên địa lí chƣa thƣờng xuyên đƣợc tiếp
kiện cụ thể của từng trƣờng mà tiến hành cho phù hợp. Cần tạo mọi điều kiện
thu những đổi mới về phƣơng pháp dạy học, giáo viên địa lí THCS tỉnh Cao
để giáo viên đƣợc tiếp cận với các phƣơng pháp dạy học tích cực, các phƣơng
Bằng chƣa đƣợc tham dự lớp học nào về CNTT. Vì thế, đa phần các giáo viên
tiện dạy học hiện đại. Cần nỗ lực tác động trên một số yếu tố của quá trình
khi đƣợc trao đổi đều cho rằng không có điều kiện hoặc chƣa biết thiết kế bài
dạy học cũng nhƣ thiết kế bài giảng: Nâng cao năng lực chuyên môn cho đội
giảng có ứng dụng CNTT, do không có máy vi tính, không biết sử dụng máy
ngũ giáo viên cũng nhƣ trình độ nhận thức, kỹ năng học tập bộ môn của học
tính, không nắm đƣợc quy trình thiết kế bài giảng có ứng dụng CNTT.
sinh. Cần thay thế các phƣơng pháp dạy học truyền thống bằng các phƣơng