TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
--------***--------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Kinh tế đối ngoại
ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU CÁC MẶT HÀNG
CHỦ LỰC CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG
NHẬT BẢN GIAI ĐOẠN 2006 – 2011:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Họ và tên sinh viên
: Trần Thị Vân
Mã sinh viên
: 0851010326
Lớp
: Anh 9
Khóa
: 47
Người hướng dẫn khoa học : PGS, TS. Nguyễn Văn Hồng
Hà Nội, tháng 5 năm 2012
Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Hệ thống phân phối
Kim ngạch
Kim ngạch nhập khẩu
Kim ngạch xuất khẩu
Nhật Bản
Nhập khẩu
Tốc độ tăng trưởng
Tốc độ tăng trưởng kinh tế
Việt Nam
Vệ sinh an toàn thực phẩm
Xuất khẩu
Xúc tiến thương mại
− Tiếng Anh
Chữ viết tắt
1. AJCEP
2. ASEAN
3. ASEAN+3
4. CITES
5. EPA
6. FDI
7. GATT
8. GDP
9. GSP
10. HS
11. IMF
12. JETRO
13. MAFF
14. METI
Nghiên cứu và phát triển
Hội nghị Liên Hiệp Quốc về thương mại và phát triển
Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam
Cục xúc tiến thương mại Việt Nam
Hiệp hội Dệt may Việt Nam
Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản
Ngân hàng thế giới
25. WTO
Tổ chức thương mại thế giới
6
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nhật Bản là quốc gia có nền kinh tế lớn thứ 3 và dân số đông thứ 10 thế giới,
là thị trường có sức mua lớn, nhu cầu nhập khẩu nhiều mặt hàng (trong đó có nhiều
mặt hàng chủ lực của Việt Nam) ngày càng tăng. Nhật Bản đã trở thành thị trường
xuất khẩu tiềm năng cho hàng Việt Nam. Hiện nay Nhật Bản là nước nhập khẩu lớn
thứ hai của Việt Nam (sau Hoa Kỳ). Hàng năm, Nhật Bản nhập khối lượng hàng
hoá trị giá gần 700 tỷ USD, trong đó nhập khẩu từ Việt Nam khoảng 7,7 tỷ USD.
Đẩy mạnh xuất khẩu là chủ trương kinh tế lớn của Đảng và Nhà nước ta, trong
đó, đẩy mạnh xuất khẩu hàng chủ lực là một phần quan trọng của chiến lược này
bởi vai trò quyết định của nó với việc tăng giảm tổng kim ngạch xuất khẩu. Những
năm gần đây, cơ cấu các mặt hàng chủ lực của Việt Nam đang chuyển dịch theo
hướng tích cực, nhiều mặt hàng được người tiêu dùng nước ngoài rất ưa chuộng kể
các sản phẩm từ gỗ của VN sang NB trong giai đoạn 2006-2011;
− Đề ra một số giải pháp vĩ mô và vi mô để đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng chủ lực sang
thị trường Nhật Bản giai đoạn tới.
4. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như: duy vật biện chứng,
duy vật lịch sử, thống kê, so sánh đối chiếu, tổng hợp phân tích, khái quát hóa….
5. Kết cấu đề tài: Gồm 3 chương:
− Chương I: Tổng quan về thị trường NB và quan hệ thương mại VN – NB;
− Chương II: Thực trạng xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của Việt Nam sang thị trường Nhật
Bản giai đoạn 2006 - 2011;
− Chương III: Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của Việt Nam
sang thị trường Nhật Bản trong thời gian tới.
Trong thời gian hoàn thành đề tài, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của
các thầy cô trong Khoa Kinh tế và kinh doanh quốc tế, đặc biệt là giáo viên hướng
dẫn PGS, TS. Nguyễn Văn Hồng – người đã hướng dẫn tận tình cho tôi về mặt nội
dung, phương pháp luận và cách thức tiếp cận vấn đề một cách khoa học nhất. Qua
bài viết này, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới các thầy cô.
Với thời gian nghiên cứu ngắn ngủi và hiểu biết còn hạn chế nên bài viết
không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp
của các thầy cô giáo và các bạn đọc để bài viết được hoàn chỉnh hơn.
Sinh viên
Trần Thị Vân
8
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN VÀ QUAN
quân trong một hộ gia đình Nhật Bản là 3,28, thì con số này giảm xuống 2,67 vào
9
năm 2000 và 2,46 vào năm 2010. Trong khi số hộ gia đình của Nhật lại có xu hướng
tăng do tăng số hộ gia đình chỉ có một hoặc hai thành viên, chiếm tới 57,1% tổng số
hộ gia đình Nhật Bản năm 2010, riêng các hộ độc thân chiếm tới 31,2% [87].
Nguyên nhân là do tỷ lệ kết hôn của thanh niên Nhật Bản có xu hướng giảm trong
khi tỷ lệ ly hôn lại tăng, độ tuổi kết hôn tăng, nền kinh tế trì trệ khiến các cặp vợ
chồng trẻ ngại sinh con.
Bảng 1.1: Dân số và cơ cấu dân số theo độ tuổi của Nhật Bản
Dân số *
Năm
Cơ cấu dân số theo độ tuổi (%)
(triệu người)
1975
1980
1985
1990
1995
2000
2005
2010
2020**
2050**
67,9
65,8
63,7
60,0
51,8
Trên 65
7,9
9,1
10,3
12,0
14,5
17,3
20,1
23,1
29,2
39,6
Tăng
Mật độ
trưởng
dân số
dân số (%)
(người/km2)
thụ của thị trường này giảm đi trong những năm tới, thị hiếu tiêu dùng cũng sẽ có
nhiều thay đổi.
1.1.2. Vài nét về nền kinh tế Nhật Bản
1.1.2.1. Quy mô kinh tế
Từ 1967, Nhật Bản đã thiết lập vị trí nền kinh tế lớn thứ 2 trên thế giới chỉ sau
Mỹ, tuy nhiên do sự vươn lên mạnh mẽ của Trung Quốc những năm gần đây, cùng
với tình trạng trì trệ trong nền kinh tế Nhật suốt 20 năm qua, kết thúc năm 2010,
10
Nhật Bản chính thức đánh mất vị trí này vào tay Trung Quốc trở thành nền kinh tế
lớn thứ 3 thế giới.
Bước sang năm 2011, Nhật Bản phải chịu tác động kép của đại thảm họa động
đất, sóng thần và khủng hoảng hạt nhân trầm trọng, kinh tế Nhật rơi vào tình trạng
suy thoái rõ rệt trong quý I và quý II. Dù có dấu hiệu phục hồi trong quý III nhờ
xuất khẩu và tiêu dùng tăng mạnh, nhưng lại tiếp tục giảm mạnh hơn dự tính trong
quý IV với mức giảm 2,3% so với cùng kỳ năm 2010 [46]. Tính cả năm 2011, GDP
danh nghĩa đạt 5.821 tỷ USD xếp thứ 3 thế giới, còn nếu tính theo ngang giá sức
mua, GDP là 4.418 tỷ USD xếp thứ 4 thế giới (sau Mỹ, Trung Quốc và Ấn Độ)
trong khi GDP bình quân đầu người là 34.646 USD. Ngoài ra, Nhật Bản vẫn được
đánh giá là một trong những nước có mức tiêu thụ hàng hóa lớn nhất thế giới với
mức chi tiêu cho tiêu dùng chiếm hơn 60% GDP [54].
Bảng 1.2: GDP và GDP/người theo ngang giá sức mua của Nhật giai đoạn 2005 – 2011
Năm
2005
2006
2007
2008
2009
GDP thế giới (%)
6,827
6,628
6,447
6,199
5,922
5,815
5,665
(2011),
“World
Economic
Outlook
Database,
April
2011”,
/>pr.x=93&pr.y=8&sy=2005&ey=2016&scsm=1&ssd=1&sort=country&ds=.&br=1&c=158&s=PPPGDP
%2CPPPPC%2CPPPSH&grp=0&a=
1.1.2.2.
Cơ cấu kinh tế
Nguồn:
IMF
(2011),
“World
Economic
Outlook
Database,
April
2011”,
/>pr.x=81&pr.y=12&sy=2003&ey=2016&scsm=1&ssd=1&sort=country&ds=.&br=1&c=158&s=NGDP_RPC
H&grp=0&a=; Minh Sơn (2012), “Kinh tế Nhật Bản giảm mạnh hơn so với dự đoán”, Báo điện tử
Vietnamplus,
/>
doan/20122/125983.vnplus
Từ năm 2000 tới năm 2003, nỗ lực của Chính phủ Nhật Bản nhằm khôi phục
lại TĐTTKT đã gặt hái được một chút thành công nhưng lại bị cản trở bởi sự trì trệ
của các nền kinh tế khác như Hoa Kỳ, các nước EU. Trong năm 2004 và 2005,
TĐTT đã được cải thiện và mối quan ngại về giảm phát và trì trệ của hoạt động kinh
tế đã không còn nữa.
2010
2011
Tổng KN
xuất nhập khẩu
1.226,6
1.333,8
1.532,0
1.133,1
1.458,4
1.595,5
KNXK
KNNK
647,3
712,7
775,9
580,8
767,0
800,8
579,3
621,1
756,1
552,3
691,4
794,7
1.1.3. Chính sách nhập khẩu của Nhật Bản
Hiện nay, Nhật Bản đang cố gắng duy trì và phát triển chế độ mậu dịch tự do.
Cụ thể các vấn đề liên quan đến hàng nhập khẩu như sau:
1.1.3.1. Hệ thống thuế quan của Nhật Bản
Nhật Bản sử dụng Hệ thống phân loại HS. Ở Nhật có hai loại mức thuế quan
là mức thuế tự định (còn gọi là quốc định) và mức thuế hiệp định.
− Mức thuế tự định: được quy định trong luật thuế và chia làm 3 loại:
+ Mức thuế cơ bản: được quy định trong luật thuế hải quan, được áp dụng trong thời gian
dài.
+ Mức thuế tạm thời: được quy định theo luật thuế tạm thời. Đây là mức thuế mang tính tạm
thời được áp dụng thay cho mức thuế cơ bản trong một thời gian nhất định trong trường
hợp khó áp dụng mức thuế cơ bản.
+ Mức thuế ưu đãi: là mức thuế áp dụng đối với hàng nhập khẩu từ các nước đang phát triển.
Mức thuế này thấp hơn mức thuế nhập khẩu từ các nước phát triển.
− Mức thuế hiệp định: là mức thuế được thoả thuận trong các hiệp định ký với nước ngoài.
Trong đó, quy định chỉ đánh thuế vào mặt hàng nào đó theo mức thuế thấp.
Về nguyên tắc, mức thuế áp dụng theo thứ tự: mức thuế ưu đãi, mức thuế
WTO, mức thuế tạm thời và mức thuế cơ bản. Tuy nhiên, mức thuế ưu đãi chỉ được
áp dụng khi thoả mãn các điều kiện trong Chương 8 của Luật áp dụng mức thuế ưu
đãi. Mức thuế WTO chỉ áp dụng khi nó thấp hơn cả mức thuế tạm thời và mức thuế
cơ bản. Nếu mức thuế tạm thời thấp hơn những mức thuế trên, nó sẽ được áp dụng.
Ngoài thuế nhập khẩu, hàng nhập khẩu phải đóng 5% thuế tiêu thụ thông
thường, được áp dụng đối với tất cả mặt hàng bán tại Nhật Bản. Loại thuế này phải
được thanh toán ngay khi khai báo hải quan hàng nhập khẩu. Thuế tiêu thụ được
tính trên trị giá hải quan của hàng nhập khẩu cộng với thuế nhập khẩu. Bao bì được
miễn thuế nếu chúng chứa một lượng hàng ít hơn 10.000 yên.
Ngoài các loại thuế và mức thuế trên, Nhật còn ban hành 3 loại thuế đặc biệt:
ngạch trần được tính cho mỗi năm tài chính.
Để hàng hoá nhập khẩu từ các quốc gia được hưởng GSP, chúng phải được
công nhận là có xuất xứ tại nước đó theo tiêu chuẩn xuất xứ của chế độ GSP của
Nhật Bản và được vận chuyển đến Nhật Bản theo tiêu chuẩn về vận tải.
Chương trình GSP được ban hành và thực hiện vào đầu mỗi năm tài khóa cho
từng mặt hàng chỉ định và thường bị kiểm soát trong mức hạn ngạch cố định hay
15
còn gọi là “mức lẫy”. Nếu nhập khẩu có dấu hiệu vượt quá “mức lẫy” thì Nhật Bản
có thể xem xét đình chỉ áp dụng thuế quan ưu đãi cho đến hết năm tài khóa đó. Đối
với những quốc gia đang được hưởng GSP nhưng xét thấy đã đạt trình độ phát triển
kinh tế tương đương với các quốc gia phát triển, Nhật Bản sẽ loại khỏi danh sách
các quốc gia được hưởng GSP.
1.1.3.2. Hệ thống các biện pháp phi thuế quan của Nhật Bản
• Các biện pháp hạn chế định lượng
Nhật Bản áp dụng biện pháp quản lý định lượng đối với một số nhóm sản
phẩm với hai lý do chính: nhu cầu bảo hộ sản xuất trong nước phù hợp với quy định
của WTO và mục tiêu bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Các biện pháp này bao gồm: hạn
ngạch thuế quan (TRQ), hạn ngạch nhập khẩu (IQ), giấy phép nhập khẩu và cấm
nhập khẩu.
− Hạn ngạch thuế quan (TRQ)
TRQ là biện pháp hạn chế nhập khẩu áp dụng cho các sản phẩm nông nghiệp
phù hợp với quy định Hiệp định Nông nghiệp của WTO. Đối với các sản phẩm có
TRQ, sẽ tồn tại 2 mức thuế áp dụng đồng thời cho một mặt hàng nhập khẩu là mức
thuế áp dụng trong hạn ngạch và mức thuế áp dụng ngoài hạn ngạch. Trong phần
lớn trường hợp, mức thuế ngoài hạn ngạch cao gấp nhiều lần so với mức thuế trong
hạn ngạch, thậm chí cao đến mức không còn ý nghĩa kinh tế để nhập khẩu.
Hàng nhập khẩu cần có giấy phép là những loại hàng hóa cần có sự phê chuẩn
của METI khi muốn nhập khẩu. Nhật Bản hầu như không áp dụng biện pháp giấy
phép nhập khẩu, trừ một số mặt hàng sau: các mặt hàng chịu quản lý hạn ngạch
nhập khẩu và các loại thực phẩm có xuất xứ hoặc được vận chuyển từ một khu vực
xác định theo Công ước và các Hiệp định song phương cấm nhập khẩu hoặc hạn
chế nhập khẩu vì lý do an ninh, môi trường, xã hội.
Trong lĩnh vực thủy sản, việc cấp giấy phép nhập khẩu gắn với việc cấp hạn
ngạch nhập khẩu. Thực tế, việc cấp phép được áp dụng với hai lý do chính là bảo hộ
hoạt động khai thác thủy sản trong nước và bảo vệ nguồn lực tự nhiên thông qua
các Công ước quốc tế hạn chế khai thác, đánh bắt, vận chuyển động thực vật mà
Nhật Bản có tham gia. Một số công ước chính như Công ước về bảo tồn các loài cá
ngừ vây xanh phía Nam, Công ước quốc tế về bảo tồn các loài cá ngừ Đại Tây
Dương. Các mặt hàng có hạn ngạch sẽ chỉ được nhập khẩu sau khi đã được cấp giấy
phép nhập khẩu. Mục đích của biện pháp này là nhằm giám sát việc tuân thủ các
Hiệp ước và Hiệp định quốc tế mà Nhật Bản đã ký kết.
Trong Hiệp định VJEPA, Nhật Bản giữ nguyên cơ chế áp dụng biện pháp cấp
phép nhập khẩu, phù hợp với quy định của WTO. Quy định chế độ cho phép nhập
khẩu của Nhật Bản tuy chưa thể hiện sự bất phù hợp với quy tắc WTO, nhưng trong
thao tác thực tế vẫn tồn tại cách làm trở ngại đến mậu dịch. Ví dụ: thời gian khi
17
hàng vào cảng đến khi hoàn tất đưa vào lưu thông tương đối dài, rất bất tiện cho vận
chuyển hàng tươi sống đóng gói.
− Cấm nhập khẩu
Một số biện pháp cấm nhập khẩu của Nhật Bản chỉ được áp dụng với mục tiêu
chính trị, ví dụ như cấm vận hoặc không đặt quan hệ thương mại chính thức với một
số nước theo các Nghị quyết của Liên Hiệp Quốc. Một số loại sản phẩm cấm nhập
khẩu vì lý do an ninh, chính trị, bảo vệ vật nuôi, cây trồng, sức khỏe con người
18
tiêu chuẩn tự nguyện này được quản lý bởi METI, áp dụng trên 1.000 sản phẩm
công nghiệp với trên 8.500 tiêu chuẩn. Dấu JIS được áp dụng đối với tất cả các sản
phẩm công nghiệp và khoáng sản, trừ những sản phẩm được áp dụng các tiêu chuẩn
chuyên ngành như dược phẩm, phân hoá học, sợi tơ tằm, thực phẩm và các sản
phẩm nông nghiệp khác được quy định trong Luật về tiêu chuẩn hoá và dán nhãn
các nông lâm sản.
Các tiêu chuẩn JIS được sửa đổi, bổ sung theo định kỳ để phù hợp với các tiến
bộ công nghệ, ít nhất là 1 lần trong 5 năm kể từ ngày ban hành, sửa đổi hay xác
nhận lại của tiêu chuẩn. Giấy phép đóng dấu chứng nhận tiêu chuẩn JIS trên hàng
hóa do Bộ trưởng METI cấp cho nhà sản xuất.
− Dấu JAS
Dấu JAS ra đời dựa trên “Luật Tiêu chuẩn nông nghiệp Nhật Bản” (luật JAS),
ban hành vào tháng 5/1970. Dấu JAS do MAFF quản lý. Bộ Y tế, Lao động và Phúc
lợi quản lý các tiêu chuẩn riêng về nhãn mác chất lượng của các mặt hàng đồ uống
và các sản phẩm chế biến. JAS được áp dụng cho các đồ uống, các sản phẩm chế
biến, lâm sản và các mặt hàng nông nghiệp, thú nuôi, dầu và chất béo, thủy hải sản
và các sản phẩm chế biến có nguồn gốc nông, lâm, thủy sản. Đối với hầu hết sản
phẩm, luật JAS quy định một cách rõ ràng một tiêu chuẩn cụ thể về chất lượng
nhưng đối với một số sản phẩm, các quy định trong luật chỉ đưa ra những hướng
dẫn cho việc nâng cao chất lượng. Tiêu chuẩn JAS đặc biệt áp dụng với các nông
sản hữu cơ, gà nuôi bằng thức ăn hữu cơ, dăm bông và các sản phẩm khác được sản
xuất theo các phương pháp đặc biệt đã được ban hành để đảm bảo sức khoẻ cho
người tiêu dùng.
Việc sử dụng dấu JAS trên nhãn hiệu sản phẩm là tự nguyện trừ những sản
phẩm bắt buộc do MAFF quy định. Tuy nhiên, người Nhật rất tin tưởng đối với chất
lượng của các sản phẩm được đóng dấu JAS. Vì vậy, các nhà sản xuất nước ngoài
khi xuất khẩu hàng hoá vào Nhật Bản có được dấu chất lượng JAS sẽ tạo thuận lợi
cho việc tiêu thụ hàng hoá của mình tại đây. Nhà sản xuất nước ngoài có thể xin dấu
Các vấn đề liên quan đến bao bì hàng hóa được quy định trong “Luật bao gói
và tái chế bao bì” và “Luật khuyến khích sử dụng các nguồn tài nguyên”, trong đó
chủ yếu nhấn mạnh việc khuyến khích sử dụng và tái chế các loại bao bì đã qua sử
dụng và một số điểm lưu ý với hàng nhập khẩu như:
+ Nghiêm cấm sử dụng rơm rạ làm chất liệu đóng gói hàng hóa;
+ Việc đề xuất đóng gói hàng hóa phải được làm rõ với nhà nhập khẩu;
+ Các container chứa hàng được đóng hộp, đóng chai, đồ uống ngọt, hàng hóa nhỏ, thức ăn
đông lạnh và thức ăn được đóng gói phải được các nhà xuất khẩu dán nhãn mác riêng theo
hệ mét, đảm bảo sự yên tâm cho nhà phân phối Nhật Bản.
Về vấn đề nhãn mác, hàng hoá lưu thông trên thị trường phải có nhãn mác
đúng tiêu chuẩn và nhãn mác phải thể hiện đúng xuất xứ hàng hoá, cấm NK các sản
phẩm có nhãn mác mập mờ, giả mạo về xuất xứ. Nhà nhập khẩu/người bán hàng tại
Nhật có trách nhiệm ghi nhãn và niêm yết thông tin về một nhãn hàng theo yêu cầu
của “Luật nhãn hiệu chất lượng hàng hóa gia dụng”. Luật này đòi hỏi tất cả các sản
1 Chi tiết các dấu chất lượng khác của Nhật Bản xem tại phụ lục 1
20
phẩm đều phải dán nhãn, trên nhãn ghi rõ thành phần và các biện pháp bảo vệ sản
phẩm thích hợp. METI có thẩm quyền đưa ra những yêu cầu về việc dán nhãn hàng
hóa. Những yêu cầu này thay đổi tùy theo chủng loại hàng như: Thực phẩm sau
khâu NK phải có nhãn hiệu đính kèm cho mỗi bao gói, thể hiện chi tiết nội dung
bao gồm: chất bảo quản, tên và địa chỉ của nhà NK, ngày NK hoặc ngày sản xuất tại
Nhật; Việc chỉ dẫn sử dụng thuốc liên quan đến hệ thần kinh phải được in ở Nhật;...
− Quy định về kiểm dịch
Nhật Bản quản lý rất chặt chẽ các vấn đề kiểm dịch động thực vật có ảnh
hưởng tới các sản phẩm công nghiệp và việc tiêu thụ các loại thực phẩm sạch và
thực phẩm được bảo quản. Trong thể chế kiểm dịch thực tiễn của Nhật Bản chủ yếu
và chất phóng xạ có trong sản phẩm nhập khẩu, khả năng nhiễm khuẩn, vi khuẩn
coli đối với các thực phẩm chế biến.
− Luật trách nhiệm sản phẩm
Luật này được ban hành tháng 7/1995, áp dụng đối với tất cả sản phẩm kinh
doanh trên thị trường Nhật Bản, không riêng sản phẩm nhập khẩu. Theo quy định
của luật này: Nếu một sản phẩm có khuyết tật gây ra thương tích cho người hoặc
thiệt hại về vật chất thì nạn nhân có thể đòi bồi thường từ nhà sản xuất cho các thiệt
hại xảy ra liên quan đến sản phẩm có khuyết tật với điều kiện có mối quan hệ nhân
quả giữa thiệt hại và khuyết tật sản phẩm.
Tóm lại, chính sách thương mại của Nhật là khuyến khích nhập khẩu hàng
hoá nhằm đa dạng hoá nền kinh tế cũng như tăng tính năng động cho mỗi ngành sản
xuất trong nước. Bên cạnh đó, Nhật Bản vẫn có cơ chế bảo hộ ngành sản xuất trong
nước một cách hiệu quả. Thay cho những biện pháp bảo hộ mang tính lộ liễu như áp
đặt lệnh cấm, hạn chế số lượng hoặc áp đặt thuế suất nhập khẩu cao, Nhật Bản đã sử
dụng các biện pháp bảo hộ tinh vi hơn như bảo vệ sức khỏe con người, kiểm soát
chất lượng, môi trường, quy định về VSATTP, ghi nhãn hàng hoá...
1.1.4. Đặc điểm hệ thống phân phối của Nhật Bản
Để đưa hàng hóa thâm nhập thành công thị trường Nhật, việc hiểu rõ HTPP
hàng hóa của nước này sẽ giúp các DN rất nhiều. HTPP bao gồm tất cả các khâu mà
thông qua đó sản phẩm được đưa từ người sản xuất đến tay người tiêu dùng. HTPP
của Nhật hết sức phức tạp, kênh phân phối lại thay đổi theo từng loại sản phẩm,
nhưng nhìn chung có các đặc điểm chủ yếu sau:
− Có nhiều cửa hàng bán lẻ, mật độ dày đặc, nhưng quy mô tương đối nhỏ
Những cửa hàng bán lẻ này thường sử dụng trung bình từ 1- 49 nhân viên và
có mật độ khoảng 13 cửa hàng cho 1.000 dân cư, cao hơn so với tỷ lệ 8,7 cửa
hàng/1.000 dân ở Pháp, 6,6 ở Đức, 6,5 ở Mỹ và 6,1 ở Anh. Nếu tính về số lượng các
cửa hàng bán lẻ, Nhật Bản có 1,6 triệu cửa hàng bán lẻ so với 1,5 triệu cửa hàng của
Mỹ. Trong khi đó, Mỹ có số dân lớn gấp 2,1 lần và diện tích lớn gấp 25 lần của
Các nhà bán lẻ thường chỉ kinh doanh một số hàng hoá của các nhà sản xuất nhất
định, không kinh doanh hàng hoá của các nhà sản xuất khác. Vì thế, hàng hóa nước
ngoài rất khó thâm nhập và mở rộng đại lý tiêu thụ trên thị trường này.
− Xu hướng nới lỏng quy định về HTPP và mở cửa cho các nhà bán lẻ nước
ngoài thâm nhập thị trường
23
Trước hết, kênh phân phối được rút ngắn hơn, hoạt động hiệu quả hơn. Thay
vì chỉ có đại lý NK độc quyền của các công ty thương mại tổng hợp tiến hành NK,
rồi phân phối cho các nhà buôn, thông qua các nhà buôn thứ cấp mới đến người bán
lẻ, thì thời gian gần đây, phương thức NK đã được đa dạng hóa, như: nhà sản xuất
trong nước tiến hành NK từ các cơ sở đầu tư ở nước ngoài, các nhà bán buôn nhỏ và
trung bình đặt hàng của các công ty nước ngoài qua thư điện tử để NK trực tiếp,
nhiều người bán lẻ cũng tiến hành NK trực tiếp từ nước ngoài và trực tiếp phân
phối.
Tiếp đó là tính khép kín và bài ngoại của HTPP dần dần được gỡ bỏ: các nhà
phân phối có thể tự do bán các sản phẩm của các nhà sản xuất khác bao gồm cả các
sản phẩm nhập khẩu, tiêu biểu cho xu hướng này là các nhà bán buôn và bán lẻ trực
thuộc tập đoàn chế tạo ôtô Nissan đã được phép ký hợp đồng trực tiếp với hãng
Ford và được quyền bán các ôtô Ford tại Nhật; Tổng công ty siêu thị Daiei Nhật
Bản đã nhập khẩu các máy ghi hình, tivi màu và các đồ gia dụng để bán ...
Độ mở cửa cho các nhà bán lẻ nước ngoài vào thị trường Nhật Bản ngày càng
rộng. Các doanh nghiệp nước ngoài có nhiều cơ hội để thâm nhập vào HTPP phức
tạp này như nhượng quyền, liên doanh, thành lập chi nhánh… Sự hiện diện trực tiếp
là phương thức tốt nhất nhưng cũng là phương thức tốn kém nhất. Bởi vậy, các công
ty thực hiện thâm nhập theo hình thức này chủ yếu là các công ty lớn như Toy R
US, WalMart và Costo của Hoa Kỳ, Carrefour của Pháp, Metro của Đức, Tesco của
Anh, Ikea của Thụy Điển… trong khi đó, với nhiều ưu điểm như chi phí thấp, có
thông tin về thị trường, có ngay HTPP và khách hàng…, liên doanh đang là hình
− Người Nhật đòi hỏi cao về chất lượng
Xét về mặt chất lượng, người tiêu dùng Nhật yêu cầu khắt khe nhất. Họ sẵn
sàng trả giá cao cho những sản phẩm mang tính sáng tạo, chất lượng cao và mang
tính thời thượng. Không chỉ về hàng hóa mà họ còn đòi hỏi cao về bao bì, dịch vụ
bán hàng và sau bán hàng. Những lỗi nhỏ do sơ ý trong quá trình vận chuyển hay
khâu hoàn thiện sản phẩm như những vết xước nhỏ, mẩu chỉ cắt còn sót lại trên sản
phẩm,…có thể dẫn đến tác hại lớn như cả lô hàng trở nên khó bán.
Người Nhật rất coi trọng vấn đề VSATTP. Các nhà nhập khẩu Nhật Bản không
chỉ quan tâm tới chất lượng mà còn chú trọng cả từ khâu nguyên liệu, bảo quản sau
thu hoạch đến công nghệ chế biến sản phẩm. Đối với hàng thực phẩm, rau quả, độ
tươi mới đóng vai trò cốt yếu. Hơn nữa, tại Nhật, nhiều mặt hàng được dùng làm
quà tặng nên những mặt hàng không được đóng gói đẹp sẽ khó tiêu thụ. Quy mô các
hộ gia đình Nhật tương đối nhỏ trong khi các gia đình Nhật ít phương tiện dự trữ
nên những sản phẩm được đóng gói với số lượng lớn thường ít được tiêu thụ trên thị
25
trường này. Bởi vậy, cần có sự quan tâm đúng mức tới khâu hoàn thiện, vệ sinh thực
phẩm, bao gói, vận chuyển và thời gian giao hàng (nếu chậm giao, hợp đồng có thể
bị hủy bỏ hoặc mức phạt rất cao).
Người Nhật đặc biệt coi trọng các tiêu chuẩn Nhật Bản, tiêu biểu là tiêu chuẩn
chất lượng JAS và JIS. Chúng còn được coi trọng hơn cả các tiêu chuẩn quốc tế.
− Người Nhật nhạy cảm với giá cả, ưa chuộng sự đa dạng của sản phẩm
Không giống như ở Châu Âu, các bà nội trợ Nhật Bản vẫn đi chợ hàng ngày
theo thói quen, giống các bà nội trợ Việt Nam, để mua hàng tươi sống, họ là lực
lượng quan trọng ảnh hưởng đến thị hiếu tiêu dùng, họ hay để ý đến biến động giá
và các mẫu mã mới.
Người tiêu dùng Nhật không chỉ yêu cầu hàng hóa chất lượng cao, bao bì đảm