LỜI CẢM ƠN
Trong qua trình thực hiện đề tài, em luôn nhận được sự quan tâm giúp
đỡ tận tình của UBND xã La Bằng, sự quan tâm tạo điều kiện của Khoa kỹ
thuật Nông Lâm, Ban giám hiệu Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật, sự phối
hợp và giúp đỡ của gia đình và bà con nông dân xã La Bằng.
Trước hết, em bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Võ Quốc Việt đã
giành nhiều thời gian quý báu tận tình chỉ bảo em trong suốt thời gian thực
hiện đề tài.
Em xin trân trọng cảm ơn UBND xã La Bằng, Ban chủ nhiệm Khoa kỹ
thuật Nông Lâm, Ban Giám hiệu Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật đã tạo mọi
điều kiện thuận lợi nhất để em thực hiện và hoàn thành đúng tiến độ bài khóa
luận.
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tập thể lớp K5CĐ - TT
luôn đồng hành và giúp đỡ em thực hiện đề tài này.
Do điều kiện thời gian và trình độ còn hạn chế nên bài khóa luận của
em không tránh khỏi thiếu sót. Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến
của các thầy, cô giáo và các bạn, để bài khóa luận của em được đầy đủ và
hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2012
Sinh viên
Phạm Thanh Xuân
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Đặt vấn đề........................................................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu ........................................................................................... 2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ........................................................... 2
2.3.2. Phương pháp theo dõi ................................................................................27
2.3.3. Phương pháp xử lý số liệu ..........................................................................30
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ................................................... 30
3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của tỉnh Thái Nguyên .............................30
3.1.1. Vị trí địa lý .................................................................................................30
3.1.2. Địa hình ......................................................................................................30
3.1.3. Khí hậu thủy văn ........................................................................................31
3.1.4. Điều kiện đất đai ........................................................................................32
3.2. Điều kiện thời tiết khí hậu trong vụ Xuân 2012 tại Thái Nguyên ................33
3.3. Điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Nguyên ..........................................34
3.4. Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến sự sinh trưởng và khả năng cho
năng suất của chè TRI 777 ...........................................................................35
3.4.1. Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến khả năng sinh trưởng của chè TRI 777 ........... 35
3.4.2. Ảnh hưởng của vật liệu che phủ tới khả năng cho năng suất của chè TRI 777.............39
3.5. Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến khả năng kiểm soát cỏ dại ..................44
3.6. Ảnh hưởng của vật liệu che phủ tới sâu bệnh hại chè ..................................45
3.6.1. Rầy xanh(Empoasca flavcens Fabr) ...........................................................45
3.6.2. Bọ cánh tơ (Physothrips Bagn) ..................................................................47
3.6.3. Bọ xít muỗi (Helopeltis theivora Waterhouse) ..........................................48
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ........................................................................... 51
1. Kết luận ............................................................................................................51
2. Đề nghị .............................................................................................................52
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 53
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Trang
mật độ bọ xít muỗi .................................... Error! Bookmark not defined.
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNH-HĐH
: Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
CT
: Công thức
CV%
: Hệ số biến động
Đ/C
: Đối chứng
GAP
: Good Agricultural Practices –
Sản xuất nông nghiệp bền vững
LSD.05
: Sai khác có ý nghĩa
NXB
điều kiện địa hình, đất đai, khí hậu phù hợp cho cây chè phát triển cho chất
lượng cao. Hiện sản phẩm chè của Việt Nam đã có mặt trên 110 quốc gia và
vùng lãnh thổ trên thế giới. Đặc biệt thương hiệu “CheViet”đã được đăng ký
và bảo hộ trên rất nhiều thị trường của các quốc gia trên thế giới và khu vực.
Việt Nam hiện đang là quốc gia đứng thứ 5 trên thế giới về sản lượng cũng
như kim ngạch xuất khẩu chè.
Việt Nam là một trong những nước có lịch sử trồng chè lâu đời. Hiện
nay cả nước có khoảng 120.000 ha chè, tuy nhiên năng suất, chất lượng chè
của nước ta còn thấp so với các nước trên thế giới. Nhưng nhiều hộ trồng chè
vùng trung du vẫn đạt 15-20 tấn/ha. Chè cho thu hoạch quanh năm kể cả
những tháng khô hạn. Trên khắp vùng trồng chè trên cả nước ta thấy rắng
những chỗ đất tốt, có độ dốc thích hợp đã được trồng chè, những diện tích
quy hoạch trồng chè còn lại ở vùng trung du miền núi hầu hết là đất màu, mới
phá bỏ cây trồng trước hoặc trồng lại 2 - 3 chu kỳ do vậy khi tiến hành trồng
chè cần phải tiến hành cải tạo đất, áp dụng biện pháp kỹ thuật phù hợp để
nâng cao hiệu quả kinh tế (Nguyễn Hữu Khải, 2005) [8].
Ở giai đoạn kinh doanh, đất trồng chè thường là đất dốc có hàm lượng
dinh dưỡng nghèo và độ ẩm thấp. Do vậy cần phải bổ sung chất hữu cơ cho
-2-
đồi chè bằng phân chuồng. Tuy nhiên biện pháp náy còn nhiều hạn chế, hàng
năm sự bào mòn, rửa trôi lượng mùn dinh dưỡng khá cao. Sự thoái hóa đất là
xu thế phổ biến đối với nhiều vùng, đặc biệt là vùng đồi núi.
Tỉnh Thái Nguyên là một điển hình của trung du miền núi phía Bắc.
Thái Nguyên có nhiều dãy núi cao chạy dần theo hướng Bắc - Nam và thấp
dần xuống phía Nam. Diện tích đất tự nhiên chủ yếu được hình thành do sự
phong hóa trên đá Macma, đá biến chất và trầm tích. Cây chè là thế mạnh của
vùng, chè được trồng chủ yếu trên các vùng đồi như Đại Từ, Võ Nhai, Tân
+ Công thức 1: Tủ rơm, rạ
+ Công thức 2: Tủ guột
+ Công thức 3: Tủ thân cây ngô
+ Công thức 4: Không tủ (Đ/c)
-4-
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Sản xuất chè vụ Đông Xuân là quá trình áp dụng các biện pháp kỹ thuật
thích hợp nhằm tạo điều kiện cho cây chè sinh trưởng tốt trong cả vụ Đông
Xuân, khi nhiệt độ xuống thấp, ít mưa. Nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện
sinh thái đến sinh trưởng búp chè các nhà khoa học Trung Quốc và Việt Nam
đều cho rằng nhiệt độ thích hợp của cây chè là 10oC, nghĩa là trong điều kiện
nhiệt độ lớn hơn 10oC thì cây chè vẫn sinh trưởng búp. Mặt khác sản lượng
chè búp hàng tháng có quan hệ rất chặt với lượng mưa, những tháng có mưa
100mm/tháng, sản lượng
hàng tháng đạt > 10% tổng sản lượng cả năm. Như vậy trong các tháng vụ
Đông Xuân ở vùng trung du phía Bắc nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất đều
> 10oC thì yếu tố hạn chế năng suất chính là lượng mưa. Nếu tưới nước đủ ẩm
cây sẽ sinh trưởng búp và cho thu hoạch đáng kể (Lê Tất Khương, 1997) [9].
Trên thực tế ở vùng trung du miền núi phía Bắc cho thấy sản lượng chè
các tháng vụ Đông Xuân giảm mạnh, trong khi đó nhu cầu tiêu thụ chè tăng
nhanh làm cho giá chè tăng mạnh có khi gấp 2 - 2,5 lần những tháng giữa vụ.
Chi phí đầu vào để sản xuất chè vụ Đông Xuân không cao do chi phí bảo vệ
thực vật và chi phí chế biến giảm. Mặt khác sản xuất chè vụ Đông Xuân sẽ rải
vụ thu hoạch chè, rải vụ chế biến chè tạo việc làm cho người lao động vào các
- Cơ quan sinh dưỡng: Loại thân bụi hoặc thân gỗ, hình dạng của tán,
hình dạng và kích thước của lá, số đôi gân lá.
- Cơ quan sinh thực: Độ lớn của cánh hoa, số lượng đài hoa, vị trí phân
nhánh của đầu nhụy cái.
- Đặc tính sinh hóa: Chủ yếu dựa vào hàm lượng tanin, mỗi giống chè
có hàm lượng tanin biến đổi nhất định (Nguyễn Văn Hùng, 2006) [7].
Chè Camellia sinensis được chia làm 4 thứ:
* Chè Trung Quốc lá nhỏ (Camellia sinensis var.bohea)
Đặc điểm: Cây bụi, thân thấp, phân cành nhiều, lá nhỏ dày, nhiều gợn
sóng màu xanh đậm. Lá dài 3,5 - 6,5 cm có 6 - 7 đôi gân lá không rõ, răng cưa
-6-
nhỏ, không đều, búp nhỏ hoa nhiều, năng suất thấp, phẩm chất bình thường,
khả năng chịu rét ở nhiệt độ (120C - 150C) phân bố chủ yếu ở miền Đông
Nam Trung Quốc, Nhật Bản và một số vùng chè khác.
* Chè Trung Quốc lá to (Camellia sinensis var.marcophyla)
Đặc điểm: Thân gỗ nhỏ, cao 5m trong điều kiện sinh trưởng tự nhiên, lá
to trung bình chiều dài 12-15cm, rộng 5-7 cm, màu xanh nhạt, bóng. Răng
cưa sâu không đều,đầu lá nhọn, trung bình có 8-9 đôi gân lá rõ. Năng suất
cao, phẩm chất tốt, nguyên sản ở Vân Nam, Tứ Xuyên (Trung Quốc).
* Chè Shan (Camellia sinensis var.Shan)
Đặc điểm: Thân gỗ cao 6-10m, lá to và dài 15-18cm, có màu xanh nhạt,
đầu lá dài, răng cưa nhỏ và dày. Tôm chè nhiều lông tơ trắng mịn trông như
tuyết nên thích ứng ở điều kiện ấm, ẩm, địa hình cao. Năng suất cao, phẩm chất
tốt. Nguyên sản ở Vân Nam (Trung Quốc) miền Bắc Mianma và Việt Nam.
* Chè Ấn Độ (Camellia sinensis var atxamica)
Đặc điểm: Thân gỗ cao tới 17m, phân cành thưa, lá dài 20-30cm mỏng,
mềm, thường có màu xanh đậm, dạng lá hình bầu dục có trung bình 12-15 đôi gân
Lượng mưa trung bình hàng năm thích hợp cho sinh trưởng cây chè là
1500-2000mm.
Số ngày mưa có ảnh hưởng lớn đến việc hái chè cũng như chế biến chè:
Khó làm héo, tốn nhiên liệu và công sấy chè.
Độ ẩm tương đối của không khí thích hợp là 80-85%. Ẩm độ cần thiết
cho cây chè là 70-90%. Lượng mưa phân bố đều, xen kẽ ngày mưa, ngày
nắng rất phù hợp cho cây chè sinh trưởng, phát triển. Lượng mưa tập trung
phân bố không đều ảnh hưởng xấu tới sinh trưởng của cây chè, gây xói mòn
đất trồng chè. Ẩm độ không khí thấp, chè cằn cỗi, búp chè chóng già, tỷ lệ mù
xòe cao, sức chống chịu sâu bệnh giảm.
Các loại chè núi cao có chất lượng tốt vì độ ẩm cao và ánh sáng tán xạ
và biên độ nhiệt ngày đêm lớn.
- Nhiệt độ: Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng cây chè là 22-280C.
Theo các nhà khoa học Trung Quốc, Liên Xô thì cây chè ngừng sinh trưởng ở
100C, từ 15-180C cây chè sinh trưởng chậm, từ 22 đến 250C cây chè sinh
-8-
trưởng mạnh, trên 300C cây chè sinh trưởng chậm lại, ở nhiệt độ 40 0C các bộ
phận non của chè bị cháy.
Biên độ nhiệt ngày - đêm rộng có lợi cho chất lượng chè. Biên độ nhiệt
độ các mùa thấp thì thời gian thu hoạch búp chè càng dài.
- Ánh sáng: ở giai đoạn cây con, cây chè ưa bóng râm. Cây chè trưởng
thành ưa ánh sáng. Yêu cầu của cây chè với ánh sáng có khác nhau giữa các
tuổi chè, giống chè. Chè con cần ánh sáng ít hơn chè lớn, các giống chè to cần
ít ánh sáng hơn các giống chè lá nhỏ.
Dưới bóng râm cây chè sinh động, lóng dài, búp non lâu, hàm lượng
nước cao nhưng búp thưa, quang hợp kém nên năng suất thấp.
Ánh sáng tán xạ ở vùng núi cao có tác dụng tốt đến phẩm chất chè.
Về chất lượng: Các tài liệu Ấn Độ, Nhật Bản và Việt Nam đều cho rằng
bón đạm không hợp lý (bón quá nhiều hoặc bón đơn độc) làm giảm chất
lượng chè đặc biệt là sản xuất chè đen.
Bón quá nhiều đạm làm cho hàm lượng tanin, cafein giảm làm protein
tăng, protein sẽ kết hợp với tanin thành hợp chất không tan vì thế lượng tanin
càng bị giảm, hơn nữa bón quá nhiều đạm làm cho hàm lượng ancanoit tăng,
chè có vị đắng
Các thí nghiệm còn cho thấy có thể làm giảm tác hại của việc dùng liều
lượng đạm cao nếu bón phối hợp cân đối các phân khoáng khác và phân hữu cơ.
* Nhu cầu phân lân cho chè
Trong búp non của chè có 1,5% P2O5 (Eden 1958). Lân tham gia vào
thành phần cấu tạo của tế bào, trong axit nucleic, lân có vai trò quan trọng
trong việc tích lũy năng lượng cho cây, có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của
chè, nâng cao chất lượng chè (cả chè nguyên liệu và chè giống) làm tăng khả
năng chống rét, chống hạn cho chè, thiếu lân lá chè có màu xanh thẫm, có vết
nâu hại bên gân chính, búp nhỏ năng suất thấp.
Các tài liệu nghiên cứu của Liên Xô, Việt Nam và nhiều nước khác cho
thấy: bón lân làm tăng năng suất chè rõ rệt, đặc biệt bón lân trên nền N,K, đất
thiếu đạm và kali cũng làm giảm hiệu quả của phân lân đối với chè. Điều
đáng chú ý là bón lân có hiệu quả tương đối dài thậm chí 20-25 năm.
Kết quả sơ bộ thì nghiệm 10 năm phân bón N P K cho chè của trại thí
nghiệm chè Phú Hộ cho thấy trên cơ sở bón 100 kgN/ha, bón 50 Kg P 2O5
-10-
trong từng năm không có chênh lệch đáng kể về năng suất. Nhưng từ năm thứ
7 trở đi thì bội thu tăng lên rõ rệt, qua 10 năm hiệu quả của phân lân tỏ ra rõ
rệt và chắc chắn bình quân 10 năm thì hiệu quả của phân lân tỏ ra rõ rệt và
chắc chắn bình quân 10 năm 1Kg P2O5 làm tăng được 3,5 Kg búp chè tươi.
mặt trong việc tạo tanin của chè (Lê Tất Khương, 1997) [9].
1.4.2. Một số nghiên cứu kỹ thuật tưới nước và tủ gốc cho chè ở Việt Nam
Theo tác giả Hà Ngọc Ngô (1977) [11], tưới nước cho chè ở Việt Nam
lần đầu tiên được nghiên cứu vào những năm 1960 - 1961 tại trại thí nghiệm
chè Phú Hộ dưới sự chỉ đạo của giáo sư Fridland trên chè 4 tuổi ở độ dốc 11 0.
Kết quả cho thấy tưới nước đã làm tăng sản lượng chè từ 13- 38% và cho bội
thu cao trong các tháng vụ Đông.
Kết quả nghiên cứu của Lê Tất Khương (1997) [9] cho thấy: Các công
thức được tủ giữ ẩm, tưới nước hoặc kết hợp giữa tủ và tưới đã tăng tỷ lệ búp
có tôm từ 3,7- 18,7% và tăng tỷ lệ chè loại A, B lên từ 5,0-17,3%, tăng hàm
lượng tanin từ 0,7- 2,1% và làm tăng hàm lượng chất hòa tan từ 1,0- 1,5%.
Cũng theo nghiên cứu của Lê Tất Khương (1997) [9] cho thấy: Đốn chè
vào tháng 12, ở các công thức có tủ và tưới nước đã làm tăng năng suất chè
vụ Đông và Xuân từ 10,4- 125,1% và đã làm tăng mức thu - chi từ 5,3-67,5%
so với không tủ, không tưới nước.
Theo Chu Thị Thơm (2005) [15] thì phủ rác có tác dụng chống cỏ dại,
giữ ẩm, chống xói mòn, tăng độ mùn, độ xốp cho đất. Cách phủ rác có thể
làm tăng năng suất chè từ 35-50%.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Duy Đông (2010) [6] thì việc tưới nước
cho chè qua Đông kết hợp với các biện pháp tủ giữ ẩm và làm đất trước khi tủ
đã làm tăng năng suất chè từ 107,27 – 181,49%. Việc tưới tủ kết hợp với làm
đất trước khi tủ cho chè đem lại hiệu quả kinh tế cao. Hiệu số thu – chi của
các công thức đều cao hơn so với đối chứng từ 1.270.150 – 8.192.150 đồng.
Công thức đạt hiệu quả kinh tế cao nhất là công thức 6, có mức thu – chi đạt
8.192.150 đồng.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Cẩm Mỹ (2010) [10] về ảnh hưởng
của vật liệu che phủ đến sinh trưởng, phát triển của chè giai đoạn TRI 777 tại
xã Phú Hộ tỉnh Phú Thọ thì che phủ đất bằng xác thực vật cho chè trong giai
-13-
Bảng 1.1: Ảnh hưởng của tưới nước, tủ gốc đến năng suất và chất lượng
chè Đông Xuân tại xã Phú Hộ, tỉnh Phú Thọ
Tỷ lệ
Năng
So
búp có
Công thức thí nghiệm suất búp sánh
tôm
(tạ/ha) %
(%)
Không tưới, không tủ gốc
14,98 100,0 60,2
Tỷ lệ
chè loại
A, B
(%)
64,7
Hàm
lượng
tanin
(%)
33,3
Hàm
lượng chất
43,4
Có tưới và tủ gốc
33,72
225,1
78,9
82,0
35,4
43,5
(Lê Tất Khương, 1997) [9].
Ở các tỉnh phía Bắc nước ta thường có hiện tượng thừa nguyên liệu búp
chè ở các cơ sở chế biến vào các tháng vụ Hè Thu gây nên tình trạng thiếu lao
động. Ngược lại, vào các tháng Đông Xuân lại thiếu nguyên liệu chế biến dẫn
đến sự gia tăng giá chè đột ngột khi sản lượng chè thấp. Sản xuất chè vụ Đông
Xuân có ý nghĩa rải vụ chè, tạo việc làm cho người trồng chè, đáp ứng nhu
cầu tiêu thụ chè trong vụ Đông Xuân,đặc biệt là dịp Tết Nguyên Đán, nâng
cao hiệu quả cây chè (Lê Tất Khương, 1997) [9].
Tuy nhiên, để sản xuất chè vụ Đông Xuân có hiệu quả cần chú ý tới
những điều sau :
- Chỉ sản suất chè vụ Đông Xuân trên những diện tích có khả năng
tưới nước.
- Thời gian tưới có hiệu quả nhất từ tháng 10 đến tháng 4.
- Lượng nước tưới thích hợp là 600m3/ha, tưới làm 3 lần trong 1 tháng.
vụ thu từ tháng 8 – 9, xới sạch đưa cỏ ra ngoài. Trong năm tiến hành xới 3-4
lần rộng cách gốc 30 -40cm
Không được dùng thuốc trừ cỏ cho chè kiến thiết cơ bản.
- Tưới nước: Sau trồng và khi hạn cần phải, yêu cầu chất lượng nước
như yêu cầu chè kinh doanh (Đỗ Ngọc Quỹ, 2005) [13].
-15-
1.5. Tình hình sản xuất chè trên thế giới, Việt Nam và tỉnh Thái Nguyên
1.5.1. Tình hình sản xuất chè trên thế giới
Chè hiện chiếm khoảng 1/3 lượng tiêu dùng của thị trường đồ uống
nóng thế giới, nhưng chỉ chiếm 20% tổng giá trị của thị trường này. Theo
đánh giá của chuyên gia trong các nước sản xuất kinh doanh chè thuộc tổ
chức Nông Lương Quốc tế, những năm cuối thế kỷ 20 có trên một nửa dân số
thế giới uống chè. Hầu hết các nước đều có người uống chè, trong đó khoảng
160 nước có nhiều người uống chè. Mức tiêu thụ chè bình quân đầu người
một năm trên toàn thế giới là 0,5kg/người/năm và con số này sẽ càng tăng lên
trong thời gian tới (Nguyễn Hữu Khải, 2005) [8].
Theo thống kê của Fao tại thị trường Châu Âu, các nước Đức, Anh, Nga
đều có xu hướng tăng. Trong giai đoạn 2009-2010 nhập khẩu chè đen của
Nga sẽ tăng từ 223.600 tấn lên 315.200 tấn, mức tăng trung bình hàng năm là
3%. Có thể thấy nhu cầu tiêu dùng chè tại các nước phát triển đang chuyển
dần từ các sản phẩm chè thông thường sang các sản phẩm chè uống liền và
chế biến đặc biệt trong khi tại các thị trường Tây Á và Châu Á vẫn thích dùng
các sản phẩm chè truyền thống (w.w.w.viettrade.gov.vn) [4].
Trước nhu cầu tiêu thụ chè chất lượng cao ngày càng tăng lên các nước
sản xuất và xuất khẩu chè buộc phải đầu tư chiều sâu cho các vùng cải tiến
giống, thực hiện nghiêm ngặt hơn nữa các kỹ thật canh tác, thu hái khiến cho
năng suất chè tăng lên rõ rệt. Năng suất bình quân của các nước sản xuất chè
317,06
2
2003
250,64
12,86
322,55
3
2004
258,20
13,25
342.18
4
2005
268,95
13,48
389,25
8
2009
301,49
13,10
395,00
9
2010
311,75
14,44
450,21
STT
Năm
1
(Nguồn: Theo FAOSTAT, 2011)[19]
Năm
2005
2006
2007
2008
2009
2010
Trung Quốc
953,66 1.047,34 1.183,00 1.257,34 1.375,80 1.467,46
Turkey
217,54
201,86
206,16 1.100,27
198,60
235,00
Ấn Độ
310,80
305,22
318,47
290,00
282,30
Việt Nam
132,52
151,00
164,00
174,90
185,70
198,46
Indonesia
177,70
146,85
59,00
59,50
60,00
Myanmar
25,00
26,00
26,50
26,50
30,50
32,40
Toàn TG
3.603,19 3.649,17 3.902,88 4.735,96 4.241,12 4,502,16
(Nguồn: Theo FAOSTAT, 2011) [19].
* Về sản lượng:
Qua bảng 1.3 cho thấy: Sản lượng chè trung bình toàn thế giới năm
2008 đạt 4.735.61 tấn, tăng 833.080 tấn. Đứng đầu về sản lượng là Trung
Quốc đạt 1.257.384 tấn, chiếm 26,5% so với tổng sản lượng toàn thế giới. Sản
vùng chè Darjeeling của Ấn Độ nổi tiếng trên toàn thế giới về chất lượng
(Nguyễn Hữu Khải, 2005) [8].
Lịch sử phát triển ngành chè Việt Nam chia ra các giai đoạn :
* Giai đoạn 1980-1945
Giai đoạn này nhân dân ta chịu sự áp bức thống trị của thực dân Pháp
kết thúc bằng cuộc cách mạng tháng 8, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc ta,