TÓM TẮT LUẬN VĂN
Mục đích chính của bài nghiên cứu này là bước đầu nghiên cứu các yếu
tố ảnh hưởng đến quyết định di cư của người lao động ở khu vực nông thôn
nói chung và trên địa bàn xã La Phù, huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ nói
riêng. Bao gồm các nhân tố thuộc nhóm yếu tố đẩy ở địa phương (Thu nhập
thấp, thiếu việc làm, thiếu vốn, thiếu đất sản xuất) và nhóm yếu tố hút ở nơi
đến ( Thu nhập cao, dễ tìm việc làm, các điều kiện phát triển kinh tế và con
người). Ngoài ra báo cáo còn phân tích một số nguyên nhân tồn tại ở cấp độ
cá nhân ( muốn gần gũi người thân, không muốn ở lại địa phương).
Nghiên cứu đã cung cấp khá đầy đủ những thông tin cần thiết về mặt cơ
sở lý luận cũng như cơ sở thực tiễn về vấn đề di cư giúp cho việc tiếp cận vấn
đề di cư một cách thực tế hơn.
Kết quả nghiên cứu trên địa bàn xã La Phù cho thấy số lượng lao động di
cư ngày một tăng lên, tốc độ tăng bình quân qua 3 năm (2006 – 2008) là
14.61%. Lao động di cư ở độ tuổi khá trẻ ( trên 60% lao động trong độ tuổi 20 –
35 di cư). Nam giới di cư nhiều hơn nữ giới, tuy nhiên về mặt cơ cấu thì nữ giới
có sự gia tăng nhanh hơn ( nam tăng bình quân 12.69%, nữ tăng bình quân
17.58%).
Kết quả phân tích chỉ rõ tầm quan trọng những yếu tố thuộc nhóm yếu
đẩy và hút chi phối đến quyết định di chuyển của người lao động. Thu nhập
thấp và thiếu việc làm là ở khu vực nông thôn là hai yếu tố đẩy được đánh giá
cao điểm nhất. Thu nhập cao, dễ tìm việc làm ở nơi đến lại có sức hút mạnh
nhất đối với người lao động. Nghiên cứu đã khẳng định yếu tố kinh tế là lý do
quan trọng nhất ảnh hưởng đến quyết định di chuyển của người lao động. Kết
quả này cũng thống nhất với kết quả của hầu hết các nhà nghiên cứu.
Nghiên cứu tiến hành trên phạm vi nhỏ, thu thập thông qua các chủ hộ
nên tính khái quát chưa cao. Mặc dù vậy nó cũng phần nào giúp chúng ta có
đánh giá sơ bộ về vấn đề di cư xã La Phù nói riêng và khu vực nông thôn nói
chung, làm căn cứ để phát triển cho các nghiên cứu tiếp theo.
i
ii
Bảng 4.6 Tuổi của lao động di cư theo giới tính....Error: Reference source not found
Bảng 4.7 Trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn của lao động di cư.............Error:
Reference source not found
Bảng 4.8 Thời gian di cư của lao động...................Error: Reference source not found
Bảng 4.9 Hình thức di cư của lao động..................Error: Reference source not found
Bảng 4.10 Nơi đến của lao động di cư...................Error: Reference source not found
Bảng 4.11 Loại hình công việc của lao động di cư Error: Reference source not found
Bảng 4.12 Nguyên nhân “đẩy” lao động di cư.......Error: Reference source not found
Bảng 4.13 Thu nhập của hộ gia đình theo nhóm hộ di cư và không di cư..........Error:
Reference source not found
Bảng 4.14 Thu nhập của lao động trước khi di cư. Error: Reference source not found
Bảng 4.15 Tình trạng công việc của lao động trước khi di cư theo loại hình di cư và
theo nhóm tuổi.........................................................Error: Reference source not found
Bảng 4.16 Diện tích đất của hộ...............................Error: Reference source not found
Bảng 4.17 Tình hình vay vốn của hộ gia đình có lao động di cư......Error: Reference
source not found
Bảng 4.18 Các yếu tố “kéo” lao động di cư...........Error: Reference source not found
Bảng 4.19 Thu nhập của lao động di cư phân theo giới tính và loại hình di cư...........Error:
Reference source not found
Bảng 4.20 Thu nhập của lao động theo loại hình công việc, trình độ và dộ tuổi.......Error:
Reference source not found
Bảng 4.21 Các nguyên nhân khác ảnh hưởng đến quyết định di cư. .Error: Reference
source not found
Bảng 4.22 Mức tiền gửi về nhà của lao động di cư theo giới tính.....Error: Reference
source not found
Bảng 4.23 Mức tiền gửi về nhà của lao động theo loại hình di cư....Error: Reference
source not found
Công nghiệp hoá - hiện đại hoá
DT
ĐVT
GTSX
LĐ
NN
SL
Diện tích
Đơn vị tính
Giá trị sản xuất
Lao động
Nông nghiệp
Số lượng
TH
Thương mại dịch vụ
THCS
THPT
TMDV
Tiểu học
Tiểu thủ công nghiệp
Trung học cơ sở
TTCN
hiện nay vẫn là bài toán khó cho các nhà hoạch định chính sách. Theo số liệu
điều tra của Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam năm 2006 cho thấy trong tổng
số 486500 người di cư giai đoạn 5 năm trước cuộc điều tra số người đến khu
1
vực thành thị là 57%, nông thôn là 30%, luồng di cư thành thị - nông thôn
chiếm 13%. Chính sự cách biệt về thu nhập, mức sống giữa khu vực thành thị
và nông thôn đã sinh ra các dòng di cư lao động.
Sau hơn 20 năm thực hiện chính sách đổi mới của Đảng và nhà nước đề
ra ở Đại hội VI (tháng 12 năm 1986), kinh tế đất nước đã có những bước khởi
sắc. Chúng ta đang phấn đấu đến năm 2020 về cơ bản trở thành nước công
nghiệp. Cùng với quá trình CNH – HĐH, khu vực thành thị tiếp tục được mở
rộng, vùng nông thôn ngày một thu hẹp lại. Vì vậy việc di chuyển dân cư giữa
các vùng lãnh thổ trên thực tế là không thể tránh khỏi. Di cư liên quan chặt
chẽ với việc phát triển kinh tế xã hội, với những chủ trương chính sách của
Đảng và Nhà nước. Mặc dù đã có một số nghiên cứu phân tích các khía cạnh
khác nhau của di cư nhưng những nghiên cứu về di cư lao động nông thôn
còn ít được chú ý, trong đó chúng ta cần quan tâm đến các yếu tố ảnh hưởng
đến việc di cư của người lao động nông thôn.
Trong những năm gần đây dòng lao động di cư tự do ra các thành phố
lớn, vùng kinh tế phát triển ngày càng lớn. Điều này gây ra những tác động
nhất định tới gia đình, cộng đồng địa phương nơi xuất cư. Vậy những nguyên
nhân, yếu tố nào dẫn đến tình trạng di cư của người lao động nông thôn?. Để
hiểu rõ hơn về vấn đề này chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Bước
đầu nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình di cư lao động trên
địa bàn xã La Phù, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng tình hình di cư lao động tại xã La Phù,
- Thời gian làm luận văn: Từ ngày 08/01 – 23/05/2009.
- Đề tài thu thập số liệu trong 3 năm gần đây (từ 2006 – 2008). Số liệu sơ
cấp được thu thập thông qua điều tra được tiến hành vào tháng 3 năm 2009.
1.3.2.3 Phạm vi về không gian
Nghiên cứu được tiến hành trên địa bàn xã La Phù, huyện Thanh Thủy,
tỉnh Phú Thọ.
3
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái niệm và phân loại di cư
2.1.1.1 Khái niệm di cư (di dân - migration)
Di cư là một hiện tượng kinh tế xã hội mang tính đa dạng, phức tạp.
Mỗi cách tiếp cận sẽ cho ta hiểu về di cư theo những khía cạnh khác nhau và
không phải mọi sự di chuyển của con người đều được coi là di cư, do đó khó
có thể đưa ra được một khái niệm thống nhất về di cư. Dưới đây là một số
cách hiểu về di cư:
Theo nghĩa rộng di cư là sự chuyển dịch bất kì của con người trong một
không gian và thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú tạm thời
hay vĩnh viễn. Với khái niệm này di cư đồng nhất với sự di động dân cư
( Liên hợp quốc).
Theo nghĩa hẹp, di cư là sự chuyển dân cư từ một đơn vị lãnh thổ này
đến một đơn vị lãnh thổ khác, nhằm thiết lập một nơi cư trú mới trong một
không gian, thời gian nhất định .Với khái niệm này đã khẳng định mối liên hệ
giữa việc di chuyển với việc thiết lập nơi cư trú mới (Liên hợp quốc).
Trong tác phẩm "Di cư" Havery B.King cho rằng : Di cư là chuyển
đến một chỗ ở khác cách chỗ ở cũ một khoảng cách đủ lớn buộc người di cư
phải thay đổi hộ khẩu thường trú: chuyển đến một thành phố khác, một tỉnh
khác hay một nước khác.
Xuất phát từ các định nghĩa trên chúng ta có thể hiểu di cư lao động là
sự di chuyển của người lao động theo lãnh thổ với chuẩn mực về không gian
và thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú.
2.1.1.2 Phân loại di cư
* Theo địa bàn nơi đến
- Di cư quốc tế: Gồm di cư hợp pháp, di cư bất hợp pháp, chảy máu chất
xám, cư trú tị nạn, buôn bán người qua biên giới.
- Di cư nội địa: Gồm di cư nông thôn - đô thị, di cư nông thôn - nông
thôn, di cư đô thị - nông thôn, đô thị - đô thị.
5
* Theo độ dài nơi cư trú
- Di chuyển lâu dài (vĩnh viễn): thay đổi nơi cư trú thường xuyên và nơi
làm việc với mục đích định cư sinh sống lâu dài tại nơi mới. Phần lớn người
di cư là do điều động nơi công tác, người tìm cơ hội việc làm mới và thoát ly
gia đình,... Những đối tượng này thường không quay trở về sống tại quê
hương cũ.
- Di chuyển tạm thời: khả năng quay trở về là chắc chắn. Loại hình này
bao gồm các hình thức di chuyển làm việc theo mùa vụ, đi công tác dài ngày,
hoặc như trường hợp ra nước ngoài học tập rồi về nước.
- Di cư mùa vụ, di chuyển con lắc: di chuyển của cư dân nông thôn vào
thành phố trong thời kì những dịp nông nhàn hoặc trong điều kiện thiếu việc
làm thường xuyên, việc làm có thu nhập thấp.
* Theo đặc trưng di cư
- Di cư có tổ chức: hình thái di chuyển dân cư được thực hiện theo kế
hoạch và các chương trình mục tiêu nhất định do nhà nước, chính quyền các
cấp vạch ra và tổ chức, chỉ đạo thực hiện với sự tham gia của các tổ chức
đoàn thể xã hội.
- Di dân tự phát: mang tính cá nhân do bản thân người di chuyển hoặc bộ
2.1.2 Một số lý thuyết phân tích về vấn đề di cư.
2.1.2.1 Lý thuyết của Ravestein
Đây là một trong những lý thuyết về di dân sớm nhất trong trường phái cổ
điển, được đưa ra vào cuối thế kỉ XIX. Theo ông, di cư xảy ra sớm bởi sự khác
biệt về trình độ phát triển, bởi tiến trình công nghiệp hoá và phát triển thương
mại giữa các khu vực của một quốc gia. Mặt khác, sự di cư bị chi phối bởi khát
vọng về một cuộc sống tốt đẹp hơn. Những người sống ở khu vực kém phát triển
hay nghèo khổ thường có xu hướng chuyển đến những khu vực phát triển hơn.
Theo Ravestein, tỉ lệ người tham gia di cư có quan hệ thuận với khoảng cách
giữa hai khu vực nơi họ xuất phát và nơi họ đến.
Lý thuyết này của Ravestein đã bị một số học giả phê phán vì nó không
tính đến các yếu tố văn hoá, lịch sử và tâm lí - những yếu tố con người có ảnh
hưởng quan trọng đến quá trình di cư (www.tamlyhoc.net).
7
2.1.2.2 Lý thyết của Lewis:
Lý thuyết này ra đời vào những năm 50 của thế kỉ XX. Lý thuyết của
Lewis ra đời trong bối cảnh các nước trong thế giới thứ 3 bước vào giai đoạn
công nghiệp hoá, dẫn đến sự bùng nổ của làn sóng di cư từ nông thôn ra các
thành phố công nghiệp và các đô thị.
Lewis đã trình bày quan điểm của di cư từ nông thôn ra thành thị
trong cuốn: “ Sự phát triển kinh tế đối với việc cung cấp không giới hạn về
lao động” (Economic Development with Unlimited Suplies of Labour, 1954).
Theo ông, lí do di cư dân số từ nông thôn ra đô thị là:
Thứ nhất, sự tăng trưởng kinh tế và sự mở rộng của khu vực công nghiệp
đặt ra đòi hỏi phải có thêm lực lượng lao động đáp ứng. Sự tăng lên không
ngừng của dân số trong khi đất đai không tăng đã làm cho lao động nông
nghiệp dư thừa. Số lao động dư thừa này có khuynh hướng tìm kiếm các cơ
hội làm việc tại các khu công nghiệp và thành phố, nơi có nhu cầu tuyển
khác biệt thu nhập giữa thành thị và nông thôn (www.tamlyhoc.net).
2.1.2.4 Lý thuyết di cư nông thôn - thành thị của Harris - Todaro
Todaro là một nhà kinh tế học người Mỹ đã từng làm việc ở Châu Phi.
Lý thuyết của Harris - Todaro nghiên cứu dòng người lao động di chuyển từ
nông thôn ra thành thị trong các nước đang phát triển vào thập kỉ 60-70. Đây
được coi là một mô hình kinh tế nổi tiếng nhất về di cư trong các nước đang
phát triển. Trong các công trình nghiên cứu của mình, hai ông chỉ ra giữa
nông thôn và thành thị luôn có những chênh lệch về tiền lương. Chính sự khác
biệt này đóng vai trò thúc đẩy sự di cư. Để có thể tham gia vào thị trường lao
động ở đô thị, người lao động chấp nhận tất cả các công việc có thể làm được
dù là nặng nhọc, ngắn hạn, không ổn định. Những người di cư tiềm năng sẽ
tính toán và tiếp tục di cư khi mà tiền lương của họ mong đợi ở thành thị vượt
qua thu nhập cơ bản của nông nghiệp.
Phương trình cơ bản: Mt = f (Wu - Wr)
Trong đó
Mt: Dân di cư trong thời điểm t
Wu: Lương thành thị
Wr: Lương nông thôn
9
Nhưng không phải ai cũng tìm được việc làm ở thành thị, do đó
Mt = h* ((1-Uu)* Wu – Wr )
Trong đó
Uu: Tỷ lệ thất nghiệp đô thị
h: Mức độ hưởng của người di cư
((1- Uu )* Wu ): Mức lương thành thị kì vọng
Mô hình của Harris – Todaro cho thấy di cư phụ thuộc vào 3 yếu tố :
- Sự phản ứng của người di cư tiềm năng
- Thất nghiệp đô thị
chi
phí
Chi phí
B
A
Lợi ích
C
Thời gian
Chi phí của giáo dục đào tạo tăng lên cùng với thời gian
Càng học lên cao ( thời gian đào tạo tăng) thì lợi ích cũng tăng tuy nhiên
tăng một cách chậm dần
Kết luận: Thời gian có mối quan hệ tỷ lệ thuận với chi phí, lợi ích và tốc
độ tăng của chi phí lớn hơn tốc độ tăng của lợi ích
Nhìn vào mô hình ta nhận thấy:
Tại A: Chi phí bỏ ra > lợi ích thu về
Tại B: Chi phí bỏ ra = lợi ích thu về (điểm cân bằng)
Tại C: Chi phí bỏ ra < lợi ích thu về
Do đó C là điểm có lợi nhất và chúng ta nên đầu tư tại điểm này.
11
Quyết định di cư cũng vậy, con người chỉ quyết định di cư khi mà lợi ích
đem lại lớn hơn những gì họ bỏ ra.
2.1.3 Tác động và ảnh hưởg của di cư lao động
điều đó, thị trường lao động không đạt được mức cân bằng. Nguyên nhân có
thể là do tính cứng nhắc của thị trường lao động, mức phí di cư cao hoặc thị
trường lao động bị bóp méo do các chương trình của chính phủ. Vẫn tồn tại
những khác biệt về tiền công và thất nghiệp lớn giữa các vùng. Trạng thái cân
bằng đầy đủ chưa bao giờ xảy ra.
2.1.3.3 Tác động của di cư đối với thị trường lao động nơi đi
Một quốc gia sẽ phải chịu bốn cái mất lớn từ hiện tượng chảy máu chất
xám do di cư lao động tạo ra.
i. Chính Phủ của quốc gia bị chảy máu chất xám phải chi trả cho phí đào
tạo những người di cư, phần lớn trong số họ là những người có học vấn cao.
ii. Những người di cư thường là những người đóng góp tài chính ròng.
Khoản thuế họ nộp nhiều hơn khoản trợ cấp chi cho họ.
iii. Một phần để hỗ trợ những cá nhân này là phải vay nợ song họ lại
không góp phần giúp chi trả những khoản nợ đó.
iv. Cái mất thứ tư, và cũng là cái mất nghiêm trọng nhất là những người
di cư bằng chính việc di cư đang thể hiện rằng họ chính là những người lao
động đầy tài năng và năng động, sáng tạo. Trong nhiều trường hợp họ chính
là các nhà phát minh, sáng chế của đất nước. Mất đi những cá nhân ưu tú này,
tốc độ tăng trưởng kinh tế của đất nước sẽ bị kéo chậm lại.
Vậy đâu là giải pháp khả thi cho tình trạng Chảy máu Chất xám? Chính
cơ hội việc làm chứ không phải thu nhập sau thuế là động lực khuyến khích
mọi người di cư. Bởi vậy, việc ủng hộ cho nỗ lực theo đuổi các chính sách
kinh tế vĩ mô góp phần tạo ra nhiều việc làm hơn là cần thiết. Hơn nữa các cá
nhân sẵn sàng chấp nhận một mức thuế cao hơn, thu nhập thấp hơn nếu những
khía cạnh khác của đời sống của họ được đảm bảo ở mức cao hơn.
2.1.3.4 Ảnh hưởng của di cư
* Ảnh hưởng của di cư tới dân số
- Tác động tới quy mô, cơ cấu dân số: Cơ cấu theo tuổi và giới tính có
thể thay đổi. Người di cư thường là người trẻ tuổi ( từ 20 - 40 tuổi), không có
13
tính có 190 triệu người lao động di cư quốc tế, tương ứng với 3% dân số thế
14
giới. Tại thời điểm hiện nay có trên 86 triệu lao động di cư, trong đó 34 triệu
người đang làm việc ở các nước đang phát triển và phụ nữ chiếm 49% người
lao động di cư trên thế giới. Trong số những người lao động di cư quốc tế,
khoảng 10 – 15% lao động di cư trong tình trạng không hợp pháp. Việc di cư
lao động đã giải quyết được phần lớn nạn dôi dư lao động ở một số nước, nhất
là các nước đang phát triển. Bên cạnh đó những người lao động di cư gửi về
nước họ một lượng tiền đáng kể. Năm 2007 công dân di cư từ các nước đang
phát triển đã chuyển về nước mình hơn 240 tỷ USD thông qua các kênh
chuyển tiền chính thống. Theo ngân hàng thế giới (WB) năm 2005 các nước
ngoài đã báo cáo thu 167 tỷ USD từ nguồn lao động hải ngoại, nhiều hơn
khoản viện trợ nước ngoài. Ở Mỹ ít nhất 39 tỷ USD đã chảy ra khỏi nước này
bởi dân nhập cư. Theo WB, số dân di cư trên thế giới tăng từ 120 triệu tới
175 triệu trong thập niên 90 và số tiền họ gửi về nước mỗi năm tăng lên gấp 3
lần trong thập niên này (www.sggp.org.vn).
2.2.1.2 Di cư lao động ở Châu Á
Từ những năm 1980 số lao động di cư hàng năm của châu Á mỗi năm
tăng gần 3 triệu người, tiền gửi về quê hương họ cũng lên đến khoảng 76tỷ
USD/ năm. Ở Philippin số tiền gửi về chiếm 14% GDP, ở Việt Nam con số
này là 7%. Điều đáng chú ý là tỷ lệ nữ di cư ngày một cao. Những năm gần
đây ở Sri-lanca và Inđônêsia tỷ lệ này lần lượt là 3/5 và 4/5. Về một mặt nào
đó, số lao động di cư tìm kiếm việc làm có thể minh chứng cho sự năng động
của khu vực nhưng đồng thời lại đặt ra không ít vấn đề phức tạp về chinh sách
quản lý. Nhiều lao động giản đơn, trình độ tay nghề thấp là nạn nhân của sự
lạm dụng và bóc lột. Chỉ tính riêng ở Đông Nam Á, mỗi năm ước khoảng
225000 phụ nữ và trẻ em rơi vào tệ nạn nói trên.
Lao động di cư đóng góp đáng kể cho sự tăng trưởng quốc gia. Các
và nâng cao mức tăng trưởng kinh tế. Đối với nước gửi lao động, lao động di
cư có tác dụng tích cực đến việc giảm nghèo đói. Tổng số tiền gửi về của lao
động di cư ở các nước ASEAN ước tính lên tới 26 tỷ USD năm 2005, trong đó
Philippin chiếm 62% (đứng thứ 3 trên thế giới sau Ấn Độ và Thái Lan). Việt
16
Nam 15%. Tuy nhiên bên cạnh những lợi ich tích cực, di cư lao động cũng gây
nên một số tieu cực, đó là nạn chảy máu chất xám, sự phụ thuộc.
-Di cư lao động có kỹ năng
Khác với di cư lao động không có kỹ năng, phần lớn lao động di cư có
kỹ năng quản lý chuyên môn cao đến từ các nước ngoài ASEAN ( Mỹ, Châu
Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc...). Họ đến làm việc với danh nghĩa đầu tư trực tiếp
nước ngoài và theo yêu cầu của chính phủ các nước ASEAN. Các nhà quản lý
chuyên môn Nhật Bản nổi tiếng thế giới với các dự án FDI vào Malaysia,
Thái Lan, Philippin, Inđônêsia.Trong thời kỳ ngành công nghiệp suy thoái, xu
hướng chung của một số nước ASEAN là tập trung lao động có kỹ năng trong
các ngành chế tạo và dịch vụ. Phần lớn các chuyên gia có kỹ năng ở Iđônêsia
làm việc trong các ngành công nghiệp khai mỏ, chế tạo, nhà hàng, khách sạn,
công nghiệp du lịch. Ngược lại ở Philippin chủ yếu tập trung trong ngành chế
tạo. Các nước ASEAN đều có nhu cầu trao đổi lao động có kỹ năng chuyên
môn với nhau trong các ngành kế toán, cơ khí, kỹ sư thiết kế. Theo cơ quan
xúc tiến thương mại quốc tế Nhật Bản (JETRI) hiện ASEAN đang thiếu
khoảng 54.1% lao động có kỹ năng trong các ngành cơ khí, 39.7% trong
ngành điện, điện tử (www.cpv.org.vn).
2.2.1.3 Quản lý di cư lao động tại một số nước Châu Á
*Quản lý di cư ở Malaysia
Sự chuyển dịch cơ cấu lao động ở Malaysia diễn ra rất nhanh chóng bởi
sự tác động của quá trình CNH - HĐH. Nó khiến làn sóng di cư lao động từ
lớn tại Trung Quốc đã trở thành vấn đề xã hội
Trung quốc không thể giải quyết hết việc làm cho người lao động vì
vậy khoảng 100 – 150 triệu lao động nông thôn buộc phải di chuyển. Thực tế
di cư lao động nông thôn ra thành thị đã vượt ra ngoài tầm kiểm soát. Các
cuộc cải cách đã dẫn đến những thay đổi to lớn về phát triển kinh tế nhưng
đồng thời cũng tạo ra những bất bình đẳng mới, phân hoá ngày càng sâu sắc
đặc biệt sau quá trình triệt để hoá cải cách thị trường vào năm 1997 – 1999.
Ngoài nguyên nhân bất bình đẳng về thu nhập thuần tuý, còn nguyên nhân về
18
sự khác biệt trong tiếp cận dịch vụ an sinh xã hội, trợ cấp xã hội, nhà ở, giáo
dục, chăm sóc sức khoẻ trở nên ngày càng gay gắt khi hình thái kinh tế thị
trường được thay thế cho hệ thống sở hữu tập thể cũ ở nông thôn.
Chính quyền Trung Quốc đã nhận biết được những vấn đề nảy sinh của
việc di dân và xác định những năm cuối của thập niên 90s là thời điểm chín
muồi để thực hiện những thay đổi có tính quyết định, bao gồm đánh giá lại
vai trò của việc di cư. Lao động di cư được xác định có vai trò chính trong
phát triển kinh tế của đất nước, nhờ đó một số khởi xướng về chính sách đã
được thực hiện nhằm mục đích khơi thông thị trường lao động trong khắp
Trung Quốc, đảm bảo cho công nhân nhập cư được đối xử công bằng hơn,
nhằm giải quyết những xung đột giữa người nhập cư từ nông thôn và những
người sử dụng lao động ở nơi đến. Những cải cách quan trọng nhất đối với
vấn đề di cư nhằm hướng tới tự do hoá thị trường lao động trên khắp Trung
Quốc gồm các nội dung về cải cách hệ thống quản lý hộ khẩu, xây dựng thị
trường lao động thống nhất, chính sách về đảm bảo đối xử công bằng với lao
động di cư.
*Quản lý di cư ở Hàn Quốc
Sự chênh lệch giữa nông thôn và thành thị một phần là do quá trình
CNH – HĐH đất nước. Trong những năm 60 của thế kỉ XX sự di dân tới khu
Nguyên. Năm 2004 cả nước có tổng 387241 người di cư . Trong đó tỷ lệ lao
động di cư khỏi vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ trên tổng số người đang làm
việc của vùng là 3.38% lớn nhất so với các vùng khác trong cả nước, trong
khi tỷ lệ này ở ĐBSH, Bắc Trung bộ, ĐBSCL là tương đương nhau với
khoảng trên 1%. Số lượng lao động di cư ra khỏi vùng Duyên hải miền trung
tới hơn 118 ngàn người do vậy vẫn là vùng có điều kiện tự nhiên khó khăn,
phát triển kinh tế còn thấp, không thu hút được nhiều lao động địa phương.
Xét về phương diện tiếp cận lao động di cư, tỷ lệ lao động di cư tới vùng
Đông Nam Bộ là lớn nhất chiếm tới 4.16% lực lượng lao động hoạt động kinh
tế của vùng, tiếp đó là Tây Nguyên (1.1%) và vùng Đông Bắc (0.86%). Trước
đây nhà nước có các chưong trình di chuyển dân cư và lao động tới Tây
Nguyên theo kế hoạch. Hiện nay các chương trình này không còn thực sự tiếp
tục nhưng nông dân vẫn di chuyển vào đây do Tây Nguyên vẫn còn là vùng
20