BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ
CHỮ VIẾT TẮT
Cao đẳng
Chủ nghĩa xã hội
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Đại học
Kinh tế thị trường
Nhà xuất bản
Toàn cầu hóa
Tư bản chủ nghĩa
CĐ
CNXH
CNH, HĐH
ĐH
KTTT
NXB
TCH
TBCN
Thành phố Hồ Chí Minh
Xã hội chủ nghĩa
Ý thức chính trị
TP.HCM
XHCN
YTCT
10
Chí Minh hiện nay trước tác động của toàn cầu hóa và
Chương
nguyên nhân của thực trạng đó
MỤC TIÊU, YÊU CẦU VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
2
CƠ BẢN XÂY DỰNG Ý THỨC CHÍNH TRỊ CỦA
36
SINH VIÊN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỚC
2.1.
TÁC ĐỘNG CỦA TOÀN CẦU HÓA HIỆN NAY
Mục tiêu, yêu cầu xây dựng ý thức chính trị của sinh
49
viên Thành phố Hồ Chí Minh trước tác động của toàn
2.2.
cầu hóa hiện nay
Một số giải pháp cơ bản xây dựng ý thức chính trị của
49
cuộc sống, thích tìm tòi và dễ thích nghi với cái mới. Song, do nhận thức chính
trị - xã hội còn hạn chế, sự trải nghiệm và vốn sống chưa nhiều nên YTCT của
họ cũng dễ bị ảnh hưởng bởi những tác động tiêu cực từ nhiều phía.
Là xu thế khách quan trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại,
TCH chính là quá trình nhất thể hóa nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc
biệt là kinh tế, khoa học và công nghệ. Cơn lốc của TCH làm gia tăng phân
công lao động quốc tế, KTTT phát triển sâu rộng trên phạm vi toàn thế giới,
khoa học và công nghệ phát triển nhanh, mạnh tác động tới tính chất và trình
độ của lực lượng sản xuất theo hướng hiện đại hóa, xã hội hóa và quốc tế hóa.
Bên cạnh mặt tích cực, quá trình TCH cũng bộc lộ không ít mặt trái, mâu
thuẫn với bản chất của CNXH, tác động tiêu cực đến nhiều lĩnh vực khác
nhau của đời sống, trong đó có YTCT của sinh viên TP.HCM.
4
Thực tế cho thấy, trước tác động của TCH, bên cạnh đại bộ phận sinh
viên TP.HCM say mê trong học tập, có nhận thức chính trị khá tốt, có bản lĩnh
chính trị vững vàng, có mục tiêu, lý tưởng cao đẹp, lối sống trong sạch, lành
mạnh, chấp hành nghiêm pháp luật và chịu khó trau dồi, rèn luyện để trở thành
những chủ nhân tương lai của đất nước, vẫn còn một bộ phận không nhỏ sinh
viên nhận thức chính trị kém, thái độ chính trị không đúng đắn, ý chí cách mạng
không kiên định, thiếu lý tưởng, thiếu niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào
tương lai của đất nước, từ đó đã có những biểu hiện tiêu cực, vi phạm pháp luật,
có hành vi chống đối, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc. Chính vì vậy, tác giả
chọn “xây dựng ý thức chính trị của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh trước
tác động của toàn cầu hóa hiện nay” để nghiên cứu với mong muốn góp phần
làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn về YTCT của sinh viên TP.HCM trước
tác động của TCH, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp cơ bản để xây dựng
YTCT của sinh viên TP.HCM trong bối cảnh TCH hiện nay.
tìm hiểu phong trào chống mặt trái của TCH, tập thể các tác giả do TS.
Nguyễn Thị Quế, PGS, TS. Nguyễn Hoàng Giáp và ThS. Mai Hoài Anh đã
bắt tay nghiên cứu. Công trình này đã khái quát về xu thế TCH; phân tích
những nhân tố chủ yếu dẫn tới sự ra đời của phong trào chống TCH; mục tiêu,
tính chất, nội dung, các hình thức đấu tranh chủ yếu chống mặt trái TCH;
những kết quả và xu hướng của phong trào chống mặt trái của TCH; những
vấn đề đặt ra với Việt Nam trước xu thế TCH và một số khuyến nghị.
- Nhóm các đề tài về ý thức chính trị:
Phát triển ý thức chính trị xã hội chủ nghĩa trong xã hội và quân đội
thời kỳ đổi mới của PGS, TS Lê Văn Quang, Nxb Quân đội nhân dân 2001.
Đã trình bày những vấn đề bản chất của quá trình phát triển biện chứng của
YTCT XHCN trong xã hội và quân đội, đồng thời đề xuất về mặt phương
pháp luận để tăng chiều sâu và tính phong phú, đa dạng trong phát triển
YTCT XHCN ở Việt Nam hiện nay.
6
Bản chất quá trình phát triển ý thức chính trị xã hội chủ nghĩa của sĩ
quan cấp phân đội Quân đội nhân dân Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ, tác giả
Trần Xuân Bình, Học viện Chính trị - Quân sự, năm 1997, đã đi sâu làm rõ
khái niệm về YTCT, YTCT XHCN, phát triển YTCT XHCN của sĩ quan cấp
phân đội Quân đội nhân dân Việt Nam; làm rõ bản chất của quá trình phát triển
YTCT XHCN của sĩ quan cấp phân đội trong quân đội ta, rút ra một số vấn đề
có tính nguyên tắc, thực trạng, nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp nhằm
phát triển YTCT XHCN của sĩ quan cấp phân đội Quân đội nhân dân Việt Nam.
Quá trình phát triển ý thức chính trị ở học viên sĩ quan pháo binh hiện nay,
Luận văn thạc sĩ, tác giả Phùng Văn Ngọc, Học viện Chính trị - Quân sự, năm
1997. Phát triên YTCT XHCN của học viên Học viện Kỹ thuật quân sự hiện nay,
Luận văn Thạc sĩ, tác giả Vũ Văn Lan, Học viện Chính trị - Quân sự, năm 2001.
trung làm rõ thực chất phát triển YTCT XHCN của học viên dân tộc thiểu số,
trên cơ sở đó đánh giá tình hình và đề ra các giải pháp.
Nâng cao ý thức chính trị xã hội chủ nghĩa của đội ngũ sỹ quan cấp
phân đội ở Binh đoàn Hương giang hiện nay, Luận văn thạc sỹ triết học, tác giả
Nguyễn Thế Học, Học viện Chính trị - Quân sự, năm 2005. Nâng cao ý thức
chính trị của học viên đào tạo sỹ quan hậu cần cấp phân đội ở Học viện Hậu cần
Quân đội nhân dân Lào hiện nay, Luận văn thạc sỹ xây dựng đảng, tác giả Sẻng
Thoong Vu Nang, Học viện Chính trị - Quân sự, năm 2006. Xây dựng ý thức
chính trị xã hội chủ nghĩa cho hạ sỹ quan, binh sỹ ở Sư đoàn 1 Quân đội nhân
dân Lào hiện nay, Luận văn thạc sỹ triết học, tác giả Sơn Thạ Nu Kẹo Mưn
Hương, Học viện Chính trị, năm 2008. Các đề tài này đã làm rõ thêm khái niệm
về YTCT, YTCT XHCN. Đồng thời, các tác giả đã đi vào nghiên cứu những biểu
hiện của YTCT XHCN của các đối tượng khác nhau (đội ngũ sỹ quan cấp phân
đội ở Binh đoàn Hương giang, học viên đào tạo sỹ quan hậu cần cấp phân đội ở
Học viện Hậu cần Quân đội nhân dân Lào, hạ sỹ quan, binh sỹ ở Sư đoàn 1 Quân
đội nhân dân Lào). Các tác giả cũng đã tập trung đánh giá thực trạng và đề xuất
những giải pháp cơ bản nhằm phát triển YTCT XHCN của các đối tượng nêu
8
trên.
Tuy nhiên, chưa có đề tài chuyên biệt nào đi sâu nghiên cứu một cách hệ
thống về xây dựng YTCT của sinh viên TP.HCM trước tác động của TCH hiện
nay. Những đề tài trên đã cung cấp cơ sở khoa học lý luận và thực tiễn quan
trọng để tác giả đi sâu nghiên cứu những vấn đề mà đề tài của tác giả đặt ra.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Mục đích nghiên cứu của luận văn
Làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về YTCT của sinh viên TP.HCM
trước tác động của TCH, từ đó luận văn đề xuất một số giải pháp cơ bản để xây
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; phương pháp lịch sử - lôgíc, phân
tích và tổng hợp, thống kê, so sánh, khảo sát thực tế, điều tra xã hội học, các
phương pháp chuyên ngành và liên ngành khác.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận
về YTCT của sinh viên TP.HCM trước tác động của TCH hiện nay; góp phần
xây dựng YTCT của sinh viên nói chung và sinh viên TP.HCM nói riêng
trước tác động của TCH.
- Kết quả luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các công trình khoa
học, công tác nghiên cứu, giảng dạy, tổng kết thực tiễn, khái quát lý luận liên
quan đến sự tác động của TCH đến YTCT của sinh viên nói chung và sinh
viên TP.HCM nói riêng.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, phụ lục,
luận văn gồm 2 chương, 4 tiết.
10
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ Ý THỨC CHÍNH TRỊ CỦA SINH VIÊN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỚC TÁC ĐỘNG CỦA TOÀN CẦU HÓA HIỆN NAY
1.1. Ý thức chính trị của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh và tác
động của toàn cầu hóa đến ý thức chính trị của sinh viên Thành phố Hồ
Chí Minh hiện nay
1.1.1. Ý thức chính trị của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh hiện
nay
* Chính trị
Chính trị là hiện tượng thuộc kiến trúc thượng tầng của xã hội có giai cấp.
Cấu trúc của chính trị bao gồm: hệ tư tưởng chính trị; cương lĩnh, đường lối
chính trị; hệ thống chính trị và hoạt động chính trị.
* Ý thức
Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ não con người, là
hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng,
ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ não con người một
cách năng động sáng tạo, ý thức không phải là bản sao giản đơn, thụ động
hiện thực. Bởi vì, ý thức là của con người, mà con người là một thực thể xã
hội năng động sáng tạo, ý thức phản ánh thế giới khách quan trong quá trình
con người tác động cải tạo thế giới. Ý thức không phải là một hiện tượng tự
nhiên thuần tuý mà là một hiện tượng xã hội bắt nguồn từ thực tiễn lịch sử xã hội, phản ánh những quan hệ xã hội khách quan. Lênin viết: ý thức con
người không chỉ phản ánh thế giới khách quan mà còn sáng tạo ra nó.
Như vậy, bản tính tự nhiên của con người thông qua hoạt động lao động
sản xuất, trao đổi ngôn ngữ, giao tiếp và các quan hệ xã hội được hình thành
và bộc lộ ra, được xã hội hóa trở thành các phẩm chất xã hội của con người.
Do vậy, ý thức của con người là một hiện tượng lịch sử, là hình ảnh chủ quan
12
của thế giới khách quan, nó nảy sinh, tồn tại và phát triển gắn liền với quá
trình phát triển của lịch sử - xã hội, phản ánh tồn tại xã hội trong từng giai
đoạn của lịch sử xã hội. Ý thức có cấu trúc phức tạp, bao gồm nhiều yếu tố
quan hệ với nhau như: tri thức, tình cảm, ý chí, niềm tin.
Tri thức là yếu tố cơ bản, cốt lõi, là kết quả của quá trình con người nhận
thức, phản ánh thế giới. Ý thức mà thiếu tri thức thì chỉ còn là niềm tin mù
quáng, ngược lại, tri thức mà thiếu tình cảm, niềm tin, ý chí sẽ dẫn đến thiếu
định hướng, thờ ơ, dè dặt, đứng ngoài cuộc.
Tình cảm là những thái độ cảm xúc ổn định của con người đối với những
thẩm mỹ, triết học… thì YTCT và ý thức pháp quyền giữ vai trò chi phối
mạnh mẽ nhất đối với tồn tại xã hội.
Xét dưới cấp độ phản ánh, YTCT được phân chia thành hai cấp độ
khác nhau. Cấp độ thấp là tâm lý chính trị, hay còn gọi là YTCT thông
thường được biểu hiện ở những cảm xúc, tình cảm chính trị, kinh nghiệm
của con người về quyền lợi, địa vị của giai cấp, về lợi ích kinh tế cơ bản
của giai cấp. Tâm lý chính trị phản ánh trực tiếp cuộc sống sinh hoạ t
thường ngày của xã hội, được hình thành một cách tự phát trong xã hội có
sự phân chia giai cấp. Do đó, nó thường biến động, thay đổi và không ổn
định. Mặc dù là tự phát nhưng tâm lý chính trị vẫn mang tính giai cấp và bị
chi phối bởi địa vị chính trị cơ bản của giai cấp mà nó phản ánh. Tâm lý
chính trị cũng có vai trò nhất định trong đời sống xã hội, là điều kiện để
con người trong các giai cấp tiếp thu tốt hơn hệ tư tưởng chính trị. Tâm lý
chính trị là cầu nối để hệ tư tưởng chính trị thâm nhập và phát huy vai trò
quyết định trong đời sống xã hội.
Cấp độ cao của YTCT là hệ tư tưởng chính trị. Hệ tư tưởng chính trị là
hệ thống quan điểm, tư tưởng chính trị của một giai cấp nhất định, phản ánh
trực tiếp, tập trung lợi ích của giai cấp ấy, được diễn tả một cách lôgíc và hệ
thống dưới dạng các học thuyết chính trị – xã hội. Hệ tư tưởng chính trị được
thể hiện trong cương lĩnh chính trị, đường lối chiến lược, sách lược của các
14
chính đảng và chính sách, pháp luật của nhà nước. Khác với tâm lý chính trị,
hệ tư tưởng chính trị không hình thành tự phát, mà được hình thành một cách
tự giác thông qua quá trình đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội, do nhu cầu
cải tạo xã hội. Hệ tư tưởng chính trị được các nhà lý luận, các nhà tư tưởng
tiên tiến, các lãnh tụ vĩ đại của các giai cấp xây dựng và truyền bá trong quần
chúng nhân dân thông qua các phong trào xã hội. Hệ tư tưởng chính trị
Khi người Pháp vào Đông Dương, để phục vụ công cuộc khai thác thuộc địa,
thành phố Sài Gòn được thành lập và nhanh chóng phát triển, trở thành một
trong hai đô thị quan trọng nhất Việt Nam, được mệnh danh Hòn ngọc Viễn
Đông hay Paris Phương Đông. Sài Gòn là thủ đô của Liên Bang Đông Dương
giai đoạn 1887 - 1901. Năm 1954, Sài Gòn trở thành thủ đô của Việt Nam
Cộng Hòa và thành phố hoa lệ này trở thành một trong những đô thị quan
trọng của vùng Đông Nam Á. Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ năm 1975, lãnh thổ
Việt Nam hoàn toàn thống nhất. Ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội nước
Việt Nam thống nhất quyết định đổi tên Sài Gòn thành “Thành phố Hồ Chí
Minh”, theo tên vị Chủ tịch nước đầu tiên của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.
Về vị trí địa lý, TP.HCM hiện nay, bắc giáp tỉnh Tây Ninh, đông giáp hai
tỉnh Đồng Nai và Bình Dương, tây giáp tỉnh Long An, nam thông ra biển.
Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ,
TP.HCM ngày nay bao gồm 19 quận và 5 huyện, tổng diện tích 2.095,239
km2. Theo kết quả điều tra dân số chính thức vào thời điểm 0 giờ ngày 1 tháng
4 năm 2009 thì dân số thành phố là 7.123.340 người (chiếm 8,34% dân số Việt
Nam), mật độ trung bình 3.419 người/km2. Tuy nhiên, nếu tính những người
cư trú không đăng ký thì dân số thực tế của thành phố vượt trên 8 triệu người.
Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị lớn nhất nước ta, có vị trí chính trị
quan trọng, là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học - công nghệ, đầu mối giao
lưu quốc tế. Giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, TP.HCM tập
trung nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất với nhiều nhà máy, xí nghiệp, khu
công nghệ cao, Thành phố chiếm khoảng 20.2% tổng sản phẩm và 27,9% giá
16
trị sản xuất công nghiệp của cả nước.
Là một trung tâm văn hóa, TP.HCM tập trung nhiều trường đại học, viện
nghiên cứu lớn với hàng ngàn nhà khoa học, nhà nghiên cứu cùng với rất nhiều
kinh tế - xã hội để tiến kịp với các nước trong khu vực và trên thế giới. Để
đẩy nhanh quá trình đó, một trong những ưu tiên hàng đầu của Đảng và
Nhà nước ta là phát triển giáo dục - đào tạo, coi đó là “quốc sách hàng
đầu”. Bởi vì “Phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là
nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định sự
phát triển nhanh bền vững đất nước”[7, tr.41].
Cùng với sự mở rộng không ngừng của hệ thống giáo dục đào tạo nước
nhà, đào tạo ĐH, CĐ tại TP.HCM trong mấy năm trở lại đây đã có sự phát
triển nhanh chóng cả về chất lượng và số lượng. Hiện nay, theo thống kê của
Hội Sinh viên thành phố Hồ Chí Minh, tính đến cuối năm 2010, Thành phố
có 71 trường ĐH và CĐ, với khoảng 352.230 sinh viên [18, tr.13].
Cũng như sinh viên cả nước, sinh viên TP.HCM là bộ phận ưu tú, nguồn
nhân lực chất lượng cao trong tương lai của Thành phố và đất nước. Sinh viên
TP.HCM là đại biểu của một nhóm xã hội đặc thù gồm những người đang
trong quá trình tích lũy để trở thành những trí thức, hoạt động trong một lĩnh
vực nhất định thuộc các ngành kinh tế, văn hoá, xã hội. Họ là lực lượng trẻ,
tiên phong, đang phát triển mạnh mẽ về thể chất và tinh thần, giàu ước mơ,
hoài bão, có mong muốn vươn lên nắm bắt các tri thức nhân loại để trong thời
gian ngắn nhất sẽ tự hoàn thiện mình về mọi mặt.
Sinh viên TP.HCM xuất thân từ các giai tầng khác nhau của mọi miền đất
nước, kể cả khu vực trung du và miền núi phía Bắc, miền Trung, Tây nguyên, nhiều
nhất là Đông Nam bộ và Tây Nam bộ. Hầu như tỉnh nào cũng có sinh viên đang
theo học tại đây. Sinh viên có tôn giáo chiếm tỷ lệ khá cao và theo nhiều tôn giáo
như Phật giáo, Thiên chúa giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo, Hồi giáo và nhiều
tôn giáo khác. Sinh viên TP.HCM là con em của hơn 40 dân tộc anh em với mức
18
thu nhập của gia đình rất khác nhau, văn hóa, lối sống cũng khác nhau rất nhiều.
ngoài pháp luật và ý thức tự quản của mỗi sinh viên.
Sinh viên TP.HCM là lực lượng tiêu biểu của tuổi trẻ Thành phố, nhiệt tình
năng nổ trong học tập, tích cực tham gia các phong trào thi đua và hoạt động xã
hội, gương mẫu đi đầu trong việc thực hiện chủ trương của Đảng, pháp luật của
Nhà nươc, lực lượng cán bộ khoa học kỹ thuật quan trọng trong tương lai của
Thành phố và đất nước. Họ sẽ đóng góp sức lực, trí tuệ và tài năng của mình cho
sự nghiệp CNH, HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Sinh viên TP.HCM là đối tượng trong các trung tâm giao lưu của xã hội,
của các trường ĐH, CĐ trong và ngoài nước, được tiếp cận với nhiều nguồn
thông tin mới, thông qua các hệ thống truyền thông, đây là điều kiện thuận lợi
cho sinh viên học tập, nghiên cứu khoa học và hội nhập quốc tế.
Với đặc điểm và vai trò của sinh viên như đã nêu trên, sinh viên
TP.HCM cũng là đối tượng mà các thế lực thù địch thực hiện “diễn biến hoà
bình” nhằm mục tiêu chống phá cách mạng. “Diễn biến hòa bình” đã len lỏi
vào ký túc xá, giảng đường, đến các hội thảo khoa học... lôi kéo, kích động,
nhằm tạo ra sự bất ổn về chính trị tư tưởng, làm cơ sở cho những vụ gây rối
trật tự an ninh trong đời sống sinh viên và trong xã hội.
Như vậy, ở độ tuổi sinh viên, nhận thức về cuộc sống, quan điểm sống
đang trong quá trình hình thành và từng bước đi vào ổn định, lại chưa được
trải nghiệm nhiều, cùng với đó là sự tác động đa chiều của các yếu tố ngoại
cảnh và quá trình TCH, làm cho không ít sinh viên TP.HCM tỏ rõ sự hạn chế
về nhiều mặt, đặc biệt là YTCT.
Ý thức chính trị của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay là tổng
hòa của nhận thức, tình cảm, ý chí và niềm tin chính trị, được biểu hiện qua
hành động, định hướng cho họ trong quá trình học tập, rèn luyện, công tác và
cuộc sống, góp phần tích cực phát huy vai trò của sinh viên trong sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Ý thức chính trị của sinh viên TP.HCM về bản chất là YTCT XHCN,
sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ của người thanh niên trong sự
21
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thứ tư, có niềm tin khoa học về sự lãnh đạo của Đảng, vào khả năng
điều hành và quản lý của Nhà nước; tin tưởng vào sự tất thắng của CNXH và
chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới; tin tưởng vào sức mạnh của
nhân dân, của dân tộc và thời đại; tin tưởng vào thắng lợi của sự nghiệp đổi
mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo. Đồng thời mỗi sinh viên
phải tin tưởng vào khả năng, vào sức lực và trí tuệ của bản thân để vững vàng
tiến thân vào con đường khoa học, sẵn sàng hội nhập.
YTCT của sinh viên TP.HCM hiện nay còn được thể hiện qua hành động,
đó là kết quả cao trong học tập, rèn luyện và công tác; tích cực đấu tranh trên
mặt trận chính trị - tư tưởng, đấu tranh chống các biểu hiện sai trái, thù địch
để bảo vệ nền tảng tư tưởng, bảo vệ chế độ, bảo vệ Tổ quốc và bảo vệ nhân
dân; tích cực và tham gia một cách có hiệu quả các hoạt động chính trị, xã hội
của nhà trường, đoàn, hội và địa phương.
1.1.2. Toàn cầu hóa và những tác động của toàn cầu hóa đến ý thức
chính trị của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
* Toàn cầu hoá
Ngày nay, “Toàn cầu hoá” (Globalization) đang là xu thế khách quan
diễn ra mạnh mẽ và phức tạp, nó tác động tới hầu hết các quốc gia và vùng
lãnh thổ, trong đó Việt Nam không là ngoại lệ.
Xu thế toàn cầu hoá đã được C.Mác, Ph.Ăngghen chỉ ra như một tất yếu
khách quan trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”(1848). Trong
tác phẩm này, C.Mác, Ph.Ăngghen đã dự báo rằng, với sự phát triển của lực
lượng sản xuất sẽ dẫn đến sự phân công lao động xã hội rộng rãi làm mở rộng
nhu cầu trao đổi hàng hoá: trao đổi hàng hoá mở rộng ra phạm vi thế giới hình
Những phân tích trên của C.Mác - Ph.Ăngghen cho thấy, sự phát triển của
lực lượng sản xuất và quốc tế hoá sản xuất dưới chủ nghĩa tư bản đã làm cho
các nước gắn bó lại với nhau và tạo ra xu thế toàn cầu hoá. Như vậy, có thể
xem toàn cầu hoá là quá trình gia tăng liên kết, ảnh hưởng và tác động sâu
23
sắc lẫn nhau của tất cả các quốc gia, dân tộc trên phạm vi toàn thế giới trên
nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội mà xuất phát điểm của nó là từ kinh tế.
Với tính cách là một xu thế khách quan trong tiến trình phát triển của
lịch sử nhân loại, TCH được hình thành trên cơ sở những tiền đề vật chất – kỹ
thuật cụ thể. TCH được biểu hiện trước hết là quá trình phổ biến hóa trên
phạm vi toàn cầu những giá trị, tri thức, những hoạt động, những định chế, mô
hình, … theo chiều hướng đi tới nhất thể hóa nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội,
nhưng trước hết là kinh tế và kỹ nghệ. Biểu hiện cụ thể của TCH dễ nhận thấy
nhất, đó là nền sản xuất thế giới dựa trên sự phân công lao động quốc tế rộng rãi;
thị trường thế giới liên hoàn giữa các nước; luồng lưu chuyển nhanh chóng và
khổng lồ về hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, tài chính – tiền tệ, công nghệ … trên
phạm vi toàn cầu; mạng lưới dày đặc hàng vạn các công ty xuyên quốc gia; đời
sống văn hóa – xã hội giữa các dân tộc ngày càng có nhiều nét chung,.v.v..
Bản chất khách quan của xu thế TCH được quy định trước hết bởi bốn
yếu tố chủ yếu, đó là sự phát triển cao của lực lượng sản xuất trong thời đại
khoa học – công nghệ; sự gia tăng phân công lao động quốc tế; sự phát triển
sâu rộng của KTTT trên phạm vi toàn thế giới; sự hiện diện của những vấn đề
toàn cầu. Tuy nhiên, TCH ngoài tư cách là một quá trình kinh tế - xã hội,
chính trị, văn hóa còn là hệ quả trực tiếp và gián tiếp của các nhân tố chủ
quan. Sự đan xen giữa cái khách quan và cái chủ quan đã làm cho TCH, về
bản chất, trở thành quá trình đầy mâu thuẫn, chứa đựng cả mặt tích cực lẫn
mặt tiêu cực đối với từng quốc gia, cũng như toàn nhân loại.
cơ chế quyền lực quốc tế làm cho nhiều quốc gia, nhất là các quốc gia đang
phát triển lo ngại, vì nó được sử dụng làm cơ sở để tăng thêm mức can thiệp
của phương Tây, trực tiếp thách thức chủ quyền chính trị truyền thống.
Về kinh tế: những chủ quyền như định ra chính sách và mục tiêu kinh tế,
kiểm soát điều hòa nguồn tài nguyên và nguồn thông tin, quyền quản lý các
hoạt động kinh tế và khả năng hành động của một nước sẽ bị tác động và
ràng buộc một cách mạnh mẽ bởi các tổ chức kinh tế quốc tế và các công
25
ty xuyên quốc gia; từ đó một nước khó có thể phát triển kinh tế dân tộc
theo chiến lược do tự mình đặt ra.
Các nước phát triển phương Tây thực hiện chính sách “chính trị hóa
kinh tế”, lợi dụng các tổ chức quốc tế như WTO, IMF và WB để giành lợi
ích kinh tế cao hoặc can thiệp vào công việc nội bộ nước khác, thậm chí
dùng những biện pháp rút viện trợ và vốn đầu tư, gây khủng hoảng, kiềm
chế kinh tế các nước đang phát triển.
Một đặc điểm của TCH là sự không đồng đều của nó, là vị trí bất bình
đẳng giữa các nước và các dân tộc tham gia, dẫn đến phân hóa sâu sắc giữa giàu
và nghèo. Như một quy luật, TCH càng phát triển thì khoảng cách giàu nghèo
ngày càng tăng. Điều này phản ánh rất rõ bản chất của TCH TBCN, thuộc tính
của nó không sao giải quyết được tối ưu phúc lợi và công bằng xã hội.
Về văn hóa: những lĩnh vực văn hóa truyền thống, giá trị luân lý, ý thức hệ,
phong tục tập quán của một nước có mối liên hệ và tác động mạnh mẽ với nhau.
Chủ quyền về văn hóa của quốc gia dân tộc như tự chủ lựa chọn và xây dựng
nền văn hóa của riêng mình cũng bị ràng buộc vì tác động hữu hình và vô hình
từ bên ngoài dội vào. Cần nói thêm là với cuộc cách mạng về thông tin – kỹ
thuật, nhất là sau khi Internet được sử dụng rộng rãi thì một nước đang phát triển
rất khó thực hiện được tự chủ về văn hóa và kiểm soát văn hóa. Trong khi đó,