Thực trạng sản xuất, kinh doanh của trang trại hộ gia đình ông lê tài chất ở xã thanh mỹ huyện thanh chương tỉnh nghệ an - Pdf 39

Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thanh Bình

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐÊ
Ngay từ những năm đầu của công cuộc đổi mới thì Đảng và Nhà nước
ta đã có chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần trong đó

uế

đặc biệt là việc thừa nhận Hộ gia đình là một đơn vị kinh tế tự chủ, có quyền

tế
H

bình đẳng với các thành phần kinh tế khác trước pháp luật. Việc giao đất cho

các hộ gia đình sử dụng ổn định và lâu dài kết hợp với việc mở rộng các hoạt
động tín dụng nông thôn, tăng cường công tác khuyến nông, lâm ngư nghiệp
đã tạo ra được sức mạnh mới trong sự phát triển nông nghiệp nông thôn, đưa

h

nước ta từ một nước nghèo đói, luôn trong tình trạng thiếu lương thực trở

in

thành một trong 3 nước xuất khâu hàng đầu về các mặt hàng nông sản.

cK


chuyển biến tích cực và phát triển ngày càng đa dạng cả về chiều rộng lẫn
chiều sâu.

SVTH: Phạm Hồng Mỹ

1


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thanh Bình

Theo đó, kinh tế trang trại là hình thức sản xuất hàng hóa trong nông
nghiệp nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình nhằm mở rộng quy mô, nâng
cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản
và trồng rừng. Gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông - lâm -

uế

ngư nghiệp. Tuy còn khá mới mẻ nhưng kinh tế trang trại qua thực tế phát

tế
H

triển đang dần chứng tỏ tính ưu việt hơn hẳn so với kinh tế hộ nông dân. Kinh
tế trang trại phát huy mọi nỗ lực, tích cực đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp,
góp phần đảm bảo an ninh lương thực, nâng cao tỷ suất hàng hóa nông sản và
tạo được nhiều hàng hóa phục vụ tiêu dùng trong nước và hướng ra xuất khẩu.

h

ườ

trọng trong công cuộc CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn. Tuy nhiên loại
hình kinh tế này cũng không tránh khỏi những hạn chế, yếu kém trong quá

Tr

trình phát triển. Cụ thể là:
Quy mô sản xuất, quy trình sản xuất còn nhỏ lẻ, chưa tạo ra được lượng

hàng hóa tập trung với số lượng lớn, chưa đưa những tiến bộ khoa học kỹ
thuật vào sản xuất, khả năng cạnh tranh trên thị trường còn hạn chế.
Trình độ tổ chức quản lý của các chủ trang trại còn hạn chế đặc biệt
trong tổ chức, quản lý sử dụng vốn, phân công lao động chưa hiệu quả…
SVTH: Phạm Hồng Mỹ

2


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thanh Bình

Nhà nước đang còn thiếu chính sách thiết thực để hướng dẫn, giúp đỡ
các trang trại phát triển đúng hướng, một phần cũng là do sự chậm trễ trong
việc ban hành các chính sách như giao đất, thuế, lao động…ảnh hưởng trực
tiếp đến công cuộc phát triển kinh tế trang trại ở nước ta.

uế


Đ
ại

- Phương pháp phân tích kinh tế.
- Phương pháp thống kê, thu thập số liệu.
- Phương pháp phân tích tổng hợp.

ng

- Phương pháp điều tra, phỏng vấn trực tiếp.
- Các phương pháp nghiên cứu khác.

ườ

Giới hạn nghiên cứu của đề tài:
- Thời gian nghiên cứu: thu thập số liệu về tình hình kinh tế xã hội của

Tr

Xã Thanh Mỹ qua 3 năm (2009-2011), tình hình trang trại ông Lê Tài Chất
qua 2 năm (2010-2011).
- Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu tình hình sản xuất kinh doanh của

trang trại ông Lê Tài Chất.
- Nội dung nghiên cứu: Đánh giá các nguồn lực sản xuất, thực trạng sản
xuất kinh doanh của trang trại ông Chất qua 2 năm (2010 - 2011).
SVTH: Phạm Hồng Mỹ

3


cK

sản xuất khác nhau, dù vậy trong đó đều có sự lựa chọn hình thức sản xuất
theo kiểu trang trại và quy mô sản xuất, mức độ trao đổi hàng hóa của trang
trại khác nhau phụ thuộc vào sự phát triển của thị trường.

họ

Đối với Việt Nam thì trang trại có từ thời phong kiến tồn tại dưới các
hình thức thái ấp, điền trang và dần có bước phát triển mạnh cả về quy mô và

Đ
ại

trình độ khi chủ nghĩa Tư bản du nhập vào Việt Nam với hình thức dồn điền
đổi thửa. Trong những năm trở lại đây, kinh tế trang trại đã có những bước
phát triển mạnh mẽ và cùng với sự phát triển mạnh mẽ này, các nghiên cứu,

ng

các định nghĩa về trang trại và kinh tế trang trại dần được hoàn thiện và đi đến
thống nhất. Theo đó Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 của

ườ

chính phủ đã thống nhất nhận thức về trang trại và kinh tế trang trại như sau:

Tr

Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm, ngư

hàng hóa cần thiết đáp ứng thường xuyên cho nhu cầu của thị trường.

1.1.1.2. Căn cứ để xác định trang trại

h

Như vậy có thể xem trang trại là thời kỳ sơ khai của kinh tế trang trại.

in

Thông tư liên tịch Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, tổng cục

cK

thống kê số 62/2000/TTLT/BNN-TCTK ngày 23/6/2000 và Thông tư sửa đổi
bổ sung số 74/2000/TTBNN đã có những hướng dẫn tiêu chí để xác định kinh
tế trang trại. Theo Thông tư này thì mục đích của kinh tế trang trại là sản xuất

họ

nông, lâm, thủy sản hàng hóa với quy mô lớn, mức độ tập trung hàng hóa,
chuyên môn hóa và các điều kiện yếu tố sản xuất vượt trội hơn hẳn so với

Đ
ại

kinh tế hộ, thể hiện ở quy mô sản xuất như: đất đai, vốn, lao động, đầu gia
súc, giá trị nông, lâm, thủy sản hàng hóa, kinh nghiệm và trình độ quản lý,
khả năng áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật… Cụ thể như sau:



đồng trở lên.
- Đối với các tỉnh phía Nam và Tây nguyên thì là từ 50 triệu đồng trở lên.

hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế.

tế
H

Đối với trang trại trồng trọt

uế

Thứ hai: Quy mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế

- Trang trại trồng cây hàng năm:

+ Từ 2ha trở lên với các trang trại miền Bắc và duyên hải miền Trung.
+ Từ 3ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây nguyên.

h

- Trang trại trồng cây lâu năm:

in

+ Từ 3ha trở lên với các trang trại miền Bắc và duyên hải miền Trung.

cK


là từ 200 con trở lên.
- Chăn nuôi gia cầm (gà, vịt…)
Thường xuyên có từ 2000 con trở lên ( không tính dưới 7 ngày tuổi)

SVTH: Phạm Hồng Mỹ

6


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thanh Bình

Đối với trang trại nuôi trồng thủy sản:
- Quy mô, diện tích nuôi trồng thủy sản có từ 2ha trở lên (riêng đối với
nuôi tôm thịt theo kiểu công nghiệp từ 1 ha trở lên.)
Đối với các sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản có

tế
H

sản… thì tiêu chí xác định là giá trị sản lượng hàng hóa.

uế

tính chất đặc thù như: trồng hoa, cây cảnh, trồng nấm, nuôi ong, giống thủy

1.1.1.3. Vai trò của kinh tế trang trại

- Cho phép khai thác và sử dụng đất đai, sức lao động, vốn, kỹ thuật và

ng

tạo việc làm và nâng cao thu nhập, giải quyết tốt công tác xóa đói giảm

ườ

nghèo, phân bố lạ lao động, dân cư, xây dựng nông thôn mới, góp phần phát
triển cơ sở hạ tầng khu vực nông thôn. Làm giảm tệ nạn xã hội và nâng cao

Tr

trình độ dân trí cho người dân khu vực nông thôn.
1.1.1.4. Điều kiện để hình thành và phát triển kinh tế trang trại
Kinh tế trang trại ở một quốc gia được hình thành và phát triển một khi

đã hội tụ những điều kiện sau đây:
- Điều kiện cần:
+ Có nền kinh tế đã hoặc đang thực hiện quá trình công nghiệp hóa.
SVTH: Phạm Hồng Mỹ

7


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thanh Bình

+ Có nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh hoặc đang trong quá trình hoàn
chỉnh, trong đó thị trường nông nghiệp đầu vào và đầu ra đều là hàng hóa.
+ Được Nhà nước công nhận và khuyến khích phát triển.


họ

Đây là một trong những yếu tố quan trọng, ảnh hưởng lớn, trực tiếp đến
viêc sản xuất kinh doanh của trang trại.

Đ
ại

Với đặc thù địa hình, khí hậu phức tạp, Nghệ An là một trong những
tỉnh hứng chiu thiên tai cũng như sự khắc nghiệt của thời tiết lớn nhất trên cả
nước, điều này ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư

ng

nghiệp nơi đây. Với địa hình chủ yếu là đồi núi, chịu ảnh hưởng trực tiếp của

ườ

gió Lào cung như sự phức tạp về lượng mưa…nên để kinh tế trang trại có thể
phát triển tốt thì vấn đề đặt ra luôn là lựa chọn phương án sản xuất, cơ cấu

Tr

sản xuất, cơ cấu giống cây trồng vậy nuôi sao cho phù hợp, biến những bất lợi
về mặt tự nhiên thành lợi thế riêng cho từng vùng…
+ Đất đai:
Là tư liệu sản xuất đặc biệt và không thể thay thế trong hoạt động sản
xuất nông nghiệp nói chung và kinh tế trang trại nói riêng, vì vậy đất đai là
yếu tố ảnh hưởng quan trọng đối với việc phát triển kinh tế trang trại.


in

những yếu tố này đều tác động lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của

cK

trang trại. Việc sử dụng tốt lao động sẹ mang lai hiệu quả lớn cho trang trai,
ngược lai nếu sử dụng không hợp lý nhân tố này sẽ dẫn đến lãng phí, ảnh
hưởng tới két quả sản xuất kinh doanh của trang trại.

họ

+ Trình độ thâm canh, khả năng áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ
thuật vào sản xuất và chế biến sản phẩm.

Đ
ại

Ngày nay, nhóm nhân tố này đóng vai trò rất quan trọng, giúp nâng cao
năng suất cũng như hiệu quả trong sản xuất của các trang trại. Bởi vậy các chủ
trang trại cần phải nắm rõ xu thế phát triển để có nhưng điều chỉnh phù hợp.

ng

+ Trình độ văn hóa, trình độ tổ chức và quản lý của nguồn lao động.

ườ

Để sử dụng có hiệu quả các yếu tố vừa nêu trên đòi hỏi chủ trang trại

H

của mình cũng như nắm bắt các đối thủ cạnh tranh.
+ Sự quản lý của nhà nước.

Bao gồm các chính sách phát triển, chính sách về thuế , giá cả, thị
trường…. Những yếu tố này ảnh hưởng rất lớn đến tình hình sản xuất kinh

h

doanh của trang trại. Nếu được tạo điều kiện thì trang trại sẽ ngày một phát

in

triển và ngược lại kìm chế sự phát triển của kinh tế trang trại.

cK

1.1.1.6. Các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh
của trang trại

+ Doanh thu:

họ

- Các chỉ tiêu đánh giá kết quả:

Được xác định dựa trên giá cả và số lượng sản phẩm sản xuất ra.

Đ

Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thanh Bình

+ Lợi nhuận / Doanh thu.
+ Lợi nhuận / Vốn sản xuất.
1.1.2. Cơ sở thực tiễn
1.1.2.1. Tình hình phát triển kinh tế trang trại trên thế giới

uế

Trang trại là loại hình cơ sở sản xuất nông nghiệp của hộ gia đình nông

tế
H

dân hình thành và phát triển trong điều kiện kinh tế thị trường. Kể từ khi

phương thức sản xuất Tư bản chưa nghĩa thay thế phương thức sản xuất
Phong kiến, trang trại được hình thành trên cơ sở các hộ tiểu nông. Sau khi
phá vỡ vỏ bọc sản xuất tự cung tự cấp, kinh tế trang trại đã vươn lên sản xuất

h

nhiều nông sản hàng hóa, tiếp cận với thị trường và từng bước thích nghi với

in

nền kinh tế cạnh tranh.


với giá rẻ hơn so với giá nông sản từ các trang trại gia đình.
Tuy nhiên điều này đã không trở thành hiện thực vì đặc thù của nông

nghiệp khác với công nghiệp ở chỗ nông nghiệp cần phải tác động vào những
đối tượng sống, có điều kiên thích nghi riêng biệt và phụ thuộc rất lớn vào tự
nhiên nên không phù hợp với hình thức tập trung sản xuất trên quy mô lớn,
đòi hỏi trình độ kỹ thuật cũng như quản lý cao, vì vậy hiệu quả cuối cùng của
SVTH: Phạm Hồng Mỹ

11


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thanh Bình

các xí nghiệp nông nghiệp Tư bản quy mô lớn vẫn thấp hơn so với kết quả mà
các trang trại hộ gia đình quy mô nhỏ tạo ra.
Cho đến nay thì trên thế giới đang tồn tại 2 loại hình trang trại là trang
trại gia đình và trang trại Tư bản chủ nghĩa. Trong số này thì trang trại gia

uế

đình là trang trại sản xuất phổ biến nhất, trong khi trang trại Tư bản chủ nghĩa

sản xuất ra.
1.2.1.2. Số lượng trang trại trên thế giới

tế
H

quân hàng năm là 2,7%. Diện tích bình quân của các trang trại có xu hướng

ng

tăng lên ( nước Anh năm 1950 là 36 ha, năm 1987 là 71ha, ở Pháp 1955 là

ườ

14ha, năm 1985 là 35,1 ha….)
Như vậy, ở các nước tư bản Tây Âu và Mỹ, số lượng trang trại đều có

Tr

xu hướng giảm và tăng về quy mô diện tích / một trang trại.
Ở châu Á, kinh tế trang trại trong nông nghiệp chịu sự chi phối của điều

kiện tự nhiên, dân số nên có những đặc điểm khác so với các nước Tây Âu và
Mỹ về nhiều mặt, đặc biệt là số lượng và quy mô trang trại. Điều đáng nói là ở
các nước ở Châu Á, diện tích đất canh tác trên đầu người vào loại thấp nhất thế
giới trong khi lại có dân số đông nên ảnh hưởng rất lớn tới quy mô trang trại.
SVTH: Phạm Hồng Mỹ

12


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thanh Bình

1.1.2.2. Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam


kinh tế quan trọng.

họ

hội chủ nghĩa thì kinh tế trang trại đã được chú trọng như là một thành phần

Đ
ại

Trong những năm gần đây, đặc biệt là sau nghị quyết 10 của Bộ Chính
trị, hầu hết các địa phương trong cả nước, kinh tế trang trại đã phát triển rất
nhanh chóng. Nhiều địa phương đã có những chính sách cụ thể khuyến khích

ng

phát triển loại hình này. Thực tế cho thấy loại hình kinh tế trang trại tuy mới

ườ

hình thành nhưng đã cho thấy được hiệu quả, khơi dậy được tiềm năng đất
đai, lao động, tiền vốn trong dân cư, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Tr

Đồng thời là đọng lực thúc đẩy nông nghiệp nông thôn phát triển.
Mặc dù được hình thành từ khá sớm nhưng kinh tế trang trại chỉ thực sự

phát triển mạnh vào những năm gần đây đặc biệt khi thực hiện Chỉ thị 100
của Ban bí thư Trung ương, Nghị quyết 10 của Bộ chính trị về phát huy vai


những năm bắt đầu đổi mới. Quá trình này hàm chứa xu hướng phát triển

in

hàng hóa, đi lên sản xuất lớn trong nôg nghiệp, hướng tới thị trường và phù

cK

hợp với xu thế phát triển.

- Có nhiều thành phần trong xã hội tham gia vào làm kinh tế trang trại

kinh tế hộ nông dân.

họ

nhưng nền tảng cơ bản hình thành kinh tế trang trại là do sự vận động của

1.1.2.3. Tình hình phát triển kinh tế trang trại của tỉnh Nghệ An và

Đ
ại

huyện Thanh Chương

1.1.2.3.1. Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở tỉnh Nghệ An
* Cơ sở hình thành và phát triển kinh tế trang trại ở tỉnh Nghệ An.

ng

biết: "Từ sự quan tâm khuyến khích của Trung ương và UBND tỉnh Nghệ An,

Đ
ại

đến nay loại hình kinh tế trang trại theo tiêu chí sửa đổi 2003 đã có 2.345
trang trại. Riêng năm 2010, phát triển thêm 196 trang trại mới". Từ số liệu
của Cục Thống kê ta thấy được vai trò phát triển kinh tế hàng hóa của trang

ng

trại. Năm 2010, lượng xuất bán trâu bò hàng hóa là 6.684 con và 10.490 tấn;

ườ

trái cây hàng hoá bán buôn là 20 nghìn tấn cam, 18 nghìn tấn dứa quả, 3
nghìn tấn nhãn và gần 4 nghìn tấn vải. Sản lượng hàng hoá này chủ yếu từ

Tr

kinh tế trang trại.
Vai trò kinh tế của trang trại không chỉ thể hiện ở khối lượng hàng hóa

tập trung, ở giá trị sản xuất mà còn mở ra dịch vụ thiết yếu về giống cây, con
mới, năng suất hiệu quả kinh tế cao hơn vào các vùng nông thôn, nhất là vùng
miền núi. Các chủ trang trại như các ông Nguyễn Đăng Tự và Lê Đình Hải
(Xóm 1 Nghĩa Hành, huyện Tân Kỳ) nuôi trên 100 con lợn thịt và hàng chục
SVTH: Phạm Hồng Mỹ

15

chế biến. Các chủ thu gom có lãi nhưng bà con cũng nhờ họ mà chăn nuôi

cK

nhỏ lẻ phát triển được.

Bên cạnh vai trò về kinh tế hàng hóa của trang trại thì bản thân nó còn
có tác động xã hội rất lớn như giải quyết việc làm cho lao động vốn dư thừa ở

họ

nông thôn. Trung bình mỗi trang trại lớn nhỏ giải quyết từ 4 đến 5 lao động.
Báo cáo tổng kết kinh tế trang trại của huyện Tân Kỳ cũng cho biết: Trung

Đ
ại

bình cứ 4,8 lao động trong 1 trang trại thì phải thuê 1,8 lao động bên ngoài.
Như vậy, ở Tân Kỳ, nơi có 305 trang trại thì cũng giải quyết ít nhất 500 lao
động thường xuyên, chưa kể số thuê theo thời vụ. Trang trại của anh Nguyễn

ng

Trọng Hương (Nghĩa Hoàn) thường cần đến 30 lao động thời vụ hàng năm.

ườ

Như vậy, tính chung toàn tỉnh với con số trên 2.300 trang trại, đã giải quyết
được trên 5 nghìn lao động. Mức thu nhập ở trang trại cũng khá cao so với


trang trại sản xuất kinh doanh bằng trồng cây lâm nghiệp. Ông Vạn Thọ ở

Yên Thành, ngoài bảo vệ hàng chục ha rừng xanh tốt còn bảo tồn được giống
gỗ dẻ quý hiếm. Trang trại của ông Lê Thanh Thản (xã Diễn Lâm, huyện

h

Diễn Châu) thì việc kéo điện vào trại cũng giải quyết luôn nhu cầu điện thắp

in

sáng cho hàng trăm hộ những xóm dọc đường dây mà do xa trung tâm, xã

cK

chưa có điều kiện đầu tư. Biết bao chủ trang trại đã bỏ vốn của mình để mở
giao thông, nâng cấp hồ đập, kéo điện làm lợi cho nhân dân trên địa bàn.v.v
Như vậy với các yếu tố tự nhiên thuận lợi cộng với việc luôn nhận được

họ

những sự quan tâm đặc biệt từ phía các Ban, Ngành lãnh đạo của tỉnh thì tính
đến thời điểm này có thể xem kinh tế trang trại của tỉnh đã từng bước thể

Đ
ại

hiện được vai trò chủ đạo của mình trong phát triển nông nghiệp nông thôn
nói riêng và kinh tế của tỉnh Nghệ An nói chung.
Tuy nhiên, KTTT của tỉnh vẫn còn nhiều vấn đề cần tiếp tục giải quyết

phía Đông giáp huyện Nam Đàn và phía Tây giáp huyên Anh Sơn. Diện tích

uế

của huyện là 1.127,63 km2 với địa hình có đồi núi chiếm phần lớn…

tế
H

Với vị trí địa lý và địa hình như trên thì phát triển kinh tế trang trại
được xem lả một hướng đi đúng đắn nhằm phát triển kinh tế của huyện. Thật

vậy, nhất quán với chủ trương, chính sách của tỉnh Nghệ An, Huyện ủy,
UBND huyện Thanh Chương đã xác định xu hướng phát triển kinh tế trang

h

trại từ những năm 1994 với việc triển khai, chỉ đạo xây dựng các mô hình

in

kinh tế trang trại tương đối phong phú, trong đó chủ yếu là trang trại trồng cây

cK

lâm nghiệp (keo, cao su, chè..) và trang trại chăn nuôi trâu, bò, lợn gà và cá…
Tính đến thời điểm này,huyện Thanh Chương hiện có gần 200 trang trại
đạt tiêu chí, bình quân mỗi trang trại có diện tích đất sử dụng gần 11ha, với

họ

18


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thanh Bình

triển kinh tế theo hướng trang trại đang phát triển ở hầu khắp các xã: Đồng
Văn, Thanh Lĩnh, Thanh Ngọc, Thanh Phong… đã được quy hoạch, xây dựng
trên những cánh đồng sản xuất kém hiệu quả trước đây.
Trên cơ sở tiềm năng, lợi thế và tập quán sản xuất của nhân dân, huyện

uế

tập trung chỉ đạo phát triển trang trại trồng cây lâm nghiệp, chăn nuôi và nuôi

tế
H

trồng thủy sản, kinh doanh tổng hợp, giảm dần trang trại trồng cây lâu năm.
Rõ nét nhất là sự xuất hiện của các trang trại trồng cây lâm nghiệp kết hợp
chăn nuôi trâu, bò, dê và nuôi trồng thủy sản, góp phần khai thác hiệu quả
diện tích đất trống, đồi trọc, đất hoang hóa.

h

1.2. Tình hình cơ bản của xã Thanh Mỹ - Huyện Thanh Chương

cK


Tr

giam số 6 đóng trên và có đường mòn Hồ Chí Minh đi qua.
Trên địa bàn xã có một Thị tứ, địa bàn hành chính có 15 Thôn, 2 Hợp

tác xã dịch vụ nông nghiệp và hệ thống trường trạm đảm bảo…
Chính vì đặc thù về vị trí địa lý như vậy nên xã có điều kiện hết sức
thuận lợi trong phát triển kinh tế và giao lưu văn hóa xã hội với trong và

SVTH: Phạm Hồng Mỹ

19


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thanh Bình

ngoài địa bàn xã, đặc biệt có tuyến quốc lộ Hồ Chí Minh đi qua nên tạo điều
kiên rất thuận lợi để giao lưu buôn bán với các vùng lân cận.
Với ưu thế là một trong những xã trọng điểm của chương trình 135 nên
mấy năm trở lại đây, cơ sở hạ tầng của xã được cải thiện một cách đáng kể,

uế

tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế và giao lưu văn hóa cho xã.

tế
H


- Chế độ mưa:

Lượng mưa bình quân hàng năm là 1.500 - 1.900 mm, năm cao nhất là

ng

2.500 mm, thấp nhất 1.200 mm. Trong năm lượng mưa phân bố không đồng

ườ

đều, chủ yếu tập trung vào tháng 9 và tháng 10 và thường xuyên bị ngập úng.
- Độ ẩm:

Tr

Độ ẩm trung bình 86%, cao nhất 89% (tháng 12 đến tháng 2), thấp nhất

60% (tháng 6)
- Chế độ gió:
Có 2 hướng thịnh hành:
+ Gió mùa Đông Bắc thổi từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, gió về
thường mang theo giá rét, mưa phùn.
SVTH: Phạm Hồng Mỹ

20


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thanh Bình

Tuy là một xã miền núi nhưng Thanh Mỹ vẫn có những vùng đồng
bằng bằng phẳng nằm ven sông Giăng và vùng ven các chân núi, khe suối

họ

thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. Có thể khái quát sơ bộ các dạng địa hình
của xã là: vùng bằng thung lũng và ven sông; địa hình hóc chọ và núi cao.

Đ
ại

- Dạng vùng băng thung lũng và ven sông:
Chủ yếu nằm ven sông Giăng, chiếm khoảng 23% diện tích đất tự
nhiên, có khoảng 5% diện tích loại đất này là bãi bồi ven sông thường xuyên

ng

bị ngập lụt. Vùng này chủ yếu trồng các loại cây như ngô, khoai, lúa và các

ườ

loại rau củ khác.
- Dạng vùng hóc chọ và núi cao:

Tr

Phần lớn có độ cao từ 10 - 15 m, độ dốc từ 0 - 80. đây là loại địa hình

có diện tích lớn nhất, chiếm khoảng 75% diện tích tự nhiên trong đó 95%
diện tích loại đất này là đồi núi, nhưng tập trung nhiều ở phía Nam, Tây và

h

thêm 1 lượng phù sa nhất định. Đất có thành phần cơ giới từ cát pha đến thịt

in

nhẹ, pH(kcl) 6,7 - 7,2. , đạm tổng số 0,126%, lân tổng số 0,069%, kali tổng số

cK

0,254%. Đây là loại đất hội tụ nhiều tính chất tốt: cấu tượng tốt, thành phần
đạm, lân, kali và các chất dễ tiêu đều khá, khả năng trao đổi cao, phù hợp với
trồng các loại lúa, ngô, đậu… tuy nhiên nó lại chỉ chiếm 1 diện tích nhỏ.

họ

- Đất phù sa không được bồi, không có glây hoặc glây yếu chua.
Diện tích 604 ha, chiếm 21,6% tổng diện tích tự nhiên. Đất có thành

Đ
ại

phần cơ giới từ cát pha đến thịt nhẹ, thịt trung bình tùy xứ đồng. Đất có phản
ứng chua, ít mùn, lân tổng hợp và dễ tiêu ngèo.
Đất trồng lúa của xã chủ yếu là loại đất này, yêu cầu của loại đất này là

ng

phải thường xuyên tập trung cải tạo như làm thủy lợi, làm đất…


chưa sử dụng và tăng đần đất phi nông nghiệp, phục vụ sản xuất trong lĩnh

Tr

ườ

ng

Đ
ại

họ

cK

in

h

tế
H

vực công nghiệp, dịch vụ và thương mại.

SVTH: Phạm Hồng Mỹ

23


GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thanh Bình

%

+,-

%

100

2777,52

100

-

-

2.392,37

86,13

223,85

10,32

Đất nông nghiệp

2.168,52

78,07


24,43

604,09

21,73

- 38,75

6,02

Đất trồng cây lâu năm

367,98

13,25

367,98

13,25

406,64

14,65

38,66

10,50

40,72


30,33

1,09

3,55

13,26

II

Đất phi nông nghiệp

293,46

8,56

300,56

10,82

315,83

11,37

22,37

7,62

1


115,23

4,15

9,91

9,40

3

Đất phi nông nghiệp khác.

131,23

2,72

136,06

4,90

141,25

5,08

10,02

7,63

III


2,92

0,11

- 197,51

98,54

2

Đất đồng bằng chưa sử dụng

115,11

4,14

90,94

3,27

66,36

2,39

- 48,75

42,35

Tr
ư

Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thanh Bình

1.2.2.3. Nguồn nước, thủy văn
Xã Thanh Mỹ có một hệ thống sông ngòi dày đặc, ngoài một con sông
lớn là sông Giăng chảy qua còn có 1 hệ thống khe, suối rất lớn với tổng chiều
dài khoảng 35km. Bên cạnh đó trên địa bàn xã còn có rất nhiều những hồ đập,

uế

đặc biệt có 5 đập lớn với diện tích trung bình mỗi đạp khoảng 6ha, là nơi dự
trữ nước vào mùa khô cho cả xã.

tế
H

Ngoài ra xã cũng có một hệ thống nước ngầm lớn và đang được chú

trọng khai thác trong những năm gần đây, ưu điểm của nguồn nước ngầm này
là nông, dễ khai thác và khá sạch…

h

Với những thuận lợi về nguồn nước mà thiên nhiên ban tặng như vậy rõ

in

ràng xã Thanh Mỹ đứng trước cơ hội rất lớn để phát triển kinh tế đặc biệt là
kinh tế nông nghiệp, một ngành chủ đạo của xã. Ngoài ra với hệ thống sông


2009 tương ứng 2,02%.
Về lao động: năm 2011 cả xã có 3.241 lao động, tăng 288 người tương

ứng 7,57% so với năm 2009, trong đó lao động trong nông nghiệp là 2.198
lao động, tăng 77 người tương ứng mức tăng 3,63%. Trong khi đó lao động
phi nông nghiệp là 1.043 người, tăng 151 người tương ứng 16,93% so với
năm 2009. Có thể nói lao động qua 3 năm chưa đánh dấu bước chuyển đổi
SVTH: Phạm Hồng Mỹ

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status