Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống theo hướng xã hội hoá ở các trường tiểu học huyện nghĩa hưng, tỉnh nam định - Pdf 39

Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRẦN VĂNTRƯỜNG
CHIẾN ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG
THEO HƯỚNG XÃ HỘI HOÁ Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC
HUYÊN NGHĨA HƯNG, TỈNH NAM ĐINH

LUẬN VĂN THẠC sĩ KHOA HỌC GIÁO DỤC


TRẦN VĂN CHIẾN

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG
THEO HƯỚNG XÃ HỘI HOÁ Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU
HỌC HUYỆN NGHĨA HƯNG, TỈNH NAM ĐỊNH

Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 01 14
LUẬN VĂN THẠC sĩ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Mai Hương


LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thành luận văn tốt nghiệp tác giả đã
được sự giúp đỡ tận tình của:
Thầy Cô Ban Giám hiệu trường Đại học Sư Phạm Hà Hội 2, quí thầy cô ở phòng
sau đại học, Thầy, Cô trong khoa Quản lý giáo dục, Thầy, cô trực tiếp giảng dạy lớp
Cao học quản lý giáo dục khóa 18 của trường Đại học Sư Phạm Hà Hội 2 đã tận tình
giảng dạy, tạo mọi điều kiện giúp đỡ tác giả ừong quá trình học tập, nghiên cứu và
hoàn thành luận văn.

MỤC LỤC


6

0•
2.6. Đánh giá chung về thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh


1.1.1.

Biện pháp 4: Đa dạng hóa nội dung, hình thức và phương pháp giáo
V


8

DANH MUC CÁC CHỮ VIÉT TẮT TRONG ĐÈ TÀI
BCH
Ban chấp hành
CBQL

Cán bộ quản lý

CMHS

Cha mẹ học sinh

CSVC


HS 2.3
Bảng

Học sinh

HS-SV

Học sinh - sinh viên

Bảng
KNS 2.4

Kỹ năng sống

NGLL

Ngoài giờ lên lớp

Bảng
2.5
NQ-CP

Nghị quyết - chính phủ

QLGD

Quản lý giáo dục

Bảng
TH 2.6



9

huyện Nghĩa Hưng.......................................................................
Đánh giá của giáo viên về lực lượng thực hiện giáo dục 58
kỹ năng sống cho học sinh tiểu học.............................................
Ý kiến của giáo viên về tổ chức hướng dẫn kỹ năng sống 59
cho học sinh.................................................................................
Các môn học, những hoạt động góp phần vào việc giáo 60
dục kỹ năng sống cho học sinh....................................................
Những kỹ năng sống được nhà trường quan tâm giáo dục 62
cho học sinh tiểu học...................................................................
Những hình thức giáo dục kỹ năng sống cho học sinh................ 64
Những biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh............... 67
Đội ngũ cán bộ quản lí các trường tiểu học các trường tiểu 69 học công lập trên địa
bàn huyện Nghĩa Hưng năm học
2014-2015....................................................................................
Kế hoạch hoạt động giáo dục kỹ năng sống ( KC135 giáo 71
viên & CBQL).............................................................................
Nội dung kế hoạch quản lý giáo dục kỹ năng sống của cán 72
bộ quản lý....................................................................................
Tổ chức chỉ đạo công tác giáo dục kỹ năng sống cho học 73
sinh...............................................................................................
Kiểm tra đánh giá công tác giáo dục kỹ năng sống cho 76 học sinh


1

Bảng 2.14

Tương quan mức độ cần thiết và mức độ khả thi của 6 120 biện pháp quản lí hoạt
Biểu
đồ
động giáo dục kỹ năng sống cho
học sinh tiểu học................................................................
3.2
Biểuhệ giũa các biện pháp quản lí giáo dục kỹ 112 năng sống
Mối quan
Sơ đồ


1

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục Kỹ năng sống (KNS) cho thanh thiếu niên là vấn đề được hầu hết các
quốc gia trên thế giới quan tâm, chú ý. Điều này càng thể hiện rõ ở các quốc gia phát
triển như : Hoa Kì, Pháp, Canada, Thụy Sỹ, Trung Quốc, Singapore.... Ở Việt Nam,
thời gian gần đây vấn đề giáo dục KNS cho HS-SV đã nhận được sự quan tâm nhiều
hơn từ các cấp quản lý giáo dục và các nhà khoa học.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã đề cập đến phương
diện lý luận và thực tiễn của việc rèn KNS thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp
và các con đường khác, đặc biệt là các công trình nghiên cứu thực tiễn nhằm nêu ra sự
cần thiết phải đẩy mạnh việc giáo dục KNS cho HS-SV ở tất cả các cơ sở giáo dục.
Tuy vậy, số công trình nghiên cưú về lý luận, thực tiễn, nhất là thực tiễn giáo dục KNS
ở trường Tiểu học chưa nhiều.
Các công trình nghiên cứu trước đây, bước đầu đã đề cập tới tầm quan trọng của
giáo dục KNS cho HS-SV nhưng chưa làm rõ những vấn đề liên quan đến công tác
giáo dục KNS cho HS mà nhất là HS tiểu học. Một số vấn đề như: Vai trò của trường

các môn học, hoạt động giáo dục và xây dựng quy tắc ứng xử văn hoá. Nhà trường chủ
động phối hợp với gia đình và cộng đồng ừong giáo dục đạo đức và kỹ năng sống cho
học sinh.”
Bắt đầu từ năm học 2010 - 2011, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa nội dung giáo
dục kỹ năng sống (KNS) lồng ghép vào một số môn học ở bậc tiểu học. Ngày 28 tháng
2 năm 2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành thông tư số 04/2014/TT-BGDĐT về
Quy định Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống và hoạt động giáo dục ngoài giờ
chính khoá. Đây là một chủ trương cần thiết và đúng đắn. Tuy nhiên, Bộ Giáo dục và
Đào tạo lại chưa ban hành bộ chuẩn về giáo dục KNS cho học sinh để định hướng
chung nên mỗi trường có một cách dạy riêng và nhiều giáo viên còn lúng túng trong
quá trình dạy học dẫn đến việc giáo dục kỹ năng sống chưa đạt hiệu quả.
Tiểu học là cấp học đầu tiên, là nền tảng của giáo dục phổ thông, giáo dục tiểu


1

học có tàm quan trọng trong việc hình thành nên nhân cách của mỗi người. Giáo dục
KNS ngay từ cấp học này sẽ giúp học hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát
triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức và nhân cách. Trong hoạt động quản lý của ban
giám hiệu, quản lý hoạt động giáo dục KNS là một phần quan trọng ừong việc giáo
dục toàn diện học sinh.
Để nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu
học, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống theo
hướng xã hội hoá ở các trường tiểu học huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định”

2. Mục đích nghiền cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về quản lý hoạt động giáo dục KNS
cho học sinh tiểu học, đề tài đề xuất các biện pháp quản lý của ban giám hiệu trường
tiểu học đối với hoạt động giáo dục KNS cho học sinh theo hướng xã hội hoá ở các
trường tiểu học trên địa bàn huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định.


1

4.3.
-

Phạm vỉ nghiên cứu

Hoạt động giáo dục KNS cho học sinh tiểu học được giới hạn thông qua hai hoạt động
chính là hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.

-

Các nghiên cứu thực tiễn được triển khai 6 trường tiểu học trên địa bàn huyện Nghĩa
Hưng, tỉnh Nam Định gồm (TH Nghĩa Minh, TH Nghĩa Trung, TH Nghĩa Hồng A, TH
Nghĩa Phúc, TH Rạng Đông, TH Nghĩa Tân.)

5. Phương pháp nghiên cứu
5.1.
-

Nhóm phương pháp nghiên cứu ỉý thuyết

Nghiên cứu, phân tích, tổng họp, hệ thống hoá các tài liệu liên quan đến nội dung đề
tài.

-

Nghiên cứu các đề tài, các văn bản, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước về vấn
đề QLGD, giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học.


xã hội hoá.
*

Phương pháp chuyên gia
Tổ chức thảo luận chuyên đề, lấy ý kiến các chuyên gia về một số kết quả
nghiên cứu lý luận và thực tiễn.
Phương pháp cũng được sử dụng để đánh giá tính khả thi của các giải pháp
quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống theo hướng xã hội hoá trước khi tổ chức thử
nghiệm.
*Phương pháp hỗ trợ
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để thu thập, xử lí và phân tích các số
liệu nghiên cứu thông qua các tham số thống kê.

6. Giả thuyết khoa học
Nếu thực hiện các biện pháp quản lý của nhà trường đối với hoạt động giáo dục
KNS cho học sinh theo hướng: nâng cao nhận thức cho các chủ thể về hoạt động giáo
dục KNS cho học sinh tiểu học; kế hoạch hóa hoạt động giáo dục KNS; xây dựng, phát
triển đội ngũ giáo viên có năng lực giáo dục KNS cho học sinh; đổi mới các thành tố
cấu trúc của hoạt động giáo dục KNS cho học sinh; phối hợp chặt chẽ với các lực
lượng trong, ngoài nhà trường để giáo dục KNS cho học sinh thì kết quả hoạt động
giáo dục KNS cho học sinh các trường tiểu học trên địa bàn huyện Nghĩa Hưng, tỉnh
Nam Định sẽ được nâng cao.

7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đàu, kết luận, khuyến nghị và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn
được trình bày trong 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống ở trường tiểu
học theo hướng xã hội hoá
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống theo hướng xã hội

không còn tồn tại. Điều này có nghĩa là không thể tách rời Giáo dục ra khỏi đời sống xã hội, nói
cách khác, không có giáo dục đứng ngoài xã hội, cũng có nghĩa là không có xã hội nào có thể
phát triển mà không gắn liền với vai trò lịch sử của một nền Giáo dục.
Ở nước ta, tư tưởng xã hội hóa công tác xã hội đã được hình thảnh và nuôi dưỡng từ rất
sớm trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, qua mỗi giai đoạn nó càng được phát
triển lên với một trình độ mới, cao hơn, phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Từ xa xưa, người anh
hùng dân tộc Nguyễn Trãi đã từng đúc kết sức mạnh đoàn kết của dân tộc bằng nhận định rất nổi
tiếng: “Dâng thuyền lên cũng là dân, làm lật thuyền cũng là dân”. Sau này Bác Hồ càng thấy rõ
sức mạnh của tinh thần đoàn kết dân tộc, Người nói: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó
vạn lần dân liệu cũng xong”. Cách mạng Tháng Tám (1945) thành công, dưới sự lãnh đạo của
Đảng đứng đàu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đã chủ trương “Giáo dục là sự nghiệp của
quần chúng”. Ngay sau ngày Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam


dân chủ cộng hoà một ngày (ngày 03/9/1945) trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ nước Việt
Nam Dân chủ cộng hoà, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu nhiệm vụ đầu tiên cần làm gấp của Giáo dục
là chống giặc dốt, Người khẳng định: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu ” [15, tr.36].
Từ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI (1986), đường lối đổi mới toàn diện của
Đảng đã mở đầu cho sự phát triển mới về kinh tế - xã hội của đất nước, trong đó có Giáo dục.
Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII đã đặt dấu mốc quan họng ừong
lịch sử xây dựng và phát triển nền Giáo dục Việt Nam, Hội nghị đã thảo luận và ra Nghị quyết
về sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo. Từ sau Đại hội lần thứ VII, ừên các văn kiện của Đảng và Nhà
nước, các tài liệu khoa học giáo dục, trên sách báo đài..., chúng ta thường gặp thuật ngữ “xã hội
hoá” đối với các lĩnh vực hoạt động chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ nhân dân, dân số - kế hoạch hoá
gia đình, thể dục thể thao, Giáo dục - Đào tạo.. .Như vậy, chuyển sang thời kỳ đổi mới, xã hội
hoá việc thực hiện các chính sách xã hội là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước trong đó
có chủ trương về xã hội hóa Giáo dục. Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII) của Ban Chấp hành
Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu rõ: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho
giáo dục là đầu tư cho phát triển”. Đây cũng là trọng trách, đồng thời cũng là vinh dự lớn lao
mà Đảng và Nhà nước giao phó cho ngành Giáo dục - đào tạo. Vì vậy, hơn bao giờ hết, lúc này

hóa. Các văn bản này đều xác định rất rõ vai trò chủ đạo, mang tính toàn diện, thống nhất của
Nhà nước nhằm thu hút mọi tiềm năng trong xã hội để phát triển giáo dục. Xã hội hóa giáo dục
có thể coi đây là một chiến lược của Đảng và nhà nước ta bởi nó mang giá trị chỉ đạo quá trình
phát triển giáo dục một cách lâu dài và căn bản nhằm đạt được mục tiêu Giáo dục.
Từ những khái quát trên có thể hiểu khái niệm xã hội hóa giáo dục: Đó là việc lôi cuốn,
thu hút khích lệ mọi tầng lớp nhân dân và toàn xã hội tham gia cùng làm giáo dục. Việc huy
động và động viên đó mang tính chất là những phong trào quần chúng, đảm bảo cơ chế hoạt
động là dưới sự quản lý, chỉ đạo của Nhà nước, xác định vai trò của mọi tổ chức xã hội, mọi
người dân đều có trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi tham gia làm giáo dục.
Cùng với chủ trương, đường lối; các văn kiện, nghị định, nghị quyết của Đảng và Nhà
nước, nhiều nhà khoa học, nhà quản lý Giáo dục, cơ quan quản lý Giáo dục đã bàn luận về công
tác XHHGD: “Xã hội hoá công tác giảo dục ” do Ban khoa giáo Trung ương, Bộ Giáo dục Đào tạo, Công đoàn Giáo dục Việt Nam và Viện Khoa học Giáo dục phối họp xuất bản năm
1997. “Xã hội hoả công tác giáo dục: Nhận thức và hành động” do tác giả Bùi Gia Thịnh, Võ
Tấn Quang, Nguyễn Thanh Bình biên soạn. Khái niệm xã hội hoá cũng được tác giả Nguyễn


Quí Thanh đề cập trong cuốn “Xã hội học” do GS. Phạm Tất Dong - Lê Ngọc Hùng đồng chủ
biên và cuốn “Xã hội học giáo dục” của GS.TS Lê Ngọc Hùng xuất bản năm 2013. Xã hội hoá
được các tác giả dùng vói hai nội dung, trong nội dung thứ nhất: khái niệm này chỉ sự tăng
cường chú ý quan tâm của xã hội về vật chất và tinh thần đến những vấn đề, sự kiện nào đó của
xã hội mà trước đấy chỉ có một bộ phận của xã hội có trách nhiệm quan tâm...; Nội dung thứ
hai: thuật ngữ xã hội hoá được sử dụng trong xã hội học để chỉ quá trình chuyển từ chỉnh thể
sinh vật có bản chất xã hội với các tiền đề tự nhiên đến một chỉnh thể đại diện của xã hội loài
người. Đây chính là quá trình xã hội hoá cá nhân.
Ngoài ra còn rất nhiều luận văn thạc sĩ, tiến sĩ nghiên cứu về đề tài xã hội hóa Giáo dục
“Các biện pháp thực hiện xã hội hoả công tác giáo dục ở các trường Mầm non Hải Phòng trong
giai đoạn hiện nay ” của Nguyễn Thị Bảy; “Các biện pháp quản ỉỷ công tác xã hội hoá Giáo
dục Tiểu học quận Hồng Bàng thành phổ Hải Phòng” của Phạm Kim Thúy; “Biện pháp thực
hiện xã hội hóa Giáo dục THCS trên địa bàn huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ” của Nguyễn Như
Hải...

TS. Đặng Thị Thanh Huyền với "Hỏi & Đáp về Quản ỉỷ trường phổ thông" NXB Giáo dục Việt
Nam năm 2013; PGS. TS. Đặng Quốc Bảo với "Phát triển nguồn nhân lực, phát triển con
người" Bài giảng dành cho học viên cao học quản lý giáo dục, Đại học giáo dục, Đại học Quốc
gia Hà Nội 2010; PGS. TS. Nguyễn Thị Hường với, Bác sỹ Lê Công Phượng với "Giáo dục
sổng khỏe mạnh và Kỹ năng sống trong dạy học Tự nhiên Xã hội ở trường tỉầi học" NXB Giáo
dục Hà Nội năm 2009; PGS.TS Đặng Quốc Bảo, ThS Nguyễn Thị Thu Huyền với "Một số vẩn
đề về lỵ luận và thực tiễn về quản lỵ trường phổ thông dân tộc nội trú" 2013; PGS. TS. Nguyễn
Dục Quang với "Bài viết Một vài vẩn đề chung về KNS và GDKNS" Viện Khoa học Giáo dục
Việt Nam 2007; GS. TS. Nguyễn Quang uẩn với "Bài viết Một sổ vẩn đề lỷ luận về lã năng
sống" Trường ĐHSP Hà Nội 2007 Bên cạnh đó cũng có đề tài luận văn thạc sĩ của tác giả
Nguyễn Thị Quỳnh Anh "Quản lý công tác giáo dục kỹ năng sổng thông qua hoạt động Đội
thiếu niên Tiền phong Hồ Chỉ Minh ở trường Tiểu học Lý Thường Kiệt, Hà Nội " 2011, Hoàng
Nghĩa Kiên "Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sổng cho học sinh trong nhà trường Trung
học phổ thông huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên" 2013.
Từ năm học 2009-2010, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa chương trình
GDKNS vào chỉ thị của việc thực hiện nhiệm vụ năm học: "Giáo dục kỹ
năng sổng trong hoạt động Giáo dục ngoài giờ lên lóp ở trường THPT" NXB
Giáo dục Việt Nam 2010; "Chỉ thị về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục mầm


non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên và giáo dục chuyên nghiệp
năm học 2012-2013" số 2737/CT-BGDĐT ngày 27/7/2012. Nội dung giáo
dục KNS cho HS trong nhà trường phổ thông tập trung vào các kĩ năng tâm lý
- xã hội là những kĩ năng được vận dụng trong những tình huống hàng ngày
để tương tác với người khác và giải quyết hiệu quả những vấn đề, những tình
huống của cuộc sống, tuy nhiên cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu
nào về quản lý công tác GDKNS theo hướng xã hội hoá ở các trường tiểu
học huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định.

1.2.

động có tính đơn lẻ, khu biệt của cá thể, tư nhân hay nhóm, tổ chức xã hội thành những hành vi,
hoạt động có tính chất xã hội với sự tham gia rộng rãi của các thành phần xã hội khác nhau. [22,
Tr.296]. Khái niệm này chỉ tăng cường sự chú ý quan tâm của xã hội đến những vấn đề, sự kiện
cụ thể nào đó mà trước đây chỉ một bộ phận xã hội quan tâm. Hay nói cách khác, do tầm quan
trọng, ý nghĩa xã hội của những vấn đề, sự kiện cụ thể nào đó mà từ chỗ chỉ một nhóm hay một
cộng đồng, một bộ phận của xã hội quan tâm, nay được đông đảo quần chúng quan tâm, đó là
quá trình xã hội hoá các vấn đề, các sự kiện như: XHHGD, XHH y tế...
Nội dung thứ hai: Thuật ngữ “xã hội hoá” được sử dụng trong xã hội học để chỉ quá trình
biến cá thể người thành cá nhân và thành nhân cách. Đây chính là quá trình xã hội hoá cá nhân.
về mặt thuật ngữ, phạm trù “Xã hội hoá” trở thành một trong những quan điểm hoạch
định hệ thống các chính sách xã hội đều giải quyết theo tinh thần xã hội hoá “Xuất phát từ nhận
thức chăm lo cho con người, cho cộng đồng xã hội là trách nhiệm của toàn xã hội... chăm lo
cho con người và xã hội” [9, tr32].
Ở Việt Nam, từ sau khi đổi mới năm 1986 đến nay, thuật ngữ “xã hội hoá ” được dùng
chính thức trong các văn kiện của Đảng: “Đảng đã đề xuất và khẳng định nhiệm vụ xã hội
hoá .... Xã hội hoá các hoạt động trên là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân
dân... tỉnh thần, trí tuệ, đạo đức của nhân dân” [21, tr. 164-165].
Điều nói trên khẳng định “Xã hội hoá” chứa đựng một tư tưởng chiến lược, một quan
điểm chỉ đạo của Đảng đối với sự nghiệp phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Xã hội hoá trở
thành một phương châm lãnh đạo quản lý. Trong nhiều văn bản gần đây “Xã hội hoá” là thuật
ngữ được quy ước để chỉ cách làm, cách thực hiện một hoạt động xã hội nào đó bằng con đường
giác ngộ, tổ chức huy động tổng lực sức mạnh của toàn dân, làm cho hoạt động này không chỉ
được thực hiện ở một ngành, một đoàn thể hay một tổ chức xã hội nào đó, mà được tất cả các
ngành, các giới, các lực lượng xã hội cũng như mỗi người dân đều nhận thấy đó là nhiệm vụ của
chính mình, nên đều tự nguyện và tích cực phối hợp hành động thực hiện, đồng thời chính họ là
người được hưởng thụ mọi thảnh quả do hoạt động đó đem lại.


Mục tiêu chủ yếu của xã hội hoá là: Huy động tổng lực sức mạnh của toàn xã hội, tạo ra
nhiều nguồn lực to lớn thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của lĩnh vực văn hoá - xã hội, làm cho

về cơ chế quản lỷ và xây dựng hành lang pháp lý để đa dạng hoá các hình thức hoạt động, là sự
đồi mới lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước.

I.2.I.2.

Xã hội hoá công tác giáo dục
Xã hội hoá giáo dục là một xu hướng phát triển giáo dục ở các nước phát triển và đang

phát triển. Bản chất của xã hội hoá giáo dục là sự tham gia trực tiếp của xã hội vào giáo dục trên
cả hai mặt tiếp nhận giáo dục và đóng góp vào sự phát triển của giáo dục. Quan niệm xã hội hoá
giáo dục được hiểu rất đa dạng ở nhiều quốc gia khác nhau. Giáo dục là bộ phận không thể tách
rời hệ thống xã hội, giáo dục có tính chất xã hội vì giáo dục bắt nguồn từ xã hội và phục vụ xã


hội. Trong thực tế còn nhiều người nhầm lẫn giữa tính chất xã hội của giáo dục và xã hội hoá
giáo dục. Hai khái niệm này không phải là một và không đồng nhất. Xã hội hoá giáo dục nói ở
đây thuộc về phương thức, phương châm, là huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các
tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước để
xây dựng một xã hội học tập [9]. Thực hiện xã hội hoá giáo dục tức là thực hiện mối quan hệ
giữa giáo dục và cộng đồng. Thiết lập mối quan hệ này làm cho giáo dục phù họp với sự phát
triển của xã hội. Bản thân ngành giáo dục phải đáp ứng nhu cầu, quyền lợi học tập của nhân dân,
không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục và luôn tự đổi mới theo kịp sự phát triển của khoa
học công nghệ.
Từ những quan điểm trên và từ hai khái niệm xã hội hoá (theo quan điểm xã hội học),
khái niệm giáo dục (theo quan điểm giáo dục học) nêu ở trên ta có thể hiểu xã hội hóa ừên lĩnh
vực giáo dục (xã hội hoá giáo dục) là quá trình tương tác, lan tỏa các chuẩn mực, các giá tri, các
khung hình mẫu, các hành vi xã hội giữa các cá thể và các nhóm cá thể ừên lĩnh vực giáo dục.
Làm cho mọi người hiểu về giáo dục, giáo dục đến với mọi nhà, mọi người, làm cho mọi người
được thụ hưởng thành quả của giáo dục, góp phần nâng cao dân trí, tạo ra một phong trào, một
xã hội học tập, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội, của đất nước, đồng thời mọi người có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status