1
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Tôn giáo vừa là một hiện tượng xã hội phức tạp, vừa là nhu cầu tinh
thần của bộ phận không nhỏ quần chúng nhân dân; Lịch sử tồn tại và phát
triển của các Tôn giáo cho thấy: Các Tôn giáo luôn bị các giai cấp, các thế lực
chính trị lợi dụng vì những mục đích khác nhau và gây nên không ít các cuộc
chiến thảm khốc.
Ngày nay, trên phạm vi quốc gia và quốc tế vấn đề dân tộc và tôn giáo
thường đan quyện vào nhau và được xem là những mồi lửa châm sẵn, tiềm ẩn
các nguy cơ. Riêng vấn đề tôn giáo những năm qua có nhiều biến đổi khó
lường và được các thế lực tư bản đế quốc đẩy lên thành những vấn đề quan
trọng không thể thiếu trong chiến lược “Diễn biến hoà bình” chống CNXH.
Ở nước ta thời gian qua tôn giáo đang có chiều hướng phát triển mạnh,
gia tăng cả về số lượng cũng như tính chất phức tạp. Các “điểm nóng” tôn giáo
xuất hiện ở một số địa bàn, sự bung ra của các Hội đoàn Công giáo và tình
trạng khiếu kiện đòi lại các cơ sở thờ tự đã cung hiến ở nhiều địa phương trong
cả nước đang gây ra những xáo trộn cả về an ninh chính trị và trật tự an toàn
xã hội.
Tin lành là một trong 6 tôn giáo lớn ở nước ta. Đặc biệt sự phát triển
không bình thường của tôn giáo này trong những năm gần đây đã gây ra
những hậu quả tiêu cực trên nhiều mặt của đời sống xã hội. Tin lành ở nước ta
phát triển rất nhanh trên một diện rộng trong cả nước nhất là ở các tỉnh Tây
Nguyên và các tỉnh biên giới phía Bắc. Tin lành đã thực sự len lỏi sâu vào tận
các bản làng xa xôi hẻo lánh của đồng bào Hmông. Vì vậy mà vấn đề Tin lành
đã và đang là một vấn đề nổi cộm gây ra những lúng túng cả trong nhận thức
và phương pháp giải quyết của các cấp uỷ, chính quyền và đoàn thể ở đây.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
3.1. Mục đích
3
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng làm rõ nguyên nhân của sự xâm nhập,
ảnh hưởng và xu hướng của đạo Tin lành trong đồng bào Hmông Sơn La; đề
xuất một số giải pháp, kiến nghị góp phần giải quyết tốt vấn đề Tin lành ở Sơn
La hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
- Phân tích và trình bày thực trạng đạo Tin lành trong người Hmông Sơn La, chỉ ra nguyên nhân của sự xâm nhập, dự báo xu hướng của đạo Tin
lành ở đây trong những năm tới.
- Làm rõ ảnh hưởng của Tin lành đến các mặt của đời sống xã hội của
Sơn La.
- Đề xuất một số giải pháp kiến nghị nhằm giải quyết tốt vấn đề Tin lành
ở địa bàn Sơn La.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu sự xâm nhập và ảnh hưởng của đạo Tin lành ở một
số vùng đồng bào Hmông Sơn La. Thời gian từ 1986 đến nay.
4. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1. Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận duy vật Mác-xít,
quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương,
đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề tôn giáo để làm rõ
vấn đề cần nghiên cứu. Kế thừa có chọn lọc thành quả nghiên cứu của các tác
giả đã đề cập tới vấn đề này.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng tổng hợp các phương pháp trong quá trình nghiên
cứu như: Kết hợp lôgíc với lịch sử, phân tích và tổng hợp; đồng thời coi trọng
TRÌNH XÂM NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN CỦA ĐẠO TIN LÀNH.
5
1.1.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế , xã hội.
1.1.1.1. Điều kiện tự nhiên, dân cư.
Sơn La là một tỉnh vùng cao phía Tây Bắc Việt nam, cách Hà Nội
379Km. Diện tích tự nhiên là 14.050Km2. Phía Bắc giáp Lào Cai; Phía Nam
giáp Thanh Hoá; Phía Đông giáp Phú Thọ, Hoà Bình và Yên Bái; Phía Tây
giáp Lào với 250Km đường biên giới [6, tr. 1].
Sơn La có 10 huyện, thị với 201 xã, phường, thị trấn (trong đó có 40 xã
vùng cao và 20 xã vùng cao biên giới), 2816 bản và tiểu khu. Dân số của tỉnh
881.383 người (tính đến 1.4.1999). Sơn La có 12 dân tộc anh em trong đó dân
tộc Thái chiếm 54,7%, Kinh 18,7%, Hmông 11,7%, Mường 8,2%, Dao 2,7%,
Khơ Mú 1,6%, Sinh Mun 1,5%, các dân tộc Lào, La Ha, Kháng, Tày, Nùng chỉ
chiếm 0,7%. Về số lượng người Hmông đứng vào hàng thứ 3 của Sơn La và họ
thường cư trú ở những vùng núi cao trên 1000 m [6, tr. 1].
Do điều kiện địa lý tự nhiên, Sơn La là một tỉnh có địa hình phức tạp,
núi rừng trùng điệp, nhiều sông suối, khe lạch. Diện tích núi đồi ở đây chiếm
tới 60%, diện tích ruộng ít, độ cao trung bình 700m so với mặt biển. Khí hậu
Sơn La khắc nghiệt, mùa hè nắng nóng mưa nhiều, mùa đông sương muối, khô
hạn và thường xuyên diễn ra thiên tai [9, tr. 1].
1.1.1.2. Đặc điểm về kinh tế và đời sống.
Sơn la là một tỉnh miền núi cao điều kiện tự nhiên không thuận lợi,
những yếu tố làm kìm hãm, cản trở sự phát triển nền kinh tế và đời sống còn
rất lớn. Mặc dù vậy sau hơn 10 năm đổi mới với sự nỗ lực của toàn Đảng bộ và
nhân dân các dân tộc nên tình hình kinh tế - xã hội trong những năm qua đã có
những tiến bộ đáng kể, đời sống nhân dân các dân tộc ổn định, nhiều mặt được
cải thiện; kết cấu hạ tầng được xây dựng và tu bổ; cơ cấu kinh tế, sản xuất
cung tự cấp, sản xuất manh mún, việc ứng dụng các thành tựu khoa học - kỹ
thuật chưa phổ biến dẫn đến năng suất lao động thấp, kinh tế hàng hoá chậm
phát triển, tình trạng phá rừng làm nương rẫy còn khá phổ biến (đặc biệt là ở
vùng cao). Do đặc điểm của điều kiện tự nhiên, tập quán canh tác và sản xuất
cây trồng không ổn định vì vậy vẫn còn một bộ phận nhân dân sống du canh,
du cư, nhất là người Hmông. Năm 2000 còn 6633 hộ với 44.469 người sống du
7
canh du cư, số đã định cư nhưng vẫn du canh là 17.055 hộ với 109,803 người [3,
tr. 15]. Các bản ở rải rác, số lượng bản dưới 30 hộ khá lớn, ở vùng cao không
có các điểm tụ cư đông đúc, vì vậy rất khó khăn cho việc đầu tư xây dựng các
công trình giao thông, phúc lợi xã hội, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng và nâng
cao dân trí cho người dân...
- Kết cấu hạ tầng nông thôn rất thấp kém, lạc hậu giao thông đi lại khó
khăn, đặc biệt là giao thông liên xã, liên bản. Theo số liệu năm 1997 cả tỉnh
còn 38 xã chưa có đường ô tô đến xã, 55 xã chưa có điện thoại, 189 xã chưa có
trạm truyền thanh, 157 xã chưa có chợ, 155 xã chưa có trường phổ thông cấp II
[46, tr. 3]. Đây là những trở ngại lớn cho giao lưu kinh tế, phát triển sản xuất
hàng hoá, nắm bắt và xử lý thông tin.
- Về đời sống đồng bào các dân tộc trong tỉnh nhất là khu vực II và III
còn rất nhiều khó khăn, trình độ kinh tế - xã hội chênh lệch lớn so với các
vùng đồng bằng, đô thị trong cả nước và ngay cả giữa các khu vực trong Tỉnh
và giữa các dân tộc. Theo kết quả điều tra, đời sống dân cư Sơn La năm 1995
thu nhập bình quân chung 1 nhân khẩu 1 tháng là 136,8 ngàn đồng , trong đó
khu vực thành thị: 286,4 ngàn đồng, khu vực nông thôn: 118,7 ngàn đồng;
GDP bình quân đầu người (1999) khoảng gần 200 USD đầu người (cả nước
gần 400 USD/người). Số hộ nghèo toàn Tỉnh năm 1993 là 33,8% trong đó
thành thị: 15,8%, nông thôn: 37,1%. Tỷ lệ hộ dùng điện, nước máy giữa thành
về tinh thần và vật chất. Đó chính là cơ sở tạo nên sự đoàn kết giữa các dân
tộc trong lịch sử xây dựng và bảo vệ quê hương .
Vai trò của quan hệ dòng họ còn rất lớn, quan hệ dòng họ chỉ có trong
cùng một dân tộc và trong một dân tộc lại có nhiều dòng họ khác nhau, mỗi
dòng họ có nguồn gốc lịch sử riêng biệt, không chỉ mang tích chất huyết thống
mà còn thể hiện cả sự phân chia giai cấp và đẳng cấp. Có dòng họ lớn, dòng họ
bé, có dòng họ quý tộc. Trong mỗi dòng họ đều có người đứng đầu là các tộc
trưởng, trong mỗi bản, mường đều có già làng, trưởng bản mà vai trò của họ
khá quan trọng. Chẳng hạn trưởng tộc được coi là "gốc họ" là người "nắm tay
dân ở, mở tay dân đi", rất được dòng họ kính trọng, là người đại diện cho dòng
họ trong việc giải quyết mọi quan hệ đối nội và đối ngoại. Thực tế cho thấy vai
trò của già làng, trưởng bản, trưởng dòng họ là những người có uy tín đối với
9
cộng đồng, dẫu không nằm trong thiết chế chính thống nhưng thông qua họ
nhiều công việc xã hội, nhiều vấn đề phức tạp đã được giải quyết. Quan hệ gia
đình trong các dân tộc ở Sơn la đều theo chế độ phụ hệ, vai trò của người đàn
ông được đề cao, con cái được tính theo họ cha, anh em bên họ nội được coi
trọng hơn bên họ ngoại...
Nền văn hoá các dân tộc Sơn la vốn có lịch sử phát triển từ lâu đời với
nhiều loại hình đa dạng. Ở Sơn La có sự giao thoa, tiếp biến văn hoá giữa các
dân tộc, trong đó ảnh hưởng lớn nhất là nền văn hoá của người Thái, một dân
tộc chiếm hơn 54,7%.
Nhìn chung trong quá trình đổi mới, với đường lối xây dựng nền văn
hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, các dân tộc ở Sơn La đã giữ gìn và phát
huy được bản sắc của mình trong đời sống cộng đồng, đời sống vật chất và
tinh thần đã được cải thiện đáng kể.
Tuy nhiên về mặt Văn hoá- Xã hội có không ít những vấn đề bức xúc
còn 31000 cháu trong độ tuổi chưa đến trường [50, tr. 18] chủ yếu là ở vùng
cao, vùng xa (đặc biệt các dân tộc như Hmông, Sinh mun). Những hạn chế về
dân trí và văn hoá nói trên không chỉ ngăn trở việc tiếp thu các tiến bộ khoa
học kỹ thuật vào vùng núi, mà nó còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc truyền
đạo, lừa gạt và lôi kéo quần chúng (xem phụ lục 13 - 14).
Các đặc điểm đã trình bày ở trên đều ít nhiều có liên quan đến sự xâm
nhập và phát triển của đạo Tin lành trong người Hmông Sơn la.
1.1.2. Vài nét về dân tộc Hmông.
Dân tộc Hmông có lịch sử lâu đời, hình thành sớm ở miền Nam Trung
Hoa. Từ đời Chu họ đã lập nước Tam miêu là thành viên nước Sở hùng mạnh,
cư trú tập trung ở trung lưu sông Dương tử giữa hai hồ Động đình và Bành lại.
Người Hmông sớm biết làm ruộng và nổi tiếng sử sách với nghề rèn, nhưng bị
các dân tộc khác chèn ép chiếm đánh, dồn dần lên vùng cao làm nương sinh
sống. Trên mảnh đất quê hương của mình, người Hmông đã tiến hành cuộc
chiến chống lại sự bành trướng của người Hán xuống phương Nam gần ngàn
năm. Sau khi bị thất bại một bộ phận ở lại quê hương dần dần bị đồng hoá
cưỡng bức hoặc bị diệt chủng, một bộ phận khác không chịu đồng hoá đã di cư
xuống phương nam ở vùng Quí châu, Hồ nam để bảo tồn dân tộc . Lịch sử
11
Trung quốc đã ghi lại nhiều cuộc nổi dậy của họ liên kết với một số dân tộc
khác chống lại triều đình phong kiến Trung quốc trong đó có cuộc khởi nghĩa
Thái Bình Thiên Quốc mang màu sắc tôn giáo và mang danh Thiên đế (1860 1872). Thái Bình Thiên Quốc là cuộc khởi nghĩa dung hợp giữa Đạo giáo và Ki
tô giáo, cuộc khởi nghĩa này kết thúc bằng cuộc đàn áp đẫm máu của triều
đình nhà Thanh. Trong số đó có một bộ phận người Hmông phải dạt xuống
phía nam và định cư ở một số nước Đông nam Châu Á trong đó có Việt nam.
Người Hmông di cư đến Việt nam cách đây khoảng năm thế kỷ nơi đầu
tiên họ đến là Đồng văn, Mèo vạc (Hà giang) và coi đây là quê hương của họ.
mang tính tôn giáo. Nguyên nhân của vấn đề không chỉ xuất phát từ yếu tố
tâm linh mà còn bắt nguồn từ chiều sâu lịch sử, tâm lý của người Hmông.
Trong tiềm thức, người Hmông luôn tự hào về một quá khứ huy hoàng, về một
vương quốc hùng mạnh trước kia với một vị thủ lĩnh mang đậm dấu ấn tôn
giáo. Lịch sử hàng trăm năm qua xác nhận, người Hmông dường như có một
niềm tin vào một ngày nào đó, họ sẽ có thủ lĩnh cứu tinh xuất thế.
Tuy nhiên điều đáng lưu ý là không ít các thế lực thù địch, các thế lực
chính trị khác nhau từ xưa đến nay đã lợi dụng hiện tượng xưng vua nói trên
nhằm phục vụ cho các ý đồ chính trị và làm phức tạp thêm vấn đề dân tộc và
tôn giáo.
1.1.2.1. Tình hình chung về dân tộc Hmông ở Sơn la.
Người Hmông ở Sơn la có nguồn gốc từ Trung quốc di cư đến đây trong
giai đoạn từ thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XIX. Đến Sơn la, đồng bào Hmông
đã hoà nhập cùng với cộng đồng các dân tộc khác và coi Sơn la là quê hương
của mình.
Hiện nay, người Hmông là dân tộc có số dân đứng thứ 3 ở Sơn la, sau
dân tộc Thái và Kinh theo số liệu tổng điều tra dân số 1/4/1999, dân tộc
Hmông có 103.121 người. Căn cứ và trang phục của phụ nữ và ngôn ngữ nói ở
Sơn La có 4 ngành Mông: Mông đơ (Mông trắng, Mông du (Mông đen), Mông
si (Mông đỏ) và Mông lềnh (Mông hoa). Người Hmông cư trú trong 10 huyện
thị, chủ yếu tập trung ở các huyện như: Bắc yên, Sông mã, Thuận châu, Mai
sơn, Mộc châu. Có 16 xã thuần dân tộc Hmông, còn lại là sống xen ghép với
các dân tộc khác. Đa số người Hmông Sơn la sinh cư lập nghiệp ở trên các
vùng núi cao hẻo lánh, vùng giáp ranh với các tỉnh bạn như Lai châu, Yên bái,
Hoà bình, Thanh Hoá và vùng biên giới Việt Lào. Người Hmông Sơn la có câu
châm ngôn: "Mùa trí pùa, Pùa trí tùa" (giàu có di cư thì nghèo, nghèo khó di sư
14
15
1.1.2.2. Đặc điểm tâm lý và quan hệ dân tộc.
Xuất phát từ điều kiện sống trên vùng núi cao, cuộc sống người Hmông
Sơn la luôn gần gũi với thiên nhiên, nhưng lại gần như biệt lập với xã hội bên
ngoài. Từ đó hình thành ở người Hmông một phong thái phóng khoáng tự tin,
tự trọng cùng với ý thức tự hào về một nền văn hoá cổ truyền hết sức độc đáo
đã tạo cho họ có ý chí vươn lên trong cuộc sống, trong đấu tranh với thiên
nhiên và xã hội, có bản lĩnh kiên cường bất khuất ... Nét nổi bật trong đối xử
với thiên nhiên và xã hội thể hiện sự bình đẳng ngang hàng, công bằng hợp lý
một cách rõ ràng thậm chí ngay cả với các thần tượng mà họ thờ cúng. Trong
quan hệ giữa người với người, người Hmông sống thật thà, chân thành, cởi
mở, thuỷ chung tôn trọng đạo lý, lẽ phải, yêu cái tốt, ghét cái xấu... Tuy nhiên
bên cạnh đó, người Hmông lại có đặc điểm cố chấp, những chuyện lặt vặt "con
cà con kê" cũng đòi hỏi phải đúng lý, nếu không thì dễ bỏ mặc nhau. Đây cũng
là đặc điểm mà các đài phát tiếng Hmông ở nước ngoài đã lợi dụng được khi
tuyên truyền về chúa Giê su, về "Vàng Chứ".
Người Hmông nói chung thuộc tố chất tâm lý mạnh - không bền vững,
biểu hiện ra ngoài là rất dễ bị tác động tâm lý, thậm chí những tin đồn nhảm
không thực tế nhưng có liên quan đến tính mạng bản thân và gia đình thì phản
ứng mãnh liệt, tâm trạng hoang mang lo sợ. Trong cuộc sống hàng ngày
thường hay vui cười, lại cũng hay khóc sầu khổ đau cho thân phận, người
Hmông yêu ghét cũng rất mãnh liệt.
Ý thức về dòng họ là thể hiện đặc trưng tính cách cộng đồng của người
Hmông. Ý thức cộng đồng ấy cùng với vai trò của già làng, trưởng tộc là điều
kiện thuận lợi để phát huy sức mạnh cộng đồng trong thực hiện các chủ trương
chính sách của Đảng và Nhà nước vì mục đích ổn định nâng cao đời sống vật
chất - tinh thần cho nhân dân, song đó cũng là vấn đề mà các thế lực thù địch
tìm cách lợi dụng để lôi kéo quần chúng .
1.1.2.3. Đặc điểm tín ngưỡng tôn giáo dân tộc Hmông Sơn la.
là lợn, cá biệt có một số dòng họ dùng chó) làm vật cúng, thông thường thì
theo định kỳ thời gian nông nghiệp, nhưng cũng có thể làm khi trong nhà có
người ốm đau, gia súc chết, mùa màng thất bát... Người ta nhờ thầy cúng
17
(Thầy mo) phán cho, khi nào thầy cúng bảo thần nông đòi ăn, thì khi đó chủ
nhà tự định thời gian và tiến hành tế lễ. Lễ tế thần nông chỉ tiến hành vào ban
đêm, cửa trong nhà đều được đóng lại, kết thúc lễ mọi thứ liên quan đến vật tế
thần, cả nước rửa tay được chôn vào một hố cạnh cửa giữa trong nhà. Ngoài
hai vị thần trên theo quan niệm của người Hmông còn một số vị thần khác và
mức độ ứng xử với từng vị thần biểu hiện sự khác nhau của từng dòng họ như
thần cột chính trong nhà (Đêx đaz), thần buồng ngủ (daz trongr pair), thần bếp
lò (daz kror trok), thần cửa giữa (daz trongx tar)... Đó là các vị thần lành, tuy
nhiên nếu ứng xử không tử tế thì các vị thần này cũng sẽ trừng phạt .
"Ma dữ " là ma chỉ chuyên làm hại người, gia súc, mùa màng khi gặp
phải. Trong đó đáng sợ nhất là "Ma ngũ hải (Trênhr nênhr), Ma dữ có ở trong
rừng, hòn đá, gốc cây to, sông suối, dưới đất ... và đều là loại ma đáng sợ đối
với người Hmông.
Ngoài ra trong nhà người Hmông còn có thể lập bàn thờ một số vị thần
tổ nghề mà phổ biến nhất thường thấy là thờ tổ nghề bốc thuốc chữa bệnh.
Quan niệm về con người, họ cho rằng con người đều có phần xác và
phần hồn, người chết thì mọi hoạt động của phần xác đều ngừng lại, còn phần
hồn vẫn tiếp tục sống ở thế giới bên kia. Linh hồn có ba loại với ba chức năng
khác nhau.
- Loại thứ nhất - linh hồn gốc, trú ngụ ở đầu khi con người chết sẽ bay
lên trời về gặp ông bà tổ tiên. Theo người Hmông Sơn la đây chính là con ma
người chết hay quay về quấy nhiễu những người còn sống trong gia đình, vì
thế tục cúng bái cũng là mục đích làm thoả mãn các đòi hỏi của linh hồn này.
Cúng "ma tươi" (cách thức chôn người chết); cúng "ma bò"(nhux
đangx); cúng "ma lợn"(guô đangx); cúng tế thần nông (đaz trongs). Sự khác
nhau ở mỗi dòng họ biểu hiện sự khác nhau trong bốn nghi lễ này như trong
cúng "ma tươi", cho người chết đi ngựa hay đi kiệu, dòng họ cho người chết đi
ngựa thì để người chết nằm trong cáng để trong nhà làm ma, khi đem chôn
cũng cứ để như vậy khiêng ra huyệt cho quan tài xuống huyệt rồi mới cho
người chết vào. Dòng họ cho người chết đi kiệu thì cho người chết vào quan
tài ngay sau khi khâm liệm xong, mộ chôn ngang hay chôn dọc theo sườn
đồi?... Cách bày thịt cúng trong cúng "ma bò", "ma lợn" bày bao nhiêu bát thịt,
19
mỗi bát bao nhiêu thịt, mỗi phần bao nhiêu loại thịt, gồm những loại thịt gì ...
chính là đặc điểm của mỗi dòng họ.
Tín ngưỡng dòng họ cũng là biểu hiện của yếu tố bản sắc văn hoá hướng
về cội nguồn tổ tiên. Người Hmông luôn coi tổ tiên là người chứng giám tối
cao, là nguồn tiếp sức cho sự trường tồn và phát triển của con cháu về sau. Họ
coi đó như là một biểu hiện quan trọng để bảo tồn gìn giữ văn hoá cội nguồn.
Luật tục của người Hmông qui định rõ, nếu thành viên nào "quên mất" tổ tiên
sẽ không được coi là người Hmông nữa. Song có điều người Hmông lại không
thờ tổ tiên trong nhà, bởi họ cho rằng tổ tiên vốn ở một nơi xa xôi khác, nghĩa
vụ con cháu với ông bà tổ tiên phải luôn nhớ làm "ma bò" cho bố mẹ chồng
(khi bố mẹ đã chết), làm "ma lợn" cho ông bà và tổ chức cúng tế vào các ngày
lễ, tết. Cách thức thờ cúng, không lập bàn thờ và bát nhang cố định, khi cúng
họ thường đặt mâm cơm ngay ngắn trước cửa giữa dưới chân nơi thờ (xưr car)
lấy gạo làm ba bát nhang, cúng tế xong nhang cháy hết, gạo mang đi nấu ăn
còn chân nhang thì bỏ vào bếp, nội dung mời gọi những người đã khuất trong
dòng tộc đến cùng ăn, cùng uống để phù hộ cho con cháu.
Ngày nay ý nghĩa của việc thờ cúng dòng họ,"dòng ma" nhìn từ khía
sâu xa của sự xuất hiện phong trào cải cách Tôn giáo, xuất hiện Tin lành bắt
nguồn từ sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất. Sự phát triển công
nghệ và thương mại đã làm nảy sinh một giai cấp mới- giai cấp tư sản trong xã
hội phong kiến Tây âu từ thế kỷ XIV - XV. Sự chi phối nặng nề của chủ nghĩa
kinh viện tới mọi mặt đời sống xã hội đã tạo nên những mâu thuẫn, xung khắc
với tính cách năng động, tự do của giai cấp tư sản, thị dân - Giai cấp đang đại
diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến lúc bấy giờ. Sự xuất hiện của phong trào
phục hưng văn hoá, các trào lưu tư tưởng chống Giáo hội và thần quyền... đã
nói lên điều đó.
Nguyên nhân trực tiếp xuất hiện phong trào cải cách Tôn giáo là do sự
trì trệ khủng hoảng của Giáo hội Công giáo với những cảnh tượng xa đoạ, thối
nát của những giới chức cầm quyền, những lễ nghi cổ hủ, quy chế rườm rà,
nặng nề cản trở xu thế tiến bộ của xã hội thị dân.
Một trong những người đầu tiên khởi xướng phong trào cải cách là
MartinLuther (1483 - 1546) một linh mục dòng người Đức, ông cảm thấy chán
21
nản khi chứng kiến cảnh sống xa đoạ trần tục của các giáo sĩ ở Rôma, nhất là
việc bán "bùa xá tội" lợi dụng danh thánh để bóc lột dân chúng, năm 1517 M.
Luther công bố " chín mươi lăm luận đề" chống Giáo hội Rôma, lên án Giáo
hoàng và giáo quyền, tuyên bố chỉ công nhận có chúa và kinh thánh, bác bỏ
quyền lực của toà thánh và cộng đồng; Đây là sự mở đầu cho cải cách Tôn
giáo ở Đức. Nhưng sự cải cách nửa vời của M.Luther đã không đáp ứng được
đòi hỏi triệt để hơn của các tầng lớp dưới trong xã hội, và người đại diện cho
cho xu hướng này là Thomas Munter (1490 -1525) với đỉnh cao là chiến tranh
nông dân nổ ra. Lo sợ trước phong trào lên cao bản thân M.Luther cuối cùng
đã quay lại hợp lực với giai cấp quý tộc, tầng lớp ôn hoà để chống lại những
người bình dân, phong trào nông dân bị đàn áp hết sức tàn nhẫn.
trong bí tích rửa tội (Báp têm) Tin lành qui định người chịu lễ này phải đợi đến
thời đủ khôn khoảng 13 - 15 tuổi (Công giáo rảy nước đã làm phép vào đầu
đứa trẻ và thực hiện ngay từ khi đứa trẻ mới sinh ra). Khi đạo Tin lành xâm
nhập vào vùng dân tộc miền núi nước ta thay vì làm lễ rửa tội ở nhà thờ, ta
thường thấy họ đưa những người mới vào đạo ra suối để làm lễ bằng cách dìm
xuống suối. Phép thánh thể cũng được cử hành, nhưng họ cho đó chỉ là sự gợi
lại kỷ niệm về cái chết của Giê Su, nên nghi lễ đơn giản, mọi tín đồ và giáo sĩ
đều được uống rượu và ăn bánh thánh - ân sủng của Chúa ban cho mọi tín đồ
(Công giáo: rượu thánh là đặc ân riêng của các chức sắc, tín đồ không được
dùng). Các buổi lễ của Tin lành đơn giản, thường hát thánh ca, các mục sư chỉ
giảng kinh thánh hoặc hướng dẫn tín đồ đọc kinh, xưng tội không cần phải qua
mục sư.
Về tổ chức và cơ cấu giáo hội, đây là điểm khác biệt căn bản giữa Công
giáo và Tin lành. Trong khi Công giáo tổ chức theo các mô hình quân chủ
(phong kiến) trung tâm đầu não (Giáo hội La mã), quản lý toàn bộ hệ thống từ
quốc tế xuống cơ sở và có tính chất"thánh thiêng ". Thì Tin lành lại không có
giáo hội tập trung thống nhất, không có tính " thánh thiêng " và có rất nhiều
giáo phái khác nhau cả về cơ cấu tổ chức, đến nghi lễ thờ cúng. Quyền tự chủ
được giao cho các tổ chức cơ sở (các chi hội) cách thức quản lý cũng dân chủ
hơn, tín đồ được tham dự trong việc quản trị giáo hội. Hàng giáo phẩm của
23
Công giáo gồm các chức phó tế, linh mục, giám mục và có tính chất "thánh
thiêng ". Họ là những người được thay mặt Thiên chúa ở trần gian để chăn dắt
con chiên, vì thế họ phải "trinh khiết", không được xây dựng gia đình. Ngược
lại hàng giáo phẩm Tin lành chỉ có hai chức vụ chính đó là mục sư và truyền
đạo (giảng sư), không có tính chất ""thánh thiêng", mục sư và truyền đạo được
lấy vợ, lấy chồng, không kiêng khem .
hiệp phúc âm và truyền giáo ki tô C.M.A...[17, tr. 117; 135]
Cùng với bước chân của chủ nghĩa đế quốc, thực dân trong quá trình
bành trướng, xâm lược, những đoàn truyền giáo Tin lành được biết đến như
những đạo quân " chinh phục, khai phá "về tư tưởng và tinh thần cho các dân
tộc thuộc địa, ở góc độ nào đó là sự liên kết, hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình
khuyếch trương thế lực, nhà học giả Pháp Jcan Bau berot đã nhận định: "Mối
liên hệ giữa truyền giáo với thực dân hoá là không thể chối cãi được" [29, tr.
6].
Ngày nay khi địa bàn truyền đạo ngày càng ít và đi vào thế ổn định, Tin
lành lại hướng các hoạt động truyền giáo đến các dân tộc ít người - nơi văn
hoá còn sơ khai, trình độ dân sinh, dân trí thấp, nơi chưa có một tôn giáo chính
thống hoặc tôn giáo cũ đang khủng hoảng. Với đường hướng hoạt động khá
năng động, luôn đổi mới và thích nghi, đặc biệt là chủ trương "nhập thế", lấy
các hoạt động xã hội làm phương tiện điều kiện để thu hút tín đồ, Tin lành tiếp
tục phát triển và lan rộng.
Thế kỷ XX, loài người đã chứng kiến biết bao biến động khôn lường, sự
phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học công nghệ, đã nâng cao mức
sống, mở mang trí tuệ con người lên vượt bậc, nhưng cũng có không ít vấn đề
liên quan đến sự sống còn của con người trước những thảm hoạ về môi trường,
dân số, dịch bệnh, chiến tranh... và những căn bệnh xã hội trầm kha khác. Tôn
giáo lại có cơ hội trỗi dậy, sự xuất hiện các " Tôn giáo lạ ", những giáo phái
mới tách ra, nhập vào nhiều như nấm mọc sau mưa là một trong những xu
hướng của tôn giáo cuối thế kỷ XX. Bản thân Tin lành là một tôn giáo đa giáo
phái cũng không thoát khỏi xu hướng này, trong sự cạnh tranh khốc liệt để
dành giật tín đồ, tranh giành ảnh hưởng, nhiều giáo phái không ngần ngại đáp
ứng những nhu cầu tầm thường, phi văn hoá, phản nhân bản, trượt xa dần
trong một tổ chức lấy tên là "Hội thánh Tin lành đông Pháp" (Mission