Khóa luận Âm mưu và thủ đoạn của diễn biến hòa bình của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động trên mặt trận văn hoá tư tưởng ở Việt Nam hiện nay - Pdf 39

MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Lịch sử xã hội loài người đã chi nhận từ năm 1848, “Chủ nghĩa xã
hội đã được tất cả các thế lực ở Châu Âu thừa nhận là một thế lực”. Từ
khi ra đời nó được coi là một bóng ma đang ám ảnh bầu trời Châu Âu và
giai cấp tư sản thế giới đã liên hợp lại thành một liên minh thần thánh để
trừ khử bóng ma đó” [16 - 539].
Mưu đồ lật đổ các nước xã hội chủ nghĩa để xoá bỏ hệ thống xã hội
chủ nghĩa, thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và phủ định hình thái
ý thức của chủ nghĩa Mác - Lê nin nhằm thiết lập một trật tự thế giới
mới theo kiểu phương tây luôn luôn là mục tiêu chiến lược cơ bản của
chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, đứng đầu là đế quốc Mỹ.
Thực hiện âm mưu đó, chủ nghĩa đế quốc đã tiến hành bằng nhiều chiến
lược phản cách mạng, không ngừng điều chỉnh đường lối, chính sách
hòng đạt mục đích “Bá chủ thế giới”. Hiện nay, chúng đang ráo riết đẩy
mạnh chiến lược “DBHB”, bạo loạn lật đổ để chống phá chủ nghĩa xã
hội và Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam, “DBHB” là chiến lược cơ
bản của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động nhằm lật đổ chế độ
chính trị - xã hội của các nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong, chủ yếu
bằng các biện pháp phi quân sự; là chiến lược phản cách mạng của chủ
nghĩa đế quốc gây dao động, mơ hồ, ảo tưởng về mục tiêu cán bộ, đảng
viên và nhân dân. Mục tiêu của chiến lược “DBHB” đối với cách mạng
nước ta là xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, lật đổ sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam. Trước mắt, chúng tập trung vào thúc đẩy tự do hoá
chính trị, đa đảng đối lập, dân chủ không giới hạn, thúc đẩy tư nhân hoá
nền kinh tế thị trường theo hướng tư bản chủ nghĩa và “phi chính trị hoá
lực lượng vũ trang để chủ động tiếp cận, chọn lọc và hành động từng
bước, đánh có trọng điểm tiến tới hoá hoại toàn diện.
Từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (4-2001),
tình hình thế giới diễn biến nhanh chóng và phức tạp. Cuộc đấu tranh
1

quốc gia

và Tổng cục II Bộ Quốc phòng dịch và xuất bản ở Việt Nam

1994), “hãy cảnh giác với cuộc chiến tranh thế giới không có khói súgn
2


(Lưu Đình Á chủ biên,k Nxb Chính trị quốc gia, Tổng cục II, Bộ Quốc
phòng, Hà Nội 1994).
- Việt Nam: Quyết tâm làm thất bại chiến lược “DBHB” của các
thế lực thù địch (Ban tư tưởng - văn hoá TW, Nxb Chính trị quốc gia ,
Hà Nội 1994), “Chiến lược DBHB” (Nguyễn Anh Lân chủ biên, Nxb
Tổng cục II Bộ Quốc phòng,Hà Nội 1993); Bàn về “DBHB” (Nguyễn Đỗ
Hoàng, Nxb CAND, Hà Nội 1991)…
Những công trình này đã cung cấp một bức tranh khá toàn diện về
chiến lược “DBHB” của địch. Nhìn chung, đây alf một đề tài khó, đòi
hỏi người viết phải tham khảo nhiều tài liệu, có tư duy sâu sắc và một
trình độ tổng hợp cao. Nhưng đề tài có sức hấp dẫn bởi nó không những
có tính lịch sử mà còn có tính thời sự và được rất nhiều nhà nghiên cứu
quan tâm. Xuất phát từ tình hình thực tế đó, người viết luận văn đã tiếp
cận vấn đề từ một góc độ văn hoá tư tưởng với mong muốn góp một chút
công sức nhỏ bé vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa.
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA KHOÁ LUẬN .
* Mục đích: làm rõ thực chất âm mưu và thủ đoạn của “DBHB”
của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động trên mặt trận văn
hoá tư tưởng ở Việt Nam hiện nay.
* Nhiệm vụ: Nghiên cứu những hiện tượng, những hình thức biểu
hiện của “DBHB” trên mặt trận văn hoá tư tưởng để phát hiện bản chất

người thoát khỏi ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc và các giai cấp bóc
lột. Việc mở ra con đường này đồng nghĩa với sự bắt đầu một thời đại
lịch sử mới mà trong đó địa vị lịch sử của chủ nghĩa tư bản bị thách
thức.
Ngay lập tức, chủ nghĩa tư bản thế giới, các thế lục phản động đã
xúm lại tìm cách bóp chết chủ nghĩa xã hội ngay từ khi còn “trong trứng
nước”. Ỷ vào tiềm lực hơn hẳn về kinh tế, quân sự, chúng đã phát động
cuộc can thiệp vũ trang của 14 nước đế quốc chống nước Nga Xô Viết
non trẻ trong những năm 1918 - 1922. Chúng đã hướng sức mạnh tàn phá
do chủ nghĩa phát xít nhằm tiêu diệt Liên Xô (1941 - 1945). Song những
nỗ lực của chủ nghĩa đế quốc trong việc dùng sức mạnh quân sự và chiến
tranh để tiêu diệt Liên Xô - Nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế
giới đã bị thất bại thảm hại. Chủ nghĩa xã hội ở Liên Xo đang đứng vững
trước những cuộc chiến tranh xâm lược của các thế lực đế quốc - phản
động quốc trê. Trong khi đó, cách mạng lần lượt thành công ở các nước
Đông Âu, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Việt Nam. Sự phát triển của chủ
nghĩa xã hội - các cao trào giải phóng dân tộc đã thu hẹp đáng kể phạm
vi thống trị của chủ nghĩa đế quốc. Từ kinh nghiệm lịch sử ở giai đoạn
trước, lẫn thực tế tình hình tư bản và đế quốc hiếu chiến nhận thấy rằng,
không thể xoá bỏ được chủ nghĩa xã hội hiện thực - xâm chiếm các nước
xã hội chủ nghĩa bằng cách trực tiếp dùng thủ đoạn quân sự. Hơn nữa,
việc phát động một cuộc chiến tranh qui mô lớn, trực diện tấn công v ào
các nước xã hội chủ nghĩa có thể đưa tới hậu quả ngược chiều là chủ
5


nghĩa tư bản thế giới tiếp tục bị đe doạ và thất bại nặng nề hơn nhiều.
Bằng chứng hùng hồn là hại cuộc chiến tranh thế gới do chủ nghĩa đế
quốc gây ra đã đưa tới thắng lợi mở rộng phạm vi của chủ nghĩa xã hội.
Đặc biệt, sau chiến tranh thất bại ở Việt Nam, những phần từ diều hâu

tiêu chủ nghĩa xã hội và phong trào cộng sản quốc tế trong điều kiện
không thể giành thắng lợi bằng biện pháp quân sự. chiến lược “DBHB”
được thực hiện thông qua việc sử dụng các phương thức tổng hợp, thủ
đoạn hd phá hoại thâm độc, tinh vi với tính chất, phạm vi và mức độ
khác nhau , kể cả biện pháp răn đe quân sự, diễn ra trên mọi lĩnh vực mà
kinh tế chính trị, tư tưởng và nội bộ là mặt trận nóng bỏng, dân tộc tôn
giáo là “ngòi nổ”. Các hoạt động này chủ yếu làm xuất hiện ngay trong
lòng các nước xã hội chủ nghĩa những nhân tố phản cách mạng, hỗ trợ và
tiếp sức cho các nhân tố này mạnh dần lên trở thành lực lượng chính trị
đối trọng với Đảng Cộng sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa; từng bước
làm suy giảm tiến tới xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản; làm
suy yếu và làm mất dần bản sắc của chế độ xã hội chủ nghĩa; kết hợp tác
động từ bên ngoài tạo ra sự vận động từ bên trong một cách toàn diện
theo hướng tư bản chủ nghĩa từng bước chuyển hoá theo con đường tư
bản chủ nghĩa. Chiến lược này lợi dụng các đặc điểm tỏng môi trường
quan hệ quốc tế, như sự đan xen và tương tác giữa hợp tác và cạnh tranh,
xu hướng quốc tế hoá, khu vực hoá đồng thời với xu hướng đề cao chủ
nghĩa dân tộc. Chúng lợi dụng các khẩu hiệu “dân chủ”, “nhân quyền”
giả hiệu để kích động quần chúng, gây rối loạn xã hội. Chúng triệt để
khai thác những sơ hở, thiếu sót, sự chưa hoàn chỉnh của đường lối chính
sách trong cải tổ và đổi mới; Khoét sâu sai lầm trong tổ chức thực hiện,
trong lãnh đạo và quản lý các mặt của đời sống xã hội. Quá trình
“DBHB” là qúa trình đấu tranh giữa hai con đường tư bản chủ nghĩa và
xã hội chủ nghĩa diễn ra ở các nước xã hội chủ nghĩa đang cải tổ, cải
cách, đổi mới, tức là xã hội đang trong qúa trình biến động, đang chứa
đựng nhiều yếu tố ổn định. Tuỳ thuộc vào tương quan lực lượng giữa
cách mạng và phản cách mạng, việc giải quyết tình thế chính trị này
không nhất thiết diễn ra dưới dạng chuyển hoá “hoà bình” mà có thể xảy
7


chúng ta trong thế giới tự do, còn chúng ta thì không có quyền cạnh
8


tranh với họ trong thế gới cộng sản, chúng ta phải phát triển chiến lược
thi đua hoà bình với Matxcơva ở Đông Âu và ở cả Liên Xô, phải thúc
đẩy ch “DBHB” dưới chế độ của họ [33].
Chúng ta biết rằng, chiến lược “DBHB” là âm mưu và hành động
của chủ nghĩa đế quốc chống lại sự phát triển của xã hội loài người. Tuy
nhiên, những thủ đoạn tiến công lắt léo, tinh vi dưới các chiêu bài mị
dân như : “Sự nhích lại gần”, “Giải phóng tư tưởng” hoặc “Cạnh tranh
hoà bình”… đã đánh trúng tâm tư, nguyện vọng và ước mong của quần
chúng nhân dân và một bộ phận cán bộ, đảng viên chiến lược “DBHB”
đã che đậy được bản chất xấu xa, phản động của nó. Ở nhiều nước xã hội
chủ nghĩa, trong giới ktrí thức và chính khách do mơ hồ, mất cảnh giác,
ảo tưởng nên có nhiều người đứng ra bào chữa cho các hành động của
chủ nghĩa đế quốc. Họ tự cho rằng, chủ nghĩa xã hội xụp đổ là do “tự
DBHB” chứ không phải do can thiệp, tiến công của chủ nghĩa đế quốc từ
bên ngoài.
3. Âm mưu và thủ đoạn của chiến lược “DBHB”.
Để thực hiện chiến lược “DBHB”, chủ nghĩa đế quốc huy động và
sử dụng tổng hợp các lực lượng và biện pháp : chính trị, tư tưởng, kinh
tế, ngoại giao, phá hoại ngầm, bạo loạn lật đổ, chiến tranh ngoại vi…
nhằm gây cản trở cho việc phát triển và mở rộng các nước xã hội chủ
nghĩa. Đồng thời, tạo ra nhêìu khó khăn trong đời sống kinh tế - xã hội
tinh thần ở các nước xã hội chủ nghĩa. Khi môi trường khách quan của
“DBHB” xuất hiện thì chuyển hướng chiến lược “Vượt trên ngăn chặn”
làm xụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa.
Chủ nghĩa đế quốc tiến công bằng các biện pháp mềm dẻo, thúc
đẩy ch đánh từ trong lòng của nước xã hội chủ nghĩa. Chú trọng vận

Một là, chiến lược “DBHB” là con đẻ của quyết tâm tiêu diệt chủ
nghĩa xã hội, với tư cách là một hệ tư tưởng, ột con đường phát triển
của xã hội loài người. Chiến lược này ra đời trong bối cảnh chủ nghĩa đế
quốc đánh giá cùng với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa tiến hành
cải tổ, cải cách, cuộc đấu tranh lịch sử giữa hai hệ thống xã hội đối lập chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản trên phạm vi thế giới đã chuyển
10


sang giai đoạn có ý nghĩa quyết định: “một mất một còn”. Vấn đề “Ai
thắng ai” theo đánh giá của các chiến lược gia của chủ nghĩa đế quốc đã
trở thành một vấn đề thời sự trực tiếp chứ không còn là triển vọng lịch
sử lâu dài.
Hai là, Thực chất của chiến lược “DBHB” căn cứ vào diễn biến
tình hình ở mỗi nước xã hội chủ nghĩa và dựa vào các nhân tố chống đối
ở bên trong mỗi nước mà tác động và tấn công một cách thích hợp trên
mọi lĩnh vực đời sống xã hội, thực hiện một cuộc vận động phản cách
mạng nhằm đưa các qúa trình kinh tế - xã hội, chính trị đang diễn ra ở
mỗi nước chuyển sang con đường tư bản chủ nghĩa, đánh đổ Đảng Cộng
sản và công nhân, đưa các lực lượng phục hồi chủ nghĩa tư bản lên cầm
quyền.
Ba là, Chiến lược “DBHB” lấy mặt tấn công vào các nước xã hội
chủ nghĩa làm chính, đồng thời, tăng cường, bao vây, gây sức ép từ bên
ngoài.
Bốn là, trong chất lượng “DBHB”, mặt trận văn hoá - tư tưởng nổi
lên hàng đầu. “DBHB” trước tiên diễn biến về mặt tư tưởng trên các lĩnh
vực đời sống chính trị và kinh tế của xã hội xã hội chủ nghĩa.
Bởi vậy, việc phòng và chống “DBHB” là một trong những vấn đề
cấp bách đối với chế độ xã hội chủ nghĩa nói chung và Nhà nước xã hội
chủ nghĩa Việt Nam nói rêing. Điều đó đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta
phải có một chiến lược tập trung chỉ đạo và phối hợp thống nhất các lực

hoảng toàn diện, sâu sắc dẫn đến sự sụp đổ chủ nghĩa xã hội về mặt Nhà
nước ở Liên Xô và Đông Âu đã làm cho các nước đang phát triển mất đi
một chỗ dựa hùng hậu trên nhiều phương diện. Sau khi Liên Xô xụp đổ,
Mỹ ra sức lợi dụng LHQ can thiệp, xâm nhập vào nhiều nơi hòng lập nên
một trật tự thế giới mới do Mỹ thóng trị. Các nước lớn mâu thuẫn với
nhau nhưng cũng thoả hiệp để giành lợi ích chiến lược.
Tình hình Đông Nam á - Đông Dương, vì vậy vẫn tiếp tục diễn
biến phức tạp như vtrong vấn đề Campu chia, Đông Timo, vấn đề tranh
chấp biển Đông… Với vị trí tiền đồn quan trọng, Đông Nam á - Đông
Dương đã và đang là khu vực tranh chấp gay gắt giữa cách mạng và phản
12


cách mạng, giữa các nước lớn trong các vấn để: Biên giới, lãnh thổ, dân
tộc, tôn giáo…
Tổng thống Mỹ - Burh (28.9.1991) cho rằng: Hầu hết 45 năm qua,
trọng điểm số một của chúng ta là ngăn chặn ý thức hệ cộng sản - Đến
nay chúng ta mới đối phó với thử thách đó một cách thành công…
Nhưng Đông Nam á - Thái Bình Dương vẫn là xứ sở của những xã hội
phát triển mạnh mẽ nhất về kinh tế chính trị. Ở đây vẫn còn một số chế
độ cộng sản cuối cùng và những điểm nóng khu vực chiến lược như
Campuchia, Bắc Triều Tiên và lãnh thổ tranh chấp chưa được giải quyết.
Trong mọi trường hợp phức tạp này khi kỷ nguyên phiêu lưu của Liên
Xô giảm xuống Mỹ vẫn cần có lực lượng mới ở Việt Nam, Cămpuchia,
Bắc Triều Tiên.
Đến ngày 9.1.1992, Burh khẳng định tiếp : Lịch sử sẽ viết thời
điểm này là một trong những bước ngoặt quan trọng nhất tiến tới một
trật tự thế giới mới và chắc chắn là một bước ngoặt trên đường tiến tới
tự do dân chủ trên toàn thế giới; đó là một bước ngoặt trên đường tiến
tới tự do dân chủ trên toàn thế giới; đó là một việc lớn lao đối với nước

một hệ thống cứu chết đuối cho một chế độ đang xâm lược ở nước ngoài
và đàn áp tàn bạo ở trong nước… Một chế độ như chế độ ở Hà Nội
không đáng và không nên được công nhận là một thành viên có tư cách
tốt của cộng đồng quốc gia… Trong lúc chào mừng thất bại của ý thức
hệ cộng sản, chúng ta phải cam kết chấm dứt ách áp bức ở Hà Nội đối
với những người Việt Nam đã từng chiến đấu quả cảm với chúng ta”.
Như vậy, Mỹ cho rằng Liên Xô xụp đổ là “Hồi chuông báo tử
giành cho phong trào cộng sản quốc tế”và là “cú trời giáng đánh vào các
chính phủ cộng sản khác”. Do đó, phải tận dụng thời cơ chuyển trọng
điểm sang xoá bỏ các nước XHCN còn lại, tập trung ở châu Á “DBHB”.
Mỹ và các thế lực phản động cho rằng, thời cơ hành động đã chín muồi
vf “cộng sản đã hết thời ở Việt Nam. Cho nên chủ trương phát triển và
thống nhất lực lượng trong nước, chuẩn bị hành động. Chúng đánh giá
Việt Nam không khỏi có những chuyển biến to lớn. Bởi vậy, phải kích
động quần chúng với lá bà dân chủ đa nguyên, nhân quyền, chống tham
nhũng và phải tận dụng thời điểm bùng nổ do “lực lượng chính không ai
14


khác chính là những ngườicộng sản với nhau”. Chúng cho rằng, muốn
chuyển hoá chế độ trước hết thúc đẩy “chính những người cộng sản đặt
quyền lợi dân tộc lên trên”, lật đổ nhau từ tỏng nội bộ Đảng, vì không
một nước lớn nào trực tiếp lật đổ chế độ cộng sản ở Việt Nam mà chỉ có
“cộng sản lật đổ cộng sản”, từ đó tập hợp lực lượng phản động trong tôn
giáo nguỵ quân, nguỵ quyền và “dân chủ cấp trên” chớp thời cơ giành
chính quyền.
Tóm lại, chiến lược “DBHB” đối với Việt Nam của Mỹ và các lực
lượng phản động là một chiến lược cực kỳ nguy hiểm. Vì vậy, đòi hỏi
Đảng, Nhà nước và nhân dân ta phải vững vàng trong thế trận đấu tranh
trên mặt trận văn hoá - tư tưởng, làm vô hiệu hoá âm mưu và hoạt động

tiết của Nhà nước, rất cần vốn, tri thức và công nghệ, Mỹ hiểu rất rõ
điều đó và đề ra chủ trương điều phối tư bản của các nước vào thị trường
Việt Nam bằng 3 đợt sóng: Đầu tiên là Đài Loan, Hồng Công và các
nước Asian ; Thứ hai, là Hàn Quốc và các nước phương Tây; giai đoạn
ba là các công ty Mỹ và các tập đoàn tư bản đa quốc gia, các tổ chức
kinh tế tài chính quốc tế do Mỹ chi phối.
chiến lược chi phối đầu tư với mục tiêu sâu xa là : Vực dậy nên
kinh tế tư nhân, tạo ra những yếu tố có lợi về kinh tế cho phát triển tư
bản chủ nghĩa. Thông qua đõ, Mỹ tìm cách nắm, hướng thành phần kinh
tế tư nhân vào quỹ đạo của mình, lấn át kinh tế nhà nước và kinh tế tập
thể, xoá bỏ định hướng xã hội chủ nghĩa. Đã có những công ty Mỹ núp
dưới danh nghĩa các nước khác vào Việt Nam, đến nay ra hoạt động
công khai bằng cách mua lại cổ phần trong các công ty đó. Đối với
những công ty của các tập đoàn tư bản lớn của các nước, Mỹ đang tiến
hành đàm phán, mua lại các cổ phần sao cho trong các liên doanh lớn và
quan trọng Mỹ chiếm được số đa.
Đồng thời, chủ nghĩa tư bản triệt để viẹc ta mở rộng giao lưu quốc
tế và nhu cầu thu hút vốn đầu tư (kể cả hình thức viện trợ phi chính phủ,
từ thiện, nhân đạo) để gây sức ép đòi ta chấp nhận đa nguyên chính trị,
để cho Đảng phái hoạt động công khai, khuyến khích phát triển nền kinh
tế thị trường tự do theo hướng tư nhân hoá, để hình thành và phát triển
giai cấp tư sản ở Việt Nam, thu hẹp kinh tế quốc doanh, làm suy yếu cơ
16


sở vật chất của chế độ mới. Chính quyền một số nước đang gia tăng chỉ
đạo và tài trợ các tổ chức phi chính phủ vào Việt Nam tổ chức các lớp
học, các cuộc hội thảo; ký các chương trình giáo dục - đào tạo với các
trường Đại học, hình thành các trung tâm nghiên cứu ở Việt Nam. Nhiều
tổ chức phi chính phủ lâu nay mang danh nghĩa “nhân đạo” nay thấy rõ

nghĩa trước đây, cũng như các nước tư bản khác ngày nay không thể so
sánh được với sự giúp đỡ của Mỹ. Chiến lược này nhằm thúc đẩy tự do
theo kiểu Mỹ ở Việt Nam, lôi kéo Việt Nam về phía Mỹ.
Tuy nhiên, bằng kinh nghiệm lịch sử và tinh thần cảnh giác, chúng
ta thấy rằng việc viện trợ của Mỹ cho Việt Nam không đáng là bao so
với những lời hào phóng của họ, thậm chí còn chưa bằng một số nước
khác. Hơn nữa các viện trợ đó của Mỹ thường gắn với những điều kiện
chính trị ngang ngược, cũng như trong chiêu bài nhân đạo, chúng ta sẵn
sàng hợp tác với Mỹ trong vấn đề POW/MIA. song, ngược lại Mỹ lại
thiếu thiện chí trong vấn đề giải quyết nạn nhân chất độc màu da cam ở
Việt Nam do Mỹ gây ra…
Vì thế, chiến lược “ngoại giao thân thiện” của Mỹ chỉ là một chiêu
bài đánh vào lòng người dân Việt Nam mà thôi.
Thứ ba, chiến lược khoét ssau mâu thuẫn nội bộ, thực hiện “nội
công ngoại kích” cán bộ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam làm nòng
cốt để chuyển hoá Đảng, Mỹ tập trung lôi kéo đảng viên phụ trách kinh
tế, kích động nói xấu cán bộ chính trị gây ra sự phân hoá, đối lập giữa
“nhóm cán bộ kinh tế” và “nhóm cán bộ chính trị”, cố gắng làm phân
hoá xã hội bằng tham nhũng, buôn lậu, tạo ra sự phân cực sâu sắc trong
các tầng lớp nhân dân Việt Nam. Mỹ tiến hành lôi kéo đội ngũ trí thức là
tầng lớp trẻ và những người dễ dao động để “Nuôi dưỡng hạt nhân”,
“Gieo mầm dân chủ”, “Tạo dựng ngọn cờ”, từ đó tạo thành phong trào
chống đối Đảng và chế độ. Lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo để gây
áp lực dối với chính quyền.
Mỹ rất chú ý khai thác các khía cạnh tiêu cực vè kinh tế - văn hoá,
xã hội ở Việt Nam để chống lại Đảng và Nhà nước ta. Tìm mọi cách thổi
phòng và kích động những mâu thuẫn giữa Việt Nam với các nước, nhất
là Trung Quốc, Campuchia và Lào đẻ gây chia rẽ. Chẳng hạn, khi ta và
18


Minh, thao thống kê có hàng trăm trường hợp nhận làm việc trong các
19


văn phòng đại diện mà không xin phép). Một số do hám lợi về vật chất,
muốn được học bổng của nước ngoài… nên tự ý quan hệ với nước ngoài,
vi phạm nguyên tắc Đảng và qui định Nhà nước.
Sự cấu kết giữa các loại phản động trong và ngoài nước mang tính
qui luật, phức tạp, nguy hiểm; vừa hoạt động gián điệp, tình báo, vừa
hoạt động phá hoại gây rối, gây bạo loạn, tạo thời cơ lật đổ chế độ xã hội
chủ nghĩa của nước ta.
3. Mục tiêu chiến lược “DBHB” của Mỹ và các thế lực thù địch
chống phá Việt Nam trên mặt trận văn hoá - tư tưởng.
Trong cuộc chính sách xâm lược Việt Nam, Mỹ ngày càng sa lầy
nghiêm trọng. Đặc biệt, sau cuộc tấn công nổi dậy của quân dân miền
Nam tết Mậu Thân (1968), Mỹ nhận thấy thất bại là không thể tránh
khỏi. Vì thế, các chiến lược gia của Mỹ đã nhanh chóng vạch ra “kế
hoạch hậu chiến” chuẩn bị cho cuộc rút quân viễn chinh ra khỏi miền
Nam Việt Nam. Quả nhiên, tháng Giêng năm 1973, Mỹ buộc phải ký
Hiệp định Pari rút quân ra khỏi miền Nam nước ta. Chúng cũng dự kiến
sau thất bại trực tiếp của Mỹ trong hoạt động can thiệp bằng quân sự,
chính quyền Sài Gòn do Mỹ nâng đỡ, bảo trợ cũng sẽ bị lật đổ. Do vậy
cùng một lúc Mỹ vừa chỉ đạo chính quyền Sài Gòn phá bỏ Hiệp định
Pari, vừa ráo riết hoàn tất kế haọch “hậu chiến” - Đó chính là kế hoạch
mở đầu thực hiện “DBHB” ở Việt Nam.
Thất bại về mặt quân sự ở Việt Nam là một sự cay đắng, một “cú
sốc”, một nỗi nhục rất lớn đối với Mỹ. Qua đó chúng hiểu rằng muốn
đánh bại Việt Nam thì phải đánh từ bên trong, và điều cốt yếu là dùng
những người cộng sản lật đổ chế độ cộng sản”. Với mưu đồ xoá bỏ chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam, “chuyển hoá” Việt Nam theo quỹ đạo của chủ

Đảng và dân tộc ta.
Ba là, Mưu toan xoá bỏ Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ vai trò
lãnh đạo của Đảng đối với dân tộc Việt Nam.
Ba mục tiêu trên mà các thế lực thù địch nhằm vào là ba vấn đề cốt
tử của cách mạng nước ta và có mối quan hệ biện chứng với nhau. Bất
cứ yếu tố nào trong ba yếu tố đó bị đánh sập đều làm rung chuyển và kéo
theo sự sụp đổ của các yếu tố kèm theo.
21


* Mục tiêu của chiên lược “DBHB” nhằm xoá bỏ chủ nghĩa Mác Lênin tư tưởng Hồ Chí Minh .
Chủ nghĩa Mác, từ khi ra đời năm 1848, đã hơn 150 năm nay luôn
luôn là mục tiêu tấn công của các thế lực thù địch. Chủ nghĩa Mác vừa ra
đời người ta đã hô hào hãy xua tan ngay các “bóng ma” đang ám ảnh
Châu Âu lúc bấy giờ. Nhưng rồi hơn 150 năm trôi đi, “bóng ma” ấy
không những bị xua tan mà ngày càng thấm sâu vào hàng trăm triệu trái
tim, khối óc những người lao khổ trên thế giới vf nó thực sự là vũ khi tư
tưởng lợi hại, là kim chỉ nam cho hành động của giai cấp công nhân,
nhân dân các dân tộc bị áp bức đưng lên tự giải phóng mình. Chính vì lẽ
đó mà chủ nghĩa đế quốc coi chủ nghĩa Mác là mục tiêu tấn công, là đối
tượng số một của các chiến lược phản động của chúng, trong đó có chiến
lược “DBHB”. Xoá bỏ chủ nghĩa Mác là xoá bỏ thế giới quan, phương
pháp luận khoa học và cách mạng của chúng ta.
Trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng, văn hoá… chủ nghĩa đế quốc và
các thế lực thù địch mới nổi với các thế lực phản động, các phần tử cơ
hội chĩa mũi nhọn chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa
Mác - Lenin, Tư tưởng Hồ Chí Minh. Chúng tuyên truyền luận điệu cho
rằng : chủ nghĩa Mác- Lênin là “chủ nghĩa lý tưởng” kiểu không tưởng,
là sự “suy ngẫm trong phòng đọc viện báo tàng Anh quốc”.
Theo quan điểm của giai cấp tư sản, chủ nghĩa xã hội là “sai lầm

thuyết giá trị thặng dư của Mác và cho rằng, trong lao động xã hội hiện
đại, người công nhân không còn bị bóc lột giá trị thặng dư, không bị bóc
lột lao động sống như thời kỳ lao động thủ công cơ bắp trước đây.
Chúng phủ nhận chủ nghĩa duy vật về lịch sử, phủ nhận lý luận về các
hình thái kinh tế - xã hội. Chúng cho rằng, lịch sử xã hội loài người là
lịch sử phát triển qua các nền văn minh - chứ không phải qua 5 hình thái
kinh tế - xã hội như Mác nêu ra. Chúng phủ nhận lý luận giai cấp và đấu
tranh giai cấp, phủ nhận lý luận về cách mạng xã hội, phủ nhận quy luật
phát triển của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản . Từ việc phủ nhận
những nguyên lý cụ thể như vậy, chiến lược “DBHB” đi đến phủ nhận
toàn bộ lý luận của chủ nghĩa Mác. Theo chúng sự sụp đổ của Liên xô là
xụp đổ từ gốc, xụp đổ từ lý luận về chủ nghĩa xã hội, vì vậy chúng coi
23


việc làm chuyển hoá quan điểm tư tưởng trên phương diện lý luận, nhằm
xoá bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là mũi
nhọn để chúng xâm nhập vào tận sâu lòng Đảng và Nhà nước xã hội chủ
nghĩa Việt Nam. Chúng chủ trương “phá vỡ thế đồng nhất một khối của
Đảng Cộng sản Việt Nam”, “phải làm cho được việc phân tán chế độ
cộng sản Việt Nam thành nhiều trào lưu đối kháng nhau và kéo theo một
số phần tử đối kháng tiến bộ về phía ta”.
Đi đối với việc đưa ra những luận điểm chống chủ nghĩa Mác Lênin, cho đó là một giáo lí phi khoa học ; chúng công kích thực tiễn xã
hội chủ nghĩa là “trăm năm hoài phí”, là một “bi kịch lịch sử” hoàn toàn
không có ý nghĩa”. Nich Sơn đã cho rằng, chủ nghĩa xã hội đã không còn
là “lực lượng hùng mạnh” khếin cho người ta sợ hãi như trước nữa, rằng
chủ nghĩa xã hội sẽ bị biến mất trên hành tinh này vào năm 2000 và cũng
có nghĩa là đến năm 1999 không cần đánh mà chủ nghĩa đế quốc vẫn
chiến thắng. Chúng tách những luận điểm của Lênin ra khỏi những luận
điểm của Mác và cho rằng chủ nghĩa Lê nin là “sai lầm lớn nhất” là

Nic Sơn còn thả trí tưởng tưởng ra viễn cảnh, trong chương 10
cuốn “1999 chiến thắng không cần chiến tranh” rằng người Mỹ “sẽ cầm
chắc cái gậy chỉ huy, lãnh tụ thế giới” và đó là chịu trách nhiệm tương
lai của nước Mỹ.
Đối với Việt Nam, chúng chủ trương làm thay đổi “định hướng”
lãnh đạo, từng bước xây dựng vị trí và thế lực ho các lực lượng chung
lựa chọn để diễn biến êm ả, không ây nên những phản ứng ồn áo, chúng
dung sự tác động đó hòng tạo ra trong nội bộ Đảng, Nhà nưcớ ta những
phe nhóm màu sắc khác nhau, lấy danh nghĩa “dân chủ bàn bạc trên
đường lối đổi mới” mà đề xướng những chủ trương xa lạ với bản chất xã
hội chủ nghĩa, làm suy yếu địa vị lãnh đạo của Đảng, vai trò, tác dụng
của nguyên tắc tập trung dân chủ, làm suy yếu hệ thống chính trị; thực
hiện phi chính trị hoá lực lượng quân đội, các cơ quan quyền lực bảo vệ
chế độ ta.
Mục tiêu của diễn biến hoà bình là xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa,
thủ tiêu chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Biết chắc ở Việt Nam hiện nay
không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, chúng tập trung
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status