LUẬN văn THẠC sĩ ĐẢNG bộ TỈNH AN GIANG LÃNH đạo THỰC HIỆN CÔNG tác tôn GIÁO GIAI đoạn 1990 2004 - Pdf 39

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tôn giáo vừa là một hình thái ý thức xã hội, vừa là một thực thể xã hội.
Nó ra đời cách đây hàng ngàn năm, cùng với sự ra đời và phát triển của xã hội
loài người. Từ lâu, tôn giáo đã trở thành nhu cầu tinh thần của một bộ phận
quần chúng nhân dân ở hầu hết các quốc gia, dân tộc trên thế giới. Việt Nam
cũng nằm trong xu thế chung đó. Từrất sớm, một số tôn giáo ngoại sinh du
nhập vào nước ta như: Phật Giáo, Hồi Giáo, Thiên Chúa Giáo, Tin Lành. Đến
cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, do nhu cầu tín ngưỡng của một bộ phận lớn quần
chúng nhân dân khu vực Nam Bộ đã hình thành nên những tôn giáo mới (tôn
giáo nội sinh) như Cao Đài, Phật Giáo Hoà Hảo. Do đó, đến nay Vịêt Nam
được xem là quốc gia đa tôn giáo (có 6 tôn giáo chính thức). Vấn đề tôn giáo
luôn là vấn đề phức tạp và nhạy cảm ở Việt Nam, vì vậy ngay từ rất sớm Đảng
ta có cách nhìn nhận và đánh giá đúng đắn về vai trò của tôn giáo đối với quần
chúng nhân dân. Trong thời kỳ mới Đảng ta có Nghị quyết 24 của BCT (ngày
16-10-1990) về tôn giáo, Nghị quyết này đã tạo nên bước ngoặt quan trọng
trong công tác tôn giáo.
Quán triệt Nghị quyết 24 của BCT, từ 1990 Đảng bộ tỉnh An Giang đã
lãnh đạo thực hiện công tác tôn giáo ở địa phương với những nét sáng tạo độc
đáo riêng ở một tỉnh biên giới đa dân tộc, đa tôn giáo của vùng Tây Nam Bộ.
Do đó, việc chọn đề tài “Đảng bộ tỉnh An Giang lãnh đạo thực hiện công
tác tôn giáo (1990 - 2004)” làm luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành
Lịch sử Đảng, tác giả bước đầu tìm hiểu nét đặc thù của tôn giáo ở An Giang
và sự lãnh đạo của Đảng bộ trong lĩnh vực tôn giáo. Đây là công tác quan
trọng của Đảng và Nhà nước trên mặt trận văn hoá tinh thần của bộ phận đông
dân cư ở tỉnh An Giang, rất cần được tổng kết, rút ra kinh nghiệm cho hoạt
động lãnh đạo, chỉ đạo ở các giai đoạn cách mạng tiếp theo của Đảng.

1




- Quá trình lãnh đạo thực hiện công tác tôn giáo của Đảng bộ, những
kinh nghiệm rút ra nhằm phát huy công tác tôn giáo vận trong thời gian tới.
3.3. Đối tượng nghiên cứu:
Tôn giáo luôn là vấn đề phức tạp. Dưới góc độ lịch sử, luận văn chỉ đi
sâu tìm hiểu công tác tôn giáo của Đảng bộ và tập trung vào thời kỳ 1986 –
2004.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở quan điểm của
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chính
sách của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo.
4.2. Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn vận dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, lịch sử, lôgíc,
chú trọng sử dụng phương pháp đối chiếu, so sánh để làm rõ mục tiêu nhiệm
vụ của luận văn.
5. Đóng góp mới về khoa học của đề tài
Đến nay tác giả chưa thấy có đề tài luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ lịch
sử nào nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh An Giang trong việc tổ
chức thực hiện đường lối của Đảng trên lĩnh vực tôn giáo. Vì vậy, thực hiện
luận văn này cũng là một đóng góp vào việc tổng kết lịch sử của Đảng ở địa
phương.
6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
- Luận văn bước đầu hệ thống hoá những chủ trương chính sách của
Đảng về công tác tôn giáo và quá trình lãnh đạo thực hiện của Đảng bộ tỉnh
An Giang, nêu ra được sự vận dụng sáng tạo những chủ trương chính sách của
Đảng về công tác tôn giáo của Đảng bộ tỉnh An Giang vào điều kiện cụ thể
của địa phương.

3


trực thuộc gồm: Thành phố Long Xuyên, thị xã Châu Đốc và 9 huyện, có 140
đơn vị hành chính cơ sở (118 xã, 11 phường, 11 thị trấn), 735 khóm, ấp. An
Giang có chiều dài theo hướng Bắc Nam là 86 km và Đông Tây là 87,2 km,
phía Tây Bắc giáp Campuchia với đường biên giới dài khoảng 104 km, Tây
Nam giáp tỉnh Kiên Giang 69,78km, Nam giáp thành phố Cần Thơ với đường
biên giới 44,73 km, phía Đông giáp tỉnh Đồng Tháp dài 107,62 km. An Giang
có 21 tuyến huyện dài 313,233 km và 3 tuyến tỉnh dài 222,159 km; được xác
định bằng 461 mốc địa giới hành chính các cấp gồm 39 mốc cấp tỉnh, 89 mốc
cấp huyện và 333 mốc cấp xã.
Các điểm cực Bắc trên vĩ độ 10 057’B (xã Khánh An, An Phú), cực Nam
trên vĩ độ 10012’B (xã thoại Giang, Thoại Sơn), cực Tây trên kinh độ 104 0
46’Đ (xã Vĩnh Gia, Tri Tôn), cực Đông trên kinh độ 105 035’Đ (xã Bình
Phước Xuân, Chợ Mới).
Ngày 23.5.1997 Uỷ ban Dân tộc miền núi công nhận 21 xã vùng núi
thuộc 2 huyện Tri Tôn (9 xã) và Tịnh Biên (12 xã) theo quyết định 42/UBQĐ
và công nhận vùng dân tộc đồng bằng gồm xã Lương An Trà, huyện Tri Tôn
5


và 5 xã: Đa Phước, Khánh Bình, Quốc Thái, Nhơn Hội, Vĩnh Tường của
huyện An Phú. Ngày 25.2.1998 Uỷ ban nhân dân Tỉnh ra Quyết định
21/1998/UBQĐ, An Giang có 17 xã biên giới của 5 huyện giáp Campuchia.
Tính đến 20.5.2003, dân số An Giang là 2.141.256 người trong đó dân số
sống ở thành thị chiếm 21,49%, ở nông thôn 78,51% đồng bào dân tộc thiểu
số gồm: Khmer, Chăm, Hoa chiếm 5,64 % dân số. Đồng bào Khmer có 90.441
người, chiếm 4,22% dân số, ở 5 huyện, 26 xã (chủ yếu ở các huyện: Tri Tôn,
Tịnh Biên, Châu Phú, Châu Thành, Thoại Sơn). Đồng bào người Hoa có
15.989 người, chủ yếu sinh sống ở các thị trấn, phường nội ô thành phố Long
Xuyên, Châu Đốc, Tân Châu. Đồng bào Chăm có 14.274 người, sống tập
trung ở các huyện An Phú, Tân Châu, PhúTân, Châu Thành, Thoại Sơn. Đồng

ma quỷ vào công cuộc khai khẩn, định cư của các cư dân và tính ác liệt của
chiến tranh giành dân, lấn đất của thực dân Pháp đã tạo cho họ tâm lý tin
tưởng vào sức mạnh siêu nhiên. Chính điều này đã lý giải tại sao An Giang là
nơi hội tụ và cũng là nơi hình thành nhiêu loại tín ngưỡng tôn giáo.
Giữa thế kỷ 19, miền Tây Nam bộ xảy ra chiến tranh liên miên, tàn
khốc, nạn đói kém và dịch bệnh hoành hành. Đây là giai đoạn ra đời các tôn
giáo mới ở An Giang.
Trước hết phải kể đến đạo Bửu Sơn Kỳ Hương do ông Đoàn Minh
Huyên sáng lập vào cuối năm 1849 tại Cốc ông Đạo Kiến ( nay là Tây An Cổ
Tự, xã Long Kiến, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang). Đoàn Minh Huyên (1807
– 1856) quê quán ở làng Tòng Sơn, Tổng An Định, nay là xã Mỹ Hưng, huyện
Thạnh Hưng, tỉnh Đồng Tháp. Ông là một sĩ phu yêu nước có hiểu biết sâu sắc
về sấm Trạng Trình. Trước cảnh loạn lạc, nhân dân cơ cực khốn cùng, hạn hán
kéo dài, dịch bệnh, đói kém đang hoành hành, Ông cho rằng; đó là điềm trời
báo trước sắp đổi đời, đời “hạ ngươn” sắp mãn, để bước vào “Hội Long Hoa”
lập đời “thượng ngươn”. Tiên - Phật sẽ mở “Hội Long Hoa” chọn những
người hiền đức, sống có nhân có nghĩa để sống đời “thượng ngươn” an lạc,
thanh bình mãi mãi. Còn những kẻ gian ác sẽ bị trừng trị thảm khốc.
7


Do giáo lý chủ yếu dựa vào sấm Trạng Trình, cách thức thờ cúng khác
hẳn Phật giáo, nên môi trường chùa Tây An đã hạn chế sự phát triển của đạo
Bửu Sơn Kỳ Hương. Mặt khác, để có nơi tu luyện, sinh sống, tập hợp lực
lượng, tránh được sự nhòm ngó của nhà cầm quyền, Đoàn Minh Huyên cùng
các đệ tử và tín đồ khai hoang, lập trại ruộng, xây chùa ở nhiều nơi, nhất là
vùng núi thuộc hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên (An Giang). Ông được đệ tử
và nhân dân trong vùng suy tôn là Đức Phật thầy Tây An. Hoạt động của Ông
chủ yếu là chữa bệnh cứu người, khai hoang, dạy người tu hành làm điều lành,
tránh điều dữ, nên đáp ứng được nhu cầu của người nông dân và hoàn cảnh xã

Nghĩa phát triển nhanh và gắn liền với quá trình hình thành và phát triển
những làng đạo, vùng đất mới của những người nông dân mất ruộng, địa bàn
hội tụ của những người yêu nước.
Suốt 21 năm kháng chiến chống Mỹ, đại bộ phận tín đồ Tứ Ân Hiếu
Nghĩa ở An Giang đã anh dũng tham gia đấu tranh cách mạng. Các xã có đông
tín đồ Tứ Ân Hiếu Nghĩa như Ba Chúc, Lương Phi, Lê Trì, Vĩnh Gia, Lạc
Quới, Long Sơn đều được phong tặng danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ
tranh nhân dân". Đó là niềm tự hào của tín đồ Tứ Ân Hiếu Nghĩa, những
người nông dân bình dị yêu nước.
Khi nói đến lịch sử hình thành và phát triển của đạo Phật giáo Hoà Hảo
phải kể đến người sáng lập là ông Huỳnh Phú Sổ. Ông là người thông minh,
có khiếu làm văn vần, học đến bằng sơ học Pháp – Việt. Ông mắc bệnh không
chữa khỏi, có người khuyên đến chữa ở ông Lê Hồng Nhật, một môn đệ của
Đức Phật thầy Đoàn Minh Huyên. Sau khi chữa khỏi bệnh, Ông theo Đạo Bửu
Sơn Kỳ Hương.
Năm 1937, Huỳnh Phú Sổ về quê, gặp lúc thiên tai mất mùa, dân đói ăn
thiếu mặc, ốm đau không thuốc chữa trị. Ông dùng thuốc nam chữa bệnh cho
dân không lấy tiền. Ông dùng sấm Trạng Trình để đoán thiên cơ, tự xưng là
Phật Thầy Tây An mượn xác phàm về để cứu độ chúng sinh. Từ đó người dân
gọi ông là “Thầy Tư Hoà Hảo”. Người nông dân An Giang lúc bấy giờ sống
9


cơ cực dưới ách áp bức bóc lột của thực dân, phong kiến; lại luôn đói khổ vì
thiên tai. Cuộc sống bế tắc nên phần nhiều họ muốn tìm đến với giáo lý của
Huỳnh Phú Sổ; quần chúng nhập môn theo đạo ngày càng đông, đạo Hòa Hảo
ra đời từ đó.
Bên cạnh các tôn giáo trên, ở An Giang còn có 194 đình thần, dinh,
miếu, đền thờ, am cốc theo phong tục tập quán của người Kinh, Hoa, Khmer.
Các hoạt động tín ngưỡng dân gian thu hút khá đông quần chúng như: Miếu

lượt du khách đến chiêm bái và tham quan .
Như trên đã trình bày, An Giang là tỉnh có nhiều tôn giáo, trong đó có
cả tôn giáo ngoại nhập và tôn giáo nội sinh. Tôn giáo nào cũng ra sức củng cố
đức tin cho tín đồ thông qua lễ nghi sinh động, giáo luật luôn cải sửa cho thích
nghi với đời sống xã hội, cơ sở thờ tự tu sửa khang trang, nhiều tu sĩ được đào
tạo ...nên hoạt động thu hút đông đảo tín đồ đến nơi thờ tự. Một số tín đồ trẻ,
tuy có ý thức thoát ly dần sự ràng buộc của giáo hội để lao vào cuộc sống tìm
cơ hội lập thân, lập nghiệp, nhưng khi gặp khó khăn trắc trở, họ chưa đủ sức
vượt qua, nên lại tìm đến giáo hội cầu xin sự hỗ trợ vật chất hoặc chỗ dựa tinh
thần. Do đó, tín đồ các tôn giáo này vẫn không ngừng tăng lên.
Sau ngày giải phóng (1975) đồng bào có đạo ở An Giang ngày càng tin
tưởng sâu sắc vào sự lãnh đạo của Đảng, thấu suốt chính sách nhất quán đúng
đắn của Đảng và Nhà nước về tôn giáo. Họ ý thức được đó là cơ hội lớn của
tín đồ, tổ chức tôn giáo thực hiện nguyện vọng “tốt đời, đẹp đạo”. Do đó, họ
yên tâm hành đạo, ý thức chấp hành pháp luật ngày càng nâng cao hơn, sự
mặc cảm là người có đạo giảm dần. Các chức sắc, tu sĩ nhìn chung đã có ý
thức gắn bó với dân tộc, tuân thủ pháp luật, tích cực hưởng ứng công cuộc đổi
mới đất nước, nhiều người tham gia vào Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và cơ quan
dân cử các cấp. Một số chức sắc, tu sĩ lợi dụng sơ hở của pháp luật và việc
quản lý của chính phủ để phát triển đạo. Tuy nhiên, do trình độ nhận thức hạn
chế, một bộ phận tín đồ bị lợi dụng dẫn đến ý thức chấp hành pháp luật còn
hạn chế; thậm chí còn có bộ phận nhẹ dạ, cả tin nghe lời xúi giục và kích động
11


của các phần tử xấu. Một bộ phận nhỏ chức sắc, tu sĩ có thái độ chính trị phức
tạp, cực đoan, khi bị đấu tranh xử lý từng bước đã có chuyển biến .
Mối quan hệ quốc tế các tôn giáo ngày càng mở rộng và cũng phát sinh
nhiều mặt phức tạp. Một số tôn giáo có mối quan hệ quốc tế, cũng như một bộ
phận “hải ngoại” của các tôn giáo không có quan hệ quốc tế (Cao Đài, Hoà

Đa số sư sãi người Khmer còn trẻ, trình độ học còn hạn chế nên vai trò
xã hội giảm. Tuy đã tách dần khỏi sự chi phối của Phật giáo ở Campuchia, gắn
bó chặt chẽ trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam, nhưng Phật giáo ở An Giang
vẫn còn chịu ảnh hưởng nhất định từ bên ngoài.
Những hoạt động chính trị quá khích của nhóm Phật giáo Thống nhất
cũ, tuy có tác động đến Phật giáo An Giang, nhưng không làm ảnh hưởng
nhiều đến mặt tích cực của Phật giáo trong tỉnh.
Công giáo.
Công giáo có 60.225 tín đồ, 56 chức sắc (2 giám mục, 58 linh mục) 261
tu sĩ, 52 cơ sở thờ tự và 1 Toà Giám mục Giáo Phận. Tôn giáo ở An Giang
hoạt động theo Thư chung của Hội đồng Giám mục “Sống phúc âm giữa lòng
dân tộc, phục vụ hạnh phúc đồng bào” ý thức dân tộc và trách nhiệm công dân
của giáo dân nâng lên. Một mặt họ luôn luôn tôn trọng và “thân thiện với
chính quyền”, không vi phạm pháp luật, tạo căng thẳng, nhưng mặt khác họ
tranh thủ chính sách đổi mới và khai thác những sơ hở của ta để tập trung
củng cố tổ chức cơ sở, củng cố đức tin ở thanh thiếu niên và thường thông qua
hoạt động công tác từ thiện phát triển tín đồ.
Hội đồng Giáo Xứ với hoạt động tích cực của các hội đoàn đã vượt qúa
nhu cầu tín ngưỡng tôn giáo. Một số hội đoàn bất hợp pháp tuy đã bị giải tán,
nhưng vẫn lén lút tìm cách khôi phục lại để phục vụ mục tiêu của Giáo hội là
phát triển đạo và nắm quần chúng.
Phật giáo Hòa Hảo
Phật giáo Hòa Hảo có 791.715 tín đồ, 110 chức viện (đại diện Phật giáo
Hòa Hảo), 04 cơ sở thờ tự. Đại đa số tín đồ là nông dân yêu nước, sinh hoạt
tôn giáo bình thường, có ý thức chấp hành chính sách, pháp luật của Nhà nước
tích cực tham gia các phong trào cách mạng ở địa phương.
13


Ban đại diện Phật giáo Hòa Hảo được Nhà nước công nhận tư cách

Tín đồ Hồi giáo có thân nhân nước ngoài khá đông và thường xuyên
quan hệ qua lại. Họ luôn bị nhiều thế lực Hồi giáo cực đoan lôi kéo, tuy có bị
ảnh hưởng nhất định nhưng chưa thấy có vấn đề chính trị phức tạp.
Cao Đài
Cao Đài có 80.424 tín đồ, đa số là tín đồ Cao Đài Tây Ninh, 17 lễ sanh,
126 chánh, phó trị sự và thông sự; 30 thánh thất, 4 điện thờ Phật mẫu và 6
chùa. Ở An Giang có 5 hệ phái: Cao Đài Tây Ninh, Cao Đài Ban Chỉnh Đạo,
Cao Đài Tiên Thiên, Cao Đài Chiếu Minh, Thiên Khai Huỳnh Đạo. Tín đồ
đạo Cao Đài chủ yếu là nông dân, chấp hành đúng pháp luật, chính sách của
Nhà nước. Song 40 năm qua, có hàng trăm tên chức việc và Cao Đài Tây Ninh
(theo Hộ pháp Phạm Công Tắc) luôn chống lại Hội Thánh, nay cấu kết với Lê
Quang Tấn hoạt động trái phép, làm ảnh hưởng đến trật tự xã hội.
Tứ Â n Hiếu Nghĩa
Tứ Ân Hiếu Nghĩa có hơn 41.297 tín đồ, 25 trưởng gánh, 119 cư sĩ, 28
cơ sở thờ tự (chùa). Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa tu hành theo sự hướng dẫn của
trưởng gánh và cư sĩ trong gánh; không có tổ chức hành chính trong Giáo hội.
Tín đồ của đạo Tứ Ân HIếu Nghĩa, hầu hết là nhân dân lao động, có
truyền thống yêu nước và cách mạng, nên hoạt động tôn giáo của họ luôn gắn
với dân tộc, tuân thủ chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước.
Họ tham gia tích cực các phong trào xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ
nghĩa ở địa phương. Nhưng do hình thức sinh hoạt tôn giáo theo từng gánh tập
thể riêng rẽ, nên trong nội bộ đạo, giữa gánh này với gánh khác đôi lúc có xảy
ra mâu thuẫn, mất đoàn kết, tạo nên sơ hở để bọn xấu lợi dụng.
Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương
Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương có hơn 10.596 tín đồ, 08 cơ sở thờ tự. Tín đồ
Bửu Sơn Kỳ Hương tu tại gia, gắn với nền nếp thờ cúng ông bà theo truyền
thống của dân tộc Việt, chỉ riêng những ngày lễ quan trọng như lễ Kỷ niệm
Phật thầy Đoàn Minh Huyên thì họ mới tập trung đến chùa làm lễ. Chùa do
15




vùng. Ngoài ra, các cơ sở thờ tự còn là những công trình kiến trúc, là nơi bảo
tồn, lưu giữ các giá trị văn hóa nghệ thuật. Nó không những là nơi tổ chức các
các lễ hội truyền thống của các dân tộc mà còn là nơi lưu giữ kinh sách, bảo
quản và lưu giữ các hiện vật cổ của cha ông.
Nhìn chung, giáo lý, giáo luật và sinh hoạt của các tôn giáo đều có điểm
chung, tích cực là khuyên răn con người sống nhân nghĩa, đùm bọc lẫn nhau…
Như vậy, đạo đức tôn giáo có vai trò quan trọng vào việc điều chỉnh hành vi
của người dân có đạo; nhờ đó góp phần tạo nên một môi trường xã hội lành
mạnh, một đời sống tinh thần ấm áp cho người dân.
Bên cạnh đó, do quá nặng nề về lễ nghi tôn giáo, nên tín đồ các tôn giáo
thường có ít thời gian, công sức dành cho phát sản xuất và các hoạt động văn
hoá, xã hội nên đời sống chậm phát triển. Ở An Giang Sự phụ thuộc quá lớn
về giáo lý, giáo luật của một số tôn giáo như Phật giáo Tiểu thừa Nam Tông
của dân tộc Khmer và Hồi giáo của dân tộc Chăm đã làm chậm quá trình phát
triển của cộng đồng dân cư. Đây là một trong những nguyên nhân đã làm cho
cộng đồng người Khmer và người Chăm bị tụt hậu hơn so vơi cộng đồng dân
cư khác trong Tỉnh về mặt kinh tế, văn hoá, xã hội. Bên cạnh đó, do ảnh
hưởng của kinh tế thị trường, các giá trị chuẩn mực đang ít nhiều bị đảo lộn và
tác động đến đời sống nhân dân trong Tỉnh nói chung và đời sống người dân
có đạo nói riêng. Đời sống của người dân trong Tỉnh đã bộc lộ nhiều điều
đáng lo ngại: Đó là sự phục hồi những phong tục tập quán cũ có cả lạc hậu và
mê tín, thể hiện trong lễ hội định kỳ của các tôn giáo. Hơn nữa có những biểu
hiện của sự xa rời những giá trị văn hóa truyền thống, thay vào đó là tệ sùng
bái nước ngoài, lối sống thực dụng, xem hưởng thụ vật chất là tối thượng dẫn
đến các tệ nạn xã hội. Ngoài ra nhiều phong tục tập quán của dân tộc, tôn giáo
đã và đang trở thành gánh nặng cho đồng bào trong khi đời sống của họ rất
khó khăn nghèo túng. Mặt khác họ bị các thế lực xấu lợi dụng nên một số gia
đình đã từ bỏ tôn giáo nhiều đời của gia đình dòng họ mình để đi theo tôn giáo

tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của một thế giới không có
18


trái tim, cũng giống như nó là điều kiện tinh thần của điều kiện xã hội không
có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” (1). Kế thừa tư tưởng của
Mác và Ăngghen, khi định nghĩa về tôn giáo, Lênin viết: “Tôn giáo là một
trong những hình thức áp bức về tinh thần, luôn luôn và bất cứ nơi đâu cũng
đè nặng lên quần chúng nhân dân khốn khổ vì phải lao động suốt đời cho
người khác hưởng, vì phải chịu cảnh khốn cùng và cô độc. Sự bất lực của giai
cấp bị bóc lột trong cuộc đấu tranh chống bọn bóc lột tất nhiên đẻ ra lòng tin
vào một cuộc đời tốt đẹp hơn ở thế giới bên kia, cũng giống y như sự bất lực
của người dã man trong cuộc đấu tranh chống thiên nhiên đẻ ra lòng tin vào
thần thánh, ma quỷ, vào những phép màu” (1). Như vậy, tôn giáo là sản phẩm
của lịch sử, do con người sáng tạo ra, rồi bị tôn giáo chi phối trở lại. “Con
người sáng tạo ra tôn giáo, chứ tôn giáo không sáng tạo ra con người” (2)
(C.Mác và Ăngghen toàn tập Nxb CTQG HN 1995 t1 tr 569)
Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác-Lênin, lịch sử dân tộc Việt Nam và lịch sử
văn hoá nhân loại, Hồ Chí Minh cho rằng, tôn giáo là một hiện tượng có tính
lịch sử, xã hội và văn hóa, tham gia vào quá trình sáng tạo văn hoá nhân loại.
Trong Nhật ký trong tù ở mục Đọc sách, Người viết: “ý nghĩa của văn hóa: Vì
lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới tạo và phát minh
ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa hoc, tôn giáo, văn học, nghệ
thật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương tiện sử
dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát sinh đó tức là văn hóa”(Hồ Chí Minh
ttNxb CTQG, HN 1995 t3 tr 431)
Như vậy, tôn giáo là một thực thể xã hội, luôn gắn liền với đời sống
kinh tế, xã hội, văn hoá của một nước, là nhu cầu tinh thần của đại bộ phận
nhân dân. Theo Các Mác: “ngay trong một nước mà giải phóng chính trị đã
hoàn thành, tôn giáo không những vẫn tồn tại mà còn biểu hiện sức sống và

tác tôn giáo ở các ngành, các cấp, có quy hoach, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ cho công tác này. Mặt trận và các đoàn thể tăng cường công tác vận động tín
đồ, chức sắc các tôn giáo hoà nhập cùng cộng đồng trong công cuộc đổi mới; thực
hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư”,
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”..., hăng hái tham gia phong trào
thi đua yêu nước ở từng cơ sở, địa phương và cả nước.
1.2.2. Đường lối, chính sách của Đảng về tôn giáo và sự lãnh đạo
thực hiện của Đảng bộ thời kỳ trước 1990
Thục dân Pháp khi xâm chiếm nước ta đã dùng làm chính sách chia để
trị, phân biệt bộ phận Kitô giáo và không Kitô giáo. Nhằm chống lại âm mưu
thâm độc của chủ nghĩa thực dân, từ khi ra đời, Đảng đã lưu ý vấn đề tôn giáo,
tuyên bố tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng, đồng thời chống lại việc thực
dân Pháp liên kết với các tổ chức tôn giáo thống trị nhân dân ta. Trong một số
tác phẩm - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã vạch trần âm mưu của chủ
nghĩa thực dân Pháp câu kết với Giáo hội Công giáo trong quá trình xâm lược
và áp bức, bóc lột của nhân dân Việt Nam. Chương trình Việt Minh do Mặt
Trận Việt Minh ban hành năm 1941 đã thể hiện rõ: “...2.Ban bố các quyền tự
22


do dân chủ cho nhân dân: tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức, tự do
tín ngưỡng, tự do đi lại trong nước, tự do xuất dương. Bỏ chế độ bắt phu và
các chế độ áp bức do đế quốc đặt ra” (1). Trong bài thơ Mười chính sách của
Việt Minh, Hồ Chí Minh đã viết:
“...Hội hè, tín ngưỡng, báo chương,
Họp hành, đi lại, có quyền tự do”(2)
Cách mạng tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức
được một cách đầy đủ và sâu sắc ý nghĩa của khối đại đoàn kết toàn dân đối
với công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước. Nên chỉ một ngày sau khi tuyên
bố Độc lập, ngày 3 tháng 9 năm 1945, trong phiên họp của Chính phủ, Người

bất dịch là đoàn kết, bình đẳng và tự do tín ngưỡng, bảo vệ các cơ sở thờ tự,
nơi đất thiêng của các tôn giáo; đồng thời chống lại âm mưu của các kẻ thù
dân tộc lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo. Nguyên tắc đó đã được thể hiện ngày
càng đầy đủ, cụ thể trong các văn kiện của Đảng, Nhà nước và được thực hiện
nhất quán trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế
quốc Mỹ. Sau ngày hoà bình lập lại (1955), Sắc lệnh về vấn đề tôn giáo ngày
14-6-1955 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Điều 1 khẳng
định: “Chính phủ đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng và tự do thờ cúng của nhân
dân. Không ai được xâm phạm quyền tự do ấy. Mọi người Việt Nam đều có
quyền tự do theo một tôn giáo hoặc không theo một tôn giáo nào”. Sắc lệnh
này cũng nêu rõ sự tôn trọng các hoạt động tôn giáo, đồng thời yêu cầu “Khi
truyền bá tôn giáo, các nhà tu hành có nhiệm vụ giáo dục cho các tín đồ lòng
yêu nước, nghĩa vụ của người công dân, ý thức tôn trọng chính quyền nhân
dân và pháp luật của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà”(1). Trong hoàn cảnh
kẻ thù luôn lợi dụng các tổ chức tôn giáo chống phá kháng chiến, phá hoại hòa
bình thống nhất, độc lập, dân chủ, Điều 7 ghi rõ: “ Pháp luật sẽ trừng trị những
kẻ nào mượn danh nghĩa tôn giáo để phá hoại đoàn kết, ngăn trở tín đồ làm
nghĩa vụ công dân, xâm phạm tự do tín ngưỡng và tự do tư tưởng của người
khác, hoặc làm những việc khác trái pháp luật”. Tinh thần của Sắc lệnh đó
được toàn Đảng, toàn dân quán triệt, đã thực hiện có kết quả trong những năm
kháng chiến chống Mỹ cứu nước; nhờ đó đã tạo ra sự đoàn kết, nhất trí giữa
những người không tín ngưỡng tôn giáo và những người thuộc các tín ngưỡng
tôn giáo khác nhau vì mục tiêu giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước.

1

Báo Nhân Dân số ra ngày 4-7-1955

24





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status