SKKN sáng kiến kinh ngiệm kinh nghiệm dạy học phần đọc hiểu văn bản cho học sinh THPT - Pdf 39

Trang
M ỤC L ỤC
A. ĐẶT VẤN ĐỀ...........................................................................
I. Lí do chọn đề tài……………………………………………….
II. Phạm vi đề tài, mục đích nghiên cứu………………………….
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.............................................................
I. Cơ sở lí luận ……………………………………………………
1. Khái niệm đọc hiểu văn bản.......................................................
2. Những nội dung thường ra trong đề đọc hiểu văn bản…………
II. Thực trạng của việc dạy học đọc hiểu văn bản trong môn Ngữ
Văn THPT……………………………………...…........................
1. Thực trạng của việc dạy học phần đọc hiểu văn bản trong môn
Ngữ Văn THPT…………………………………………………..
2. Kết quả của thực trạng dạy học phần đọc hiểu văn bản trong
môn Ngữ Văn THPT. ....................................................................
III. Giải pháp thực hiện..................................................................
1. Hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản trong giờ Đọc văn…….
2. Xây dựng chuyên đề đọc hiểu văn bản để ôn tập cho học sinh
trong các giờ học thêm……………………………………………
3. Xây dựng ngân hàng đề đọc hiểu cho học sinh thực hành……..
4. Giao bài tập về nhà…..................................................................
5. Kiểm tra, đánh giá năng lực đọc hiểu của học sinh……………
IV. Những lưu ý khi thực hiện……………………………………
1. Về phía giáo viên........................................................................
2. Về phía học sinh………………….............................................
V. Kiểm nghiệm………………………………………………….
1. Về phía học sinh……………………………………………….
2. Về phía giáo viên………………………………………………
C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT……………………….
I. Kết luận………………………………………………………..
II. Kiến nghị, đề xuất…………………………………………….



A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lí do chọn đề tài
Để đáp ứng yêu cầu hội nhập, toàn cầu hóa, nền Giáo dục nước ta đang thực
hiện đổi mới căn bản và toàn diện. Từ năm 2012 Việt Nam đã chính thức tham gia
vào PISA- (PISA là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Programme for
International Student Assessment ), “Chương trình đánh giá học sinh quốc tế” do
Hiệp hội các nước phát triển (OECD) khởi xướng và chỉ đạo, nhằm tìm kiếm các
chỉ số đánh giá tính hiệu quả – chất lượng của hệ thống giáo dục của mỗi nước
tham gia, qua đó rút ra các bài học về chính sách đối với giáo dục phổ thông.Trong
đó, các năng lực chủ yếu được chú trọng là Toán học, Đọc hiểu và khoa học phổ
thông. Thực tế ấy đòi hỏi việc dạy học trong trường phổ thông nói chung và môn
Ngữ Văn nói riêng phải có sự đổi mới.
Nếu như dạy học Văn theo quan điểm truyền thống là giảng văn, phân tích,
bình giảng tác phẩm văn học thì theo quan điểm hiện đại, lấy người học là trung
tâm, dạy học Văn có sự mở rộng về phạm vi. Việc dạy học Ngữ Văn không dừng
lại ở việc thẩm bình tư tưởng nghệ thuật của các tác phẩm văn học. Chú trọng hình
thành kỹ năng, phát huy tính tích cực chủ động của học sinh, việc đọc hiểu văn bản
đã trở thành nền tảng của dạy học Ngữ Văn trong trường phổ thông.
Mặt khác, từ năm học 2013-2014 , cấu trúc đề thi tốt nghiệp và đại học môn
Ngữ Văn đã có sự thay đổi. Câu 1 chuyển từ nội dung tái hiện kiến thức văn học
trong chương trình thành nội dụng đọc hiểu một ngữ liệu có hoặc không có trong
chương trình.
Đặc biệt, căn cứ vào đề thi minh họa của Bộ giáo dục và đào tạo năm 2015,
trong đề thi Ngữ Văn THPT quốc gia, câu đọc hiểu chiếm tới 3,0/10,0 điểm ( gồm
2 ngữ liệu với 8 câu hỏi nhỏ). Điều đó có nghĩa là học sinh muốn đạt kết quả tốt bài
thi Ngữ Văn phải làm tốt phần đọc hiểu. Vì vậy, phần đọc hiểu văn bản là nội dung
quan trọng trong chương trình ôn tập cho học sinh lớp 12.
Làm thế nào để giúp học sinh nắm vững các kiến thức và kỹ năng từ đó làm

chữ viết, dùng trí óc để tư duy và lưu giữ những nội dung mà mình đã đọc và sử
dụng bộ máy phát âm phát ra âm thanh nhằm truyền đạt đến người nghe.
Định nghĩa về năng lực đọc hiểu của PISA:
Năng lực đọc hiểu bao gồm một tập hợp các năng lực nhận thức, từ việc giãi
mã căn bản đến các kiến thức về từ ngữ, ngữ pháp, ngôn ngữ, cấu trúc văn bản và
cách trình bày, tới kiến thức về thế giới. Nó cũng bao gồm cả các năng lực nhận
thức mở rộng: kiến thức và khả năng sử dụng các kế hoạch thích hợp khi tiếp cận
xử lí văn bản.
Theo GS Trần Đình Sử, “khởi điểm của môn Ngữ văn là dạy học sinh đọc
hiểu trực tiếp văn bản văn học của nhà văn… Nếu học sinh không trực tiếp đọc các
văn bản ấy, không hiểu được văn bản, thì coi như mọi yêu cầu, mục tiêu cao đẹp
của môn Văn đều chỉ là nói suông, khó với tới, đừng nói gì tới tình yêu văn học”.
Do đó, có thể nói rèn luyện năng lực, kĩ năng đọc – hiểu văn bản cho học
sinh là một trong những yêu cầu quan trọng, khoa học và đúng đắn để các em tiếp
cận môn Ngữ văn, đánh thức tình yêu đối với môn Văn và có khả năng vận dụng
sáng tạo kiến thức đã học trong nhà trường vào cuộc sống.
Đọc hiểu là hoạt động truy tìm và giải mã ý nghĩa của văn bản. Dạy đọc hiểu
là việc giáo viên hướng dẫn học sinh sử dụng những kỹ năng để đọc hiểu văn bản
thông qua các hoạt động, thao tác và theo một quy trình nhất định nào đó . Đọc
hiểu văn bản đề cao vai trò của chủ thể tích cực, sáng tạo của học sinh trong hoạt
động đọc. Song điều quan trọng là chúng ta cần thay đổi quan điểm về việc sử dụng
phương pháp dạy học Ngữ Văn nói chung và phương pháp dạy học đọc hiểu nói
riêng, nghĩa là không có một phương pháp dạy học đọc hiểu duy nhất nào cả. Tùy
thuộc vào loại văn bản, mục đích đọc và đối tượng học sinh, người thầy được tự do
lựa chọn bất kỳ phương tiện giảng dạy và cách hướng dẫn nào mà họ muốn.
2. Những nội dung thường ra trong đề đọc hiểu văn bản.
Khảo sát đề thi của Bộ giáo dục và đào tạo có thể thấy: Bộ Giáo dục và đào
tạo đã vận dụng chương trình PISA để xây dựng đề đọc hiểu văn bản. Trong đó, ma
trận của đề thi đọc hiểu chia thành ba mức độ : Nhận biết, thông hiểu, vận dụng
( vận dụng thấp và vận dụng cao) và thường hướng tới các nội dung sau.

- Vận dụng để lý giải vấn đề có liên quan bên
ngoài văn bản.

II. Thực trạng của việc dạy học phần đọc hiểu văn bản trong môn Ngữ
Văn THPT.
1. Thực trạngcủa việc dạy học phần đọc hiểu văn bản trong môn Ngữ Văn
THPT.
“ Thi gì học nấy”- đó là một thực tế tồn tại từ lâu nay. Vì thế, trước kia, phần
đọc hiểu văn bản bị xem nhẹ, gần như không có trong các chuyên đề ôn thi tốt
nghiệp THPT và ôn thi Đại học, Cao đẳng. Điều đáng nói nữa là, vì đề thi không
kiểm tra phần kiến thức đọc hiểu nên các bài Tiếng Việt và Làm Văn trong chương
trình chỉ dạy để học sinh biết mà không đi rèn luyện kỹ càng. Ngay trong các giờ
Đọc Văn bản giáo viên chỉ chú trọng đến nội dung tư tưởng và đặc sắc nghệ thuật
mà ít chú ý đến việc cho học sinh tiến hành đọc hiểu thực sự.
Đến năm 2014, khi câu 1 trong đề thi Tốt nghiệp THPT và đề thi Đại học,
cao đẳng môn Ngữ Văn chuyển từ nội dung tái hiện kiến thức trong các tác phẩm
thuộc chương trình trong Sách giáo khoa sang đọc hiểu một ngữ liệu có trong
chương trình hoặc ngoài chương trình thì phần đọc hiểu văn bản đã trở thành một
nội dung quan trọng trong kế hoạch môn học.
2. Kết quả của thực trạng dạy học phần đọc hiểu văn bản trong môn Ngữ
Văn THPT.
Vì trong suốt một thời gian dài việc đọc hiểu văn bản chưa được chú ý nên
kỹ năng đọc hiểu của học sinh nói chung và học sinh lớp 12 nói riêng còn nhiều
Trang 5


hạn chế. Tôi đã tiến hành khảo sát thực tế tại trường THPT Triệu Sơn 2 nơi tôi
đang trực tiếp dạy học môn Ngữ Văn và nhận thấy: nhiều học sinh lúng túng không
biết phải trả lời các câu hỏi trong phần đọc hiểu như thế nào? Viết thành bài hay
thành đoạn? Có được gạch đầu dòng không? Nhiều em còn không thể phân biệt

nêu ra các câu hỏi để học sinh thảo luận trả lời:
? Cho biết đoạn thơ sử dụng phương thức biểu đạt gì?
? Nội dung của đoạn thơ trên là gì?
? Xác định các biện pháp tu từ và phân tích hiệu quả của các biện pháp ấy?

Trang 6


? Nhận xét về cách sử dụng thanh điệu ở câu thơ: “ Nhà ai Pha Luông mưa
xa khơi”?
? Cảm nhận của anh/chị về cảnh thiên nhiên núi rừng Tây Bắc và người lính
Tây Tiến qua đoạn thơ trên?
Hay khi đi hướng dẫn học sinh tìm hiểu hình tượng rừng xà nu trong tác
phẩm “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành tôi đã hướng dẫn học sinh đọc hiểu
đoạn đầu của văn bản thông qua các câu hỏi sau:
? Đoạn văn bản trên sử dụng các phương thức biểu đạt gì?
? Xác định nội dung của đoạn trích?
? Cho biết cây xà nu được khắc hoạ trong đoạn trích có những đặc điểm gì?
? Hình ảnh “ cạnh một cái cây mới ngã gục đã có bốn năm cây con mọc lên,
hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời…” có ý nghĩa gì?
? Chỉ ra biện pháp tu từ được tác giả sử dụng trong đoạn văn trên?
Tôi nhận thấy cách dạy này đã phát huy tính tích cực của học sinh. Các em
không chỉ nắm được kiến thức về tác phẩm mà còn được rèn luyện kỹ năng đọc
hiểu văn bản.
2. Xây dựng chuyên đề đọc hiểu văn bản để ôn tập cho học sinh trong các
giờ học thêm.
Vì Ngữ Văn là môn thi bắt buộc trong kỳ thi tốt nghiệp THPT và năm nay là
kỳ thi THPT quốc gia nên việc tăng cường học thêm môn Ngữ Văn là một nội dung
trong kế hoạch chuyên môn của các trường THPT.
Là giáo viên trực tiếp dạy học Ngữ Văn ở các lớp 12, theo kế hoạch chung

thống một nội dung lớn. 2/ Kiến thức về câu:
Sau đó GV điều khiển cho
.
Các thành phần câu: Chủ ngữ, vị ngữ,
HS thảo luận và chốt lại trạng ngữ, khởi ngữ, thành phần biệt lập..
các kiến thức cơ bản.

Các loại câu phân loại theo cấu tạo ngữ
pháp

Các loại câu phân loại theo mục đích nói
(trực tiếp, gián tiếp).

Câu tỉnh lược, câu đặc biệt, câu khẳng định,
câu phủ định,…
3/ Kiến thức về các biện pháp tu từ:

Tu từ về ngữ âm: điệp âm, điệp vần, điệp
thanh, tạo âm hưởng và nhịp điệu cho câu,…

Tu từ về từ: So sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán
dụ, tương phản, chơi chữ, nói giảm, nói
tránh, nói quá.

Tu từ về câu: Lặp cú pháp, liệt kê, chêm
xen, câu hỏi tu từ, đảo ngữ, đối, im lặng,…
4/ Kiến thức về văn bản:

Các phong cách ngôn ngữ: PCNN sinh hoạt,
chính luận, báo chí, khoa học, hành chính,

văn bản.
Các đề trong Ngân hàng đề đọc hiểu được sắp xếp theo trình tự: Các văn bản
trong chương trình (Văn bản Đọc Văn, Văn bản đọc thêm), các văn bản ngoài
chương trình.
NGÂN HÀNG ĐỀ ĐỌC HIỂU VĂN BẢN.
Đề 1: Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi nêu ở dưới.
"Tiếng trống thu không trên cái chòi của huyện nhỏ ; từng tiếng một vang ra
để gọi buổi chiều. Phương tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng
như hòn than sắp tàn. Dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình rõ rệt trên nền
trời.
Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran
ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào. Trong cửa hàng hơi tối muỗi đã bắt đầu
vo ve. Liên ngồi yên lặng bên mấy quả thuốc sơn đen ; đôi mắt chị bóng tối ngập
đầy dần và cái buồn của buổi chiều quê thấm thía vào tâm hồn ngây thơ của chị ;
Liên không hiểu sao, nhưng chị thấy lòng buồn man mác trước cái giờ khắc của
ngày tàn”.
(Trích "Hai đứa trẻ" - Thạch Lam)
1. Đoạn văn trên được viết theo phương thức nào là chính?
2. Nêu nội dung của đoạn văn?
3. Những đặc sắc về nghệ thuật trong đoạn văn? Tác dụng?
4. Vẻ đẹp văn phong Thạch Lam qua đoạn văn trên.
Đề 2: Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi nêu ở dưới
"Một người tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng, đang dậm tô nét chữ trên tấm
lụa trắng tinh căng phẳng trên mảnh ván. Người tù viết xong một chữ, viên quản
ngục lại vội khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ đặt trên phiến lụa
óng. Và cái thầy thơ lại gầy gò, thì run run bưng chậu mực. Thay bút con, đề xong
lạc khoản, ông Huấn Cao thở dài, buồn bã đỡ viên quan ngục đứng thẳng người
dậy và đĩnh đạc bảo:
Trang 9


rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình
đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.
Bản tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791
cũng nói:
"Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự
do và bình đẳng về quyền lợi".
Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.
( “Tuyên ngôn độc lập” – Hồ Chí Minh)
1. Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản.
2. Xác định phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích trên.
3. Trong đoạn văn bản trên tác giả sử dụng những biện pháp tu từ nào?
4. Tại sao trong phần đầu bản “Tuyên ngôn độc lập” của Việt Nam Hồ Chí Minh
lại dẫn lời trong hai bản tuyên ngôn của Mỹ và Pháp?
Đề 8: Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi:
“ Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Trang 12


Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức”
( “Sóng” – Xuân Quỳnh)
1. Cho biết nội dung của đoạn thơ trên.
2. Đoạn thơ trên sử dụng phương thức biểu đạt nào?
3. Xác định các biện pháp tu từ trong đoạn thơ trên.
4. Anh/chị hiểu như thế nào về hai câu thơ cuối.
Đề 9: Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi:
Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa

Như xuân đến chim rừng lông trở biếc
Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương.
(Trích Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên)
1. Nêu ý chính của đoạn thơ?
2. Xác định các biện pháp tu từ trong đoạn thơ và nêu tác dụng của nó trong
việc thể hiện nội dung?
3. Nêu ngắn gọn chiều sâu triết lí trong câu thơ : Tình yêu làm đất lạ hóa quê
hương. ?
Đề 12: Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi nêu ở dưới.
Đám than đã vạc hẳn lửa. Mỵ không thổi cũng không đứng lên. Mỵ nhớ lại
đời mình. Mỵ tưởng tượng như có thể một lúc nào, biết đâu A Phủ chẳng trốn được
rồi, lúc đó bố con thống lý sẽ đổ là Mỵ đã cởi trói cho nó, Mỵ liền phải trói thay
vào đấy. Mỵ chết trên cái cọc ấy. Nghĩ thế, nhưng làm sao Mỵ cũng không thấy
sợ...Trong nhà tối bưng, Mỵ rón rén bước lại, A Phủ vẫn nhắm mắt. Nhưng Mỵ
tưởng như A Phủ biết có người bước lại... Mỵ rút con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây
mây. A Phủ thở phè từng hơi, như rắn thở, không biết mê hay tỉnh.Lần lần, đến lúc
gỡ được hết dây trói ở người A Phủ thì Mỵ cũng hốt hoảng. Mỵ chỉ thì thào được
một tiếng "Đi đi..." rồi Mỵ nghẹn lại. A Phủ khuỵu xuống không bước nổi. Nhưng
trước cái chết có thể đến nơi ngay, A Phủ lại quật sức vùng lên, chạy.
Mỵ đứng lặng trong bóng tối.
Trời tối lắm. Mỵ vẫn băng đi. Mỵ đuổi kịp A Phủ, đã lăn, chạy xuống tới lưng
dốc.
(Trích Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài)
1. Đoạn văn trên được viết theo phương thức nào là chính?
2. Nội dung chủ yếu của đoạn văn bản là gì ?
3. Các từ láy được gạch chân: rón rén , hốt hoảng, thì thào đạt hiệu quả nghệ thuật
như thế nào khi diễn tả quá trình Mị cởi trói cho A Phủ ?
4. Tại sao câu văn Mỵ đứng lặng trong bóng tối. được tách thành một dòng riêng?
Đề 13: Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi nêu ở dưới.
Một loạt đạn súng lớn văng vẳng dội đến ầm ĩ trên ngọn cây. Rồi loạt thứ

nan.
Vẫn là ngày hăm ba cúng ông Táo, đêm ba mươi cúng tất niên, hái cành lộc. Vẫn
là ngày mồng một he hé cửa đón đợi người xông nhà, dặn dò nhau ý tứ giữ gìn
kiêng cữ cho khỏi dông cả năm dài. Ngày đầu xuân, cơm nguội không rang để cho
đời khỏi khô kháo, nhà không quét cho tài lộc khỏi thất tán. Vẫn là mùi hương hoa
ngan ngát nơi bàn thờ ấy. Vẫn là làn không khí mới mẻ, hơi bỡ ngỡ, trịnh trọng ấy.
Vẫn những gương mặt cởi mở, chan hoà giữa khung cảnh trời đất tươi đẹp vì được
niềm phấn chấn của con người thâm nhập giao hoà.”
( Trích “Mùa lá rụng trong vườn”-Ma Văn Kháng)
1. Đoạn văn trên khẳng định điều gì?
2. Biện pháp nghệ thuật được sử dụng nhiều nhất trong đoạn văn trên là gì? Nêu
tác dụng của biện pháp nghệ thuật đó?
3. Cụm từ hai chặng đường vất vả, gian nan là để chỉ điều gì?
4. Đặt tiêu đề cho đoạn văn trên.
Đề 15: Đọc đoạn văn bản sau và trả lời câu hỏi:
“... Với một tốc độ truyền tải như vũ bão, Internet nói chung, Facebook nói
riêng hàm chứa hiều thông tin không được kiểm chứng, sai sự thật, thậm chí độc
Trang 15


hại. Vì thế, nó cực kì nguy hiểm, có thể gây ảnh hưởng xấu đến chính trị, kinh tế,
đạo đức … và nhiều mặt của đời sống, có thể gây nguy hại cho quốc gia, tập thể
hay các cá nhân. Do được sáng tạo trong môi trường ảo, thậm chí nặc danh nên
nhiều “ngôn ngữ mạng” trở nên vô trách nhiệm, vô văn hóa… Không ít kẻ tung
lên Facebook những ngôn ngữ tục tĩu, bẩn thỉu nhằm nói xấu, đả kích, thóa mạ
người khác. Chưa kể đến những hiện tượng xuyên tạc tiếng Việt, viết tắt, kí hiệu
đến kì quặc, tùy tiện đưa vào văn bản những chữ z, f, w vốn không có trong hệ
thống chữ cái tiếng Việt, làm mất đi sự trong sáng của tiếng Việt…”
(Trích “Bàn về Facebook với học sinh”, Lomonoxop. Edu.vn)



Có con ếch sống lâu ngày trong một cái giếng nọ. Xung quanh chỉ có vài con
nhái, cua, ốc bé nhỏ. Hàng ngày, nó cất tiếng kêu ồm ộp làm vang động cả giếng,
khiến các con vật kia rất hoảng sợ. Ếch cứ tưởng bầu trời bé bằng cái vung và nó
thì oai như một vị chúa tể. Một năm nọ, trời mưa to làm nước dềnh lên, tràn bờ,
đưa ếch ra ngoài. Quen thói cũ… nó nhâng nháo đưa mắt lên nhìn bầu trời chả
thèm để ý đến xung quanh nên đã bị một con trâu đi qua giẫm bẹp.
1. Văn bản trên thuộc loại truyện gì?
2. Khi sống dưới giếng ếch như thế nào? Khi lên bờ ếch như thế nào?
3. Ếch là hình ảnh ẩn dụ tượng trưng cho ai? Bầu trời và giếng tượng trưng cho
điều gì?
4.Câu chuyện trên để lại cho anh, chị bài học gì?
Đề 18: Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi nêu ở dưới.
"Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu
của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi. Nó
kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm,
khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”.
(Hồ Chí Minh)
1. Anh/ chị hãy đặt tên cho đoạn trích.
2. Chỉ ra phép liên kết chủ yếu được sử dụng trong đoạn văn.
3. Tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật nào để thể hiện lòng yêu nước trong câu
"Nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy
hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước"? Với hai cụm
động từ lướt qua... và nhấn chìm..., tác giả đã khẳng định điều gì ở lòng yêu nước?
Sự khẳng định đó đã được chứng minh như thế nào trong lịch sử giữ nước oanh liệt
của dân tộc?
4. Viết một bài luận khoảng 200 từ trình bày suy nghĩ của anh/ chị về lòng yêu
nước của con người Việt Nam thời hiện đại?
Câu 19 : Đọc đoạn văn sau đây và trả lời các câu hỏi:
..."Tôi muốn nhấn mạnh rằng, Việt Nam kiên quyết bảo vệ chủ quyền và lợi ích

vấn đề, các nội dung liên quan đến phần đọc hiểu. Nghĩa là phải có kiến thức chắc
chắn về Tiếng Việt, Làm Văn và Văn học.
Giáo viên phải thường xuyên cập nhật các thông tin về kỳ thi, cấu trúc đề thi
để có thể ôn tập sát nội dung.
Giáo viên cần phải có sự giao lưu, kết nối để có thêm tư liệu, mở rộng số
lượng đề trong ngân hàng đề đọc hiểu.
Trong khi dạy học cần chú ý đến phương pháp. Ví phần đọc hiểu khó và khô
nên nếu sử dụng phương pháp truyền thống truyền thụ một chiều sẽ dễ gây nhàm
chá. Giáo viên cần vận dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học hiện đại như giao
nhiệm vụ, thảo luận nhóm… và sử dụng máy chiếu để hỗ trợ trong việc đưa ra ngữ
liệu.
1. Về phía học sinh.
Để việc ôn tập có hiệu quả đòi hỏi học sinh phải chủ động, tích cực khi tiếp
thu kiến thức, kỹ năng trên lớp và hoàn thành bài tập ở nhà.
Học sinh cần có kế hoạch cụ thể về thời gian và nội dung ôn tập.
V. Kiểm nghiệm.
1. Về phía học sinh.
Những giải pháp trên đã được tôi kiểm nghiệm qua thực tế dạy học trong 2
năm học 2013-2014 và 2014-2015.
1.1. Năm học 2013 – 2014 tôi được giao nhiệm vụ dạy các lớp 12A2( theo định
hướng khối C); 12A4 ( theo định hướng khối D); 12A6 ( lớp cơ bản định hướng
khối A); 12A7 ( Lớp ban KHTN). Tôi đã thực hiện ôn tập phần đọc hiểu văn bản
cho học sinh và kết quả thu được rất khả quan góp phần vào thành tích chung của
nhà trường (điểm thi đại học trung bình của Trường THPT Triệu Sơn 2 là 15.98,
xếp thứ 7 toàn tỉnh ). Trong đó kết quả điểm trung bình tốt nghiệp môn (TBTN) và
điểm trung bình đại học (TBĐH) môn Ngữ Văn cụ thể các lớp tôi dạy như sau:
Điểm TBTN
Điểm TBĐH

12A2

lượng đã có sự cải thiện rõ rệt. Qua kết quả các lần thi khảo sát chất lượng tại
trường có thể thấy sự tiến bộ của học sinh trong điểm bài thi Ngữ Văn (Trong đó
chắc chắn có vai trò quan trọng của phần đọc hiểu). Điểm trung bình môn Ngữ Văn
của các lớp có sự tiến bộ. Kết quả cụ thể như sau:
Lần 1
Lần 2

12B4
4,98
5,85

12B6
5,50
6,58

Tôi đã kiểm tra bài thi của học sinh và thấy đa số các em đều đã biết cách
làm tốt phần thi đọc hiểu. Nhiều em đã đạt điểm tuyệt đối phần đọc hiểu như em Tô
Thị Ngọc Hà lớp 12B4, Lê Thị Hương lớp 12B4, Lê Thị Trang 12B4; Nguyễn Thị
Giang 12B6; Ngô Thị Hiền 12B6; Đỗ Thị Duy 12B6; Hứa Thị Thoa 12B6; Nguyễn
Thị Phương 12B6…
2. Về phía giáo viên.
Tôi đã trao đổi và chia sẻ kinh nghiệm dạy đọc hiểu văn bản với các đồng
nghiệp môn Ngữ Văn trong và ngoài trường. Các giáo viên đều đánh giá cao về
tính khoa học và tính thực tiễn đề tài.

C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
I. Kết luận.
Trang 20



TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. SGK Ngữ Văn 10,11,12, Nxb Giáo dục.
2. Chuẩn kiến thức kỹ năng môn Ngữ Văn 10,11,12.
Trang 21


3. Nguồn Internet.

PHỤ LỤC
HƯỚNG DẪN GIẢI CÁC ĐỀ TRONG NGÂN HÀNG ĐỀ ĐỌC HIỂU
Đề 1:
1. Đoạn văn trên được viết theo phương thức miêu tả là chính.
2. Nội dung chính đoạn văn:

Trang 22


+ Bức tranh phố huyện lúc chiều tàn: âm thanh, hình ảnh, màu sắc, đường nét hài hòa. Đó
là một buổi chiều yên ả, thơ mộng của một phố huyện nghèo.
+ Tâm trạng của nhân vật Liên: buồn man mác trước giờ khắc của ngày tàn.
3. Những đặc sắc về nghệ thuật và tác dụng:
- Những đặc sắc về nghệ thuật.
+ Sử dụng so sánh; thủ pháp tương phản đối lập.
+ Giọng văn: Chậm rãi, nhẹ nhàng, câu văn uyển chuyển, giàu hình ảnh,...
- Tác dụng: Gợi ấn tượng về một bức tranh mang hồn quê Việt: đẹp, bình dị, êm đềm, gợi
buồn.
4. Vẻ đẹp văn phong Thạch Lam qua đoạn văn: Trong sáng, giản dị, giàu chất thơ, giàu
cảm xúc. Lời văn nhẹ nhàng, “đầy hương thơm và nỗi u hoài”. Đó là một lối văn vừa cho
ta nhìn vừa cho ta cảm.
Đề 2:

Trang 23


- Lời khuyên của Huấn Cao với quản ngục cho thấy quan điểm tiến bộ của NT về sự
thống nhất giữa cái đẹp và cái thiện, không thể chiêm ngưỡng cái đẹp ở nơi ngự trị của cái
ác, không thể hướng tới cái đẹp cao cả ở chốn mà thiên lương khó giữ cho lành
vững.Trước khi đến với cái đẹp của nghệ thuật phải giữ trọn cái đẹp của thiên lương, cái
đẹp không tách rời cái thiện.
- Cử chỉ, thái độ và lời nói quản ngục với Huấn Cao là sự minh chứng rõ nét cho sức
mạnh cảm hóa của cái đẹp, như sự khẳng định của một nhà văn nước ngoài: Cái đẹp sẽ
cứu thế giới.
- Ngày mai Huấn Cao sẽ phải về kinh chịu án chém nhưng những con chữ của
Huấn Cao thì sẽ còn mãi. Qua đó nhà văn khẳng định: Người nghệ sĩ sáng tạo ra cái đẹp
có thể bị giết hại nhưng cái đẹp thì mãi mãi bất tử.
Đề 3:
1.- Đây là đoạn mở đầu truyện ngắn Chí Phèo của nhà văn Nam Cao.
- Đoạn trích miêu tả cảnh Chí Phèo uống rượu say và vừa đi vừa chửi giữa sự thờ ơ của
tất cả mọi người.
2. - Những tiếng chửi của Chí Phèo vu vơ, uất ức, hắn chửi từ trời đến đời, từ làng Vũ Đại
đến những người không chửi nhau với hắn... hắn chửi tất cả mà chẳng trúng vào ai. Bởi
Chí Phèo không biết ai làm hắn khổ, còn cả thế gian ai cũng nghĩ mình vô can trong bi
kịch của Chí. Tiếng chửi của Chí Phèo rơi vào hư vô và cuối cùng trơ ra sự cô độc của
hắn. Sự cô độc ấy bám riết lấy cuộc đời hắn.
- Những tiếng chửi vu vơ phẫn uất ấy cho thấy Chí mơ hồ cảm nhận bi kịch đau khổ của
một kẻ lạc loài, một kẻ hoàn toàn bị gạt bỏ ra bên lề cuộc sống bình dị của dân làng, hoàn
toàn đứng ngoài "xã hội bằng phẳng, thân thiện" của những người lương thiện. Hình như
dưới đáy cùng của cơn say triền miên u tối, Chí vẫn thèm nghe người ta nói với mình,
cũng tức là công nhận sự tồn tại của mình trong cộng đồng loài người, dẫu sự công nhận
chỉ bằng tiếng chửi, nhưng cả làng VĐ và đúng hơn là cả xã hội loài người kiên quyết
ruồng bỏ, tẩy chay hắn. Tiếng chửi cho thấy sự vật vã đau đớn của nhân vật trong bi kịch

3. Hai câu đầu sử dụng biện pháp tu từ hoán dụ: Thôn Đoài chỉ chàng trai, thôn Đông chỉ
cô giá. Nhà thơ lấy không gian nhớ không gian thực chất là cách “nói vòng” để chỉ nỗi
nhớ của chàng trai thôn Đoài với cô giá thôn Đông. Ngoài ra tác giả còn sử dụng biện
pháp điệp ngữ ( hai từ “nhớ”, hai từ “một người”) để khẳng định nỗi nhớ cũng là nỗi
tương tư sâu sắc trong lòng.
4. Những yếu tố thể hiện chất dân gian:
- Nội dung: viết về nỗi tương tư của một chàng trai quê.
- Hình thức: Thể thơ lục bát, giọng điệu kể lể, thở than, cách nói hình ảnh qua các biện
pháp tu từ: hoán dụ, nhân hóa, điệp ngữ…; cách dùng thành ngữ dân gian (chín nhớ mười
mong)…
Đề 6:
1. Phong cách ngôn ngữ chính luận
2. Câu văn nêu khái quát chủ đề của đoạn trích: Xã hội luân lí thật trong nước ta tuyệt
nhiên không ai biết đến, so với quốc gia luân lí thì người mình còn dốt nát hơn nhiều.
3. Cách nêu vấn đề trực tiếp, nhấn mạnh và phủ định: tuyệt nhiên không ai biết đến.
Đề 7:
1. Đoạn văn bản đươc viết theo phong cách ngôn ngữ chính luận.
2. Phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích là phương thức nghị luận.
3. Các biện pháp tu từ được tác giả sử dụng là:
- Điệp ngữ : các từ điệp lại là “quyền”, “tự do”, “bình đẳng”.
- Liệt kê: “Trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu
hạnh phúc”; “ dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướngvà quyền tự do”
4. Việc trích dẫn lời trong hai bản tuyên ngôn của Mĩ và Pháp trong phần đầu bản Tuyên
ngôn độc lập của nước Việt Nam nhằm:
- Vì hai bản tuyên ngôn của Mĩ và Pháp có ghi rõ về quyền tự do bình đẳng. Đó là chân lí,
lẽ phải không ai chối cãi được. Việc trích dẫn ấy tạo nền tảng pháp lí vững chắc cho bản
TNĐL của Việt Nam. Từ quyền tự do, bình đẳng của con người cá nhân được ghi trong
hai bản tuyên ngôn của Pháp, Mĩ, Hồ Chí Minh đã khái quát lên thành quyền tự do, bình
đẳng của các dân tộc.
- Vì đó là hai bản tuyên ngôn nổi tiếng thế giới, là niềm tự hào của Pháp Mĩ. Việc trích


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status