Sáng kiến kinh nghiệm SKKN tiếp nhận truyện kiều từ góc độ thi pháp học - Pdf 39

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:
" TIẾP NHẬN TRUYỆN KIỀU TỪ GÓC ĐỘ THI PHÁP HỌC"

1


MỞ ĐẦU
1- Lý do chọn đề tài
1. Thi pháp học là bộ môn khoa học xuất hiện từ thời Hy Lạp cổ đại, gắn liền với tên tuổi
của Aristote và cuốn Nghệ thuật thi ca của ông. Thi pháp học là bộ môn lâu đời nhất
nghiên cứu văn học. Nhưng phải đến đầu thế kỷ XX, nó mới thực sự trở thành một môn
khoa học được nhiều người biết đến. Thi pháp học nghiên cứu hệ thống các phương thức,
phương tiện biểu hiện đời sống bằng hình tượng nghệ thuật trong sáng tác văn học. “Thi
pháp học giúp ta công cụ để thâm nhập vào cấu trúc tác phẩm, cốt cách tư duy của tác
giả cũng như nắm bắt mã văn hóa nghệ thuật của các tác giả và các thời kì văn học
nghệ thuật, từ đó nâng cao năng lực cảm thụ tác phẩm” [Từ điển thuật ngữ văn học, tr
251]. Ở Việt Nam, vấn đề Thi pháp học không còn mới mẻ nhất là sau thời kì đổi mới
văn học năm 1986. Thi pháp học được nghiên cứu, giảng dạy ở bậc Cao học, Đại học và
có mặt trong tài liệu bồi dưỡng thường xuyên giáo viên trung học. Thi pháp học được vận
dụng trong bài giảng của giáo viên, bài làm văn của học sinh và trở thành một hướng đi
hiệu quả nhằm khám phá, tiếp nhận tác phẩm văn học.
2. Truyện Kiều mang lại niềm tự hào cho nền văn học Việt Nam. Đó là tác phẩm kết tinh
vẻ đẹp của ngôn ngữ và tâm hồn dân tộc. Truyện Kiều là tuyệt đỉnh văn chương trải qua
thời gian vẫn vẹn nguyên tiếng kêu thiết tha về giá trị nhân văn đích thực trong cuộc
sống. Trong chương trình ngữ văn 10, Truyện Kiều là tác phẩm có thời lượng tìm hiểu
khá lớn. Tổng số tiết học về Truyện Kiều là 5 tiết, có 4 đoạn trích được giới thiệu trong
đó có 2 đoạn trích giảng.
3. Trong thực tế, học sinh phổ thông gặp khó khăn trong việc tiếp thu văn học trung đại
nói chung và Truyện Kiều nói riêng. Theo tìm hiểu của chúng tôi đa số học sinh lớp 10

- Đóng góp thêm một hướng đi mới trong quá trình giảng dạy tác phẩm văn học ở trường
phổ thông.
3- Đối tượng nghiên cứu
Khảo sát các vấn đề về Thi pháp Truyện Kiều, hướng tới vận dụng vào việc đổi mới
phương pháp dạy học qua bài giảng cụ thể.
4- Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Với đề tài này, người viết chỉ đi sâu khai thác Truyện Kiều ở góc độ Thi pháp học. Đồng
thời đưa ra hướng vận dụng và kết quả đạt được sau khi tiếp nhận đoạn trích Trao duyên
theo hướng này.
5- Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm sáng tỏ vấn đề Thi pháp Truyện Kiều và đánh giá kết quả việc vận dụng Thi
pháp trong thực tiễn giảng dạy đoạn trích Trao duyên.
6- Phương pháp nghiên cứu
-

Phương pháp phân tích tác phẩm
3


-

Phương pháp so sánh

-

Phương pháp hệ thống

-

Phương pháp thực nghiệm

4


học sinh. Tiếp nhận tác phẩm theo hướng Thi pháp là một trong những phương pháp có
thể áp dụng trong thực tiễn dạy học.
1.3. Hiện nay, có nhiều cách hiểu về Thi pháp học. Trong cuốn 150 thuật ngữ văn học,
tác giả Lại Nguyên Ân cho rằng đó là “Ngành học thuật nghiên cứu hệ thống các
phương thức, phương tiện biểu hiện trong tác phẩm văn học” và “Do chỗ mọi phương
tiện biểu hiện trong văn học rút cuộc đều quy được về ngôn ngữ, cho nên có thể định
nghĩa Thi học như khoa học về nghệ thuật sử dụng các phương tiện ngôn ngữ”.
Cuốn Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ
biên cũng cho rằng “Thi pháp học nghiên cứu hệ thống các phương thức, phương tiện
biểu hiện đời sống bằng hình tượng nghệ thuật trong sáng tác văn học. Mục đích của Thi
pháp học là chia tách và hệ thống hóa các yếu tố của văn bản nghệ thuật tham gia vào
sự tạo thành thế giới nghệ thuật, ấn tượng thẩm mĩ, chiều sâu phản ánh của tác phẩm
nghệ thuật”.
Như vậy, có thể hiểu Thi pháp học là cách thức phân tích tác phẩm bám vào văn bản là
chính, không chú trọng đến những vấn đề nằm ngoài văn bản như tiểu sử nhà văn, hoàn
cảnh sáng tác, nguyên mẫu nhân vật, giá trị hiện thực, tác dụng xã hội… Thi pháp học
chú ý đến yếu tố hình thức tác phẩm như hình tượng nhân vật; không gian - thời gian; kết
cấu - cốt truyện; điểm nhìn nghệ thuật; ngôn ngữ; thể loại… Nội dung trong tác phẩm
phải được suy ra từ hình thức, đó là “hình thức mang tính quan niệm” (Trần Đình Sử).
Phương pháp chủ yếu của Thi pháp học là phương pháp hình thức. Chúng ta hiểu,
“Phương pháp hình thức là phương pháp phân tích các khía cạnh hình thức của tác
phẩm văn học nghệ thuật để rút ra ý nghĩa thẩm mỹ của nó” (Nguyễn Văn Dân). Theo
tôi, để đạt được hiệu quả tốt nhất trong giờ học, nên kết hợp nhiều phương pháp, khai
thác thế mạnh của chúng. Dạy văn theo hướng Thi pháp học là phân tích hình thức nghệ
thuật tác phẩm từ đó khám phá các phương diện khác nhau của tác phẩm. Với đề tài này,
người viết đi sâu khai thác, tiếp nhận Truyện Kiều của Nguyễn Du từ góc độ Thi pháp
học trên những phương diện sau: thể loại, tư tưởng, nhân vật, cách kể chuyện, cái nhìn

Nét đặc sắc trong Truyện Kiều là tác giả có ý thức kể lại rành mạch từng chuyện.
Mỗi sự kiện đều được kể một cách hoàn chỉnh từ đầu đến cuối, từ cảnh đến tình. Mô hình
cốt truyện không giản đơn như các truyện Nôm dân gian. Kết cấu truyện đẩy đi, đẩy lại
chứ không xuôi chiều. Có thể nói, Truyện Kiều mang cốt truyện của thể loại tiểu thuyết.
2.2. Tư tưởng, nhân vật và cách kể chuyện
Tư tưởng tác phẩm văn học là sự nhận thức, lí giải và thái độ đối với toàn bộ nội
dung cụ thể, sống động của tác phẩm văn học, cũng như vấn đề nhân sinh đặt ra trong đó.
Truyện Kiều là một tác phẩm văn chương đích thực nhưng không chỉ là vấn đề câu chữ,

6


nghệ thuật biểu hiện mà qua đó còn thấy quan niệm và cảm nhận của Nguyễn Du đối với
đời.
Nguyễn Du mở đầu tác phẩm bằng quan niệm tài - mệnh
“Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”
Kết thúc tác phẩm là trăn trở về tâm và tài
“Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”
Tư tưởng đó chi phối việc chọn lựa và miêu tả nhân vật. Truyện Kiều tái hiện một thế
giới người tài. Thúy Kiều, Kim Trọng, Từ Hải…cho đến Hồ Tôn Hiến, Sở Khanh, Thúc
Sinh đều có tài và biết khen tài. Tài ở đây là biểu hiện cho phẩm chất và cá tính. Nó đóng
một vai trò quan trọng trong những biến cố của cuộc đời nhân vật. Thúy Kiều nhờ có tài
đàn, tài thơ mà được coi trọng nhưng cũng vì tài đó mà nàng mắc vạ. Tài năng trở thành
cái cớ cho cuộc đời truân chuyên theo quan niệm tài - mệnh tương đố trong tác phẩm.
Nhưng tài không phải là yếu tố chi phối toàn bộ tác phẩm. Chính chữ tâm, tức là cái tình,
tấm lòng của nhân vật chính mới làm nên vẻ đẹp nhân văn của tác phẩm. Bởi chữ tâm
này mà Kiều đã nhận lời bán mình chuộc cha và trao duyên lại cho Thúy Vân. Cũng vì
chữ tâm mà Kiều cam phận lẽ mọn, khuyên Thúc Sinh trở về; báo ân, báo oán rồi tha

trong tác phẩm, phải tìm hiểu cái nhìn nghệ thuật, cách tư duy, cảm nhận của chính nhà
văn.
Cái nhìn nghệ thuật của Nguyễn Du gắn liền với nghệ thuật phương Đông. Con
người trong văn học trung đại được xây dựng theo mô típ con người vũ trụ. Tầm vóc,
hành động của con người mang qui mô khác biệt so với văn học các thời kì khác. Theo
đó, người tài tình luôn được tôn xưng. Những người này thường được khắc họa với
đường nét bề ngoài đầy ước lệ. Đạm Tiên là đấng tài hoa; Kim Trọng là bậc tài danh; Từ
Hải là đấng anh hùng…
Mặt khác, Nguyễn Du còn coi con người là sự thể hiện của những giá trị tinh thần
được đề cao trong xã hội như: chí, tình, đạo, nghĩa. Con người bộc lộ các phẩm chất đạo
đức và thể hiện qua nguyên tắc bày tỏ. Cho nên, nhân vật thường có hành động khác
thường để hiệu quả tỏ lòng càng lớn. Ví như: Kiều khóc mồ vô chủ; thề nguyền chung
thủy; cậy em thay lời; Kim Trọng ốm tương tư, khóc vật vã; Từ Hải chết đứng…Nguyên
tắc này phù hợp với Thi pháp chung của văn học trung đại. Những trạng thái trong tâm
hồn phải được biểu hiện thành dấu hiệu ra bên ngoài, biểu hiện càng lộ và mạnh thì càng
gây chú ý.
Cái mới của Nguyễn Du là từ tỏ lòng nhà thơ đi đến bộc lộ tấm lòng, phân tích tâm
lí nhân vật, khám phá sự phức hợp tâm lí trong con người. Cho nên, tình cảm đối nghịch,
lưỡng tính là nét tiêu biểu của nhiều nhân vật trong Truyện Kiều. Kiều vừa dứt khoát trao
duyên cho em vừa nuối tiếc, đau đớn; vừa nghi ngờ Sở Khanh vừa phải liều theo y; vừa
tha bổng Hoạn Thư vừa mong được trừng trị tội. Từ Hải vừa khinh ghét triều đình vừa hy
vọng mong manh vào sự bao dung của nó. Những con người trong Truyện Kiều đều
không thể vo tròn trong một chuẩn mực.

8


Tâm hồn nàng Kiều thuộc về phạm trù những phẩm chất cao đẹp nhất nhưng cũng
có những suy tư trần tục chỉ có ý nghĩa riêng đối với tình cảm của nàng. Kiều thường
xuất hiện với những suy nghĩ rành rọt, nhưng cũng có lúc đắm mình trong ảo giác như

“Người dầu muốn quyết trời nào đã cho’’

9


“Trời kia đã bắt làm người có thân’’
“Bắt phong trần phải phong trần’’
“Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều’’
“Mình làm mình chịu, kêu mà ai thương!’’
Điều này thể hiện sự mâu thuẫn trong thế giới quan của nhà thơ nhưng cái nhìn nghệ
thuật đa chiều lại là ưu điểm. Cái nhìn nghệ thuật của Nguyễn Du cho thấy ông đã đổi
mới quan niệm về con người, bao quát cuộc sống trong một phạm vi rộng lớn đồng thời
có cái nhìn gần gũi với bản chất con người theo quan niệm nhân văn phổ quát.
2.4. Không gian và thời gian nghệ thuật
Không gian nghệ thuật là mô hình nghệ thuật về thế giới mà con người đang sống;
đang cảm thấy vị trí, số phận của mình ở trong đó. Truyện Kiều là chuyện của cuộc đời
lưu lạc nên có sự xuất hiện của nhiều không gian xa lạ. Sau mỗi một biến cố, nhân vật lại
bị đẩy vào một không gian mới, xa lạ và hàm chứa những hiểm họa.
Không gian trước lưu lạc bao giờ cũng bình yên
“Êm đềm trướng rủ màn che
Tường đông ong bướm đi vê mặc ai”
Không gian lưu lạc đẩy con người vào tình thế không nơi bấu víu, lênh đênh, trôi
dạt. Nguyễn Du láy đi, láy lại hình ảnh cánh bèo mặt nước; nước trôi hoa rụng; chiếc
bách sóng đào…để diễn tả nỗi bơ vơ, lạc loài, buồn tủi của nàng Kiều.
Con người trung đại luôn mang trong mình sự gắn bó với quê hương, gia đình. Đó
còn là cõi bình yên để nương tựa mà khi rời bỏ nó, người ta trở nên yếu đuối, trống rỗng
như tự đánh mất mình.
“Bên trời góc bể bơ vơ”
“Chân trời mặt biển lênh đênh”
Không gian và thời gian trong Truyện Kiều đã trở thành tín hiệu thẩm mĩ mang tâm


Chương III: Giải quyết vấn đề
3.1. Vận dụng Tiếp nhận Truyện Kiều theo hướng Thi pháp vào thực tiễn giảng dạy
đoạn trích Trao duyên
Ở những phần trên, người viết đã đi sâu khai thác, tiếp nhận Truyện Kiều từ góc nhìn Thi
pháp. Chúng tôi đã vận dụng hướng tiếp cận này vào giảng dạy tiết 83, đoạn trích Trao
duyên Trích Truyện Kiều của Nguyễn Du (SGK Ngữ văn 10, Tập 2) tại lớp 10B1, 10B2
và so sánh với việc dạy học không theo hướng đi này ở lớp 10B3 trường THPT Trần
Nhật Duật. Chúng tôi hướng dẫn học sinh khai thác đoạn trích này từ đặc trưng thể loại;
không gian và thời gian nghệ thuật, ngôn ngữ, giọng điệu; nghệ thuật xây dựng nhân
vật... Qua đó, học sinh thấy được sức hấp dẫn của đoạn trích, tự mình khám phá giá trị
của đoạn trích và đánh giá sáng tạo nghệ thuật của thi hào Nguyễn Du.
11


Khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu đoạn trích này, chúng tôi hướng học sinh khai thác các
khía cạnh của tác phẩm từ góc độ Thi pháp theo các bước cụ thể
3.1.1. Yêu cầu chuẩn bị bài
- Học sinh đọc kĩ đoạn trích và phần chú thích, chuyển văn bản thơ thành văn xuôi
- Tìm hiểu nhân vật Thúy Kiều qua chi tiết, lời kể và sự miêu tả của tác giả
- Thống kê những biện pháp nghệ thuật khắc họa nhân vật được sử dụng trong đoạn trích
3.1.2. Giáo án thử nghiệm
TIẾT 83
TRAO DUYÊN
( TRÍCH TRUYỆN KIỀU - NGUYỄN DU)
I- Mục tiêu bài học
- Cảm nhận được tình yêu sâu nặng và bi kịch của Thúy Kiều trong đoạn trích; nắm được
nghệ thuật miêu tả nội tâm tài tình của tác giả.
- Kiến thức: Bi kịch tình yêu, thân phận bất hạnh và sự hi sinh quên mình của Kiều vì
hạnh phúc của người thân qua lời trao duyên đầy đau khổ; nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân

TRÒ
Học sinh đọc phần Tiểu dẫn và A- Tiểu dẫn
nêu vị trí của đoạn trích
- Vị trí: đoạn trích nằm ở phần Gia biến
- Giáo viên cho học sinh xem - Bọn sai nha gây nên vụ án oan cho gia
tranh Thúy Kiều trao duyên để đình Thúy Kiều kiến nàng phải hi sinh
mối tình với Kim Trọng và bán mình để
gợi không khí
chuộc cha và em. Khi mọi việc đã an bài,
Giáo viên: Tại sao Kiều phải Kiều ngồi trắng đêm nghĩ đến Kim Trọng
và mối tình dở dang. Để trả nghĩa cho
trao duyên?
chàng Kim, nàng đã trao duyên cho Thúy
Vân để đền đáp tình yêu của Kim Trọng.
B- Đọc - hiểu tác phẩm
- Truyện Kiều thuộc thể loại truyện Nôm
- Tác phẩm mang chất tự sự, có nhân vật,
Giáo viên: Truyện Kiều thuộc cốt truyện…

13


thể loại nào? Đoạn trích này - Tác phẩm còn mang chất trữ tình qua
cho em biết những gì về thể việc khai thác nội tâm nhân vật và sử
dụng ngôn ngữ hình tượng, biểu cảm…
loại đó ?
=> Nên phân tích theo đặc trưng của thể
Giáo viên yêu cầu học sinh loại; khai thác nghệ thuật xây dựng nhân
thảo luận
vật; từ đó làm rõ diễn biến tâm trạng và

được tái hiện trên những của Kiều. Đó là khoảng lặng trước cơn
phương diện nào?
giông bão đời Kiều mười lăm năm lưu

14


lạc.
Giáo viên: Đoạn trích trao + Không gian: Vắng lặng
duyên tái hiện thời điểm nào + Thời gian: Đêm khuya
trong cuộc đời Thúy Kiều?
- Kiều trở về với mất mát của tình yêu,
Giáo viên: Kiều trao duyên đau đớn cho thân phận mình.
trong khung cảnh nào? khung => Không gian và thời gian giúp giãi bày
cảnh đó có vai trò nào trong tâm trạng, thổ lộ chuyện tình yêu riêng tư.
b/ Ngôn ngữ
việc thể hiện nhân vật ?
- Nhân vật Thúy Kiều được đặt trong cuộc
đối thoại giữa với Thúy Vân
=> Đối thoại là cách để nhân vật bộc bạch
với một đối tượng cụ thể trong cuộc giao
Giáo viên: Đoạn trích này có tiếp.
lời của ai nói với ai? Nói về - Kiều muốn em thay mình trả nghĩa cho
Kim Trọng
vấn đề gì?
Học sinh thảo luận: Cuộc đối + Với Kiều: để trả món nợ tình, vẹn nghĩa
thoại này có ý nghĩa gì với với Kim Trọng
Kiều và Vân
+ Với Vân: vì tình chị em mà chấp nhận
thiệt thòi trong tình yêu

=> Kiều sử dụng thành ngữ và cách nói
giàu hình ảnh, sắc thái biểu cảm. Ngôn
ngữ có sự kết hợp hài hòa giữa cách nói
trang nhã của văn học bác học trung đại
Giáo viên: Đánh giá về ngôn và từ ngữ dân gian
ngữ được sử dụng ?
- Giọng điệu : tha thiết, cầu khẩn, gợi sự
xót thương
Giáo viên: Qua ngôn ngữ thấy
=> Kiều vừa cầu khẩn vừa dựa vào tình
được giọng điệu của Kiều như
cảm chị em để đánh vào nhận thức của
thế nào?
Thúy Vân một cách thông minh, khôn
Giáo viên: Vì sao Vân không khéo, trói buộc về tình cảm
thể chối từ?
- Kiều có thể trả nghĩa cho chàng Kim.
Nàng biết ơn em chân thành và cất đi
gánh nặng về món nợ tình.
Giáo viên: Tâm trạng của Kiều c/ Hành động
sau khi ngỏ lời với Vân?
- Trao duyên: nhờ em kết duyên với Kim

16


Trọng thay mình để trả nghĩa.
Thảo luận về hành động của => Hợp với quan niệm thời trung đại
Thúy Kiều.
=> Thể hiện sự hi sinh, chu toàn với

mình; hình dung mình trở thành hồn oan
Giáo viên: Sau khi trao kỉ vật, khi không còn tình yêu với Kim Trọng
Kiều nói với ai? Nói chuyện gì?
+ Dặn em rưới chén nước để giải oan
Không gian thay đổi như thế
+ Hồn Kiều vương vấn với tiếng tơ trên
17


nào?

phím đàn và mùi trầm hương
+ Hồn Kiều vẫn nặng lời thề và nguyện
nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai
- Nàng dặn em mà như đang thầm nói với
mình về tương lai mù mịt, thê thảm.
=> Không gian chập chờn, ma mị như cõi
âm
=> không gian thực được thay thế bằng
không gian tâm tưởng

=> Kiều đau đớn tột cùng. Mất đi tình
yêu cũng là mất đi ý nghĩa của cuộc sống.
Đó là sự thể hiện tình yêu sâu sắc, đức hi
Giáo viên: Điều đó cho thấy sinh, lòng vị tha của Kiều.
tâm trạng của Kiều như thế nào - Kiều quên đi sự có mặt của Thúy Vân ;
?
lời nói hướng về Kim Trọng
=> Từ đối thoại chuyển thành độc thoại
nội tâm

- Ai đã chứng kiến câu chuyện ánh nội tâm nhân vật. Tác giả không
đứng ngoài để kể câu chuyện mà hóa thân
này?
vào nhân vật; cảm nỗi đau thân phận của
- Ai đã cảm được nỗi giày vò
nàng. Điểm nhìn nghệ thuật được đặt ở
đau đớn của Thúy Kiều trong
chính tâm trạng của nhân vật.
cảnh ngộ này?
2. Giá trị đoạn trích
Giáo viên: Đánh giá về giá trị
- Đoạn trích thể hiện rõ nét chủ nghĩa
đoạn trích
nhân đạo
Giáo viên: Cho biết giá trị nội
+ Cảm thương con người trên phương
dung của đoạn trích?
diện nhân bản nhất: hạnh phúc, tình yêu
Giáo viên: Thái độ của Nguyễn
đôi lứa.
Du ra sao? Ông muốn nêu lên
+ Căm giận thế lực tàn bạo đã bày ra cảnh
vấn đề gì?
ngang trái, chia cách đôi lứa
+ Đề cao khát vọng về tình yêu và hạnh
phúc của con người
=> Tác giả nêu lên nỗi đau thân phận con
người. Con người với ý nghĩa cá nhân
nhân bản. Vượt qua mô hình con người
Giáo viên: Cho biết giá trị

5. Dặn dò: Tìm đọc Truyện Kiều và tài liệu về tác phẩm; luyện tập đọc diễn cảm đoạn
trích; học thuộc lòng đoạn trích; chuẩn bị bài Nỗi thương mình - Trích Truyện Kiều Nguyễn Du theo câu hỏi
1. Kiều rơi vào cảnh ngộ nào?
2. Tác giả dùng cách nào để diễn tả tâm trạng của nàng? Đó là tâm trạng gì?
3. Tấm lòng của Nguyễn Du với nhân vật thể hiện như thế nào ?

20


3.2. Kết quả khảo nghiệm
Trước đây, đoạn trích giảng Trao duyên được hướng dẫn theo cách chia bố cục và phân
tích từng đoạn. Chúng tôi đã sử dụng phương pháp phân theo bố cục văn bản và hướng
dẫn học sinh tìm hiểu, đánh giá về đoạn trích. Tuy nhiên, phương pháp này làm đoạn
trích chia tách ra nhiều phần nhỏ và học sinh gặp khó khăn với những câu hỏi mang tính
khái quát sau khi học xong bài. Các em có thể hiểu đúng nội dung đoạn trích nhưng chưa
có sự khám phá tác phẩm theo hướng rung động và tiếp nhận. Sau khi thử nghiệm cách
tiếp cận mới, chúng tôi nhận thấy học sinh hứng thú hơn và tích cực trong quá trình học
tập. Sau khi học xong các em có khả năng đánh giá về nhân vật và đoạn trích bằng cảm
nhận của cá nhân một cách khá sâu sắc.
Sau khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu tác phẩm như trên, chúng tôi đã đưa ra một số câu
hỏi trong phần kiểm tra đánh giá, mục đích nhằm tìm hiểu mức độ tiếp thu, hiểu bài của
học sinh. Đối tượng kiểm tra là 106 học sinh lớp 10 trường THPT Trần Nhật Duật.
Phương thức kiểm tra bằng cách phát phiếu học tập. Với đối tượng 36 học sinh lớp 10B3,
chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích theo bố cục đoạn trích. Kết quả như sau:
TT Nội dung câu hỏi

Mục đích

Trả lời
đúng


3

Kiểm tra sự phát 20/36
hiện, tiếp thu kiến
thức nghệ thuật
xây dựng nhân vật

21

Xác định
sai
Chưa
khái quát
được
kiến


thức
4

5

6

7

Tại sao khi Thúy Kiều
đang nói chuyện với
Thúy Vân lại xuất hiện

giá trị nội dung và
nghệ thuật của
đoạn trích

11/36

Chưa
hiểu câu
hỏi
không lí
giải
được vấn
đề
Đưa ra
đánh giá
nhưng
không lí
giải
được

Với đối tượng 70 học sinh lớp 10B1, 10B2, tôi sử dụng phương pháp Tiếp nhận theo
hướng Thi pháp. Kết quả như sau:

TT Nội dung câu hỏi

Mục đích

Trả lời
đúng



Kiểm tra sự phát 70/70
hiện, tiếp thu kiến
thức nghệ thuật
xây dựng nhân vật

0/36

4

Tại sao khi Thúy Kiều
đang nói chuyện với
Thúy Vân lại xuất hiện
hình ảnh Kim Trọng?

Kiểm tra năng lực 68/70
khám phá, phát
hiện của học sinh
về nghệ thuật độc
thoại nội tâm

2/70

Lời Kiều nói thể hiện Kiểm tra sự tiếp 65/70
tâm trạng nào ?
thu của học sinh
giọng điệu

5/70



Chưa
hiểu câu
hỏi
Chưa lí
giải đầy
đủ
xác định
đúng
nhưng
chưa đầy
đủ


So sánh số liệu thống kê, chúng tôi nhận thấy cả hai cách tiếp cận đều có thể giúp học
sinh nắm được chuẩn kiến thức của bài học. Tuy nhiên, với cách tiếp cận theo hướng Thi
pháp, các em là người chủ động trong việc hình thành kiến thức của bài học; hiểu vấn đề
sâu sắc hơn và bước đầu có sự đánh giá mang tính cá nhân về tác phẩm.
Trong quá trình giảng dạy thực tế theo hướng này, chúng tôi thu được kết quả khá tốt và
sự phản ứng tích cực từ phía học sinh. So với phương pháp cũ là đi từ nội dung đến hình
thức tác phẩm thì cách khai thác tác phẩm từ hình thức để hiểu nội dung (hay nói cách
khác là khai thác tác phẩm từ yếu tố Thi pháp) là một cách làm bám sát đặc trưng của tác
phẩm văn chương và đem lại kết quả cao. Từ phương pháp này, học sinh khám phá được
vẻ đẹp của ngôn ngữ văn chương với quan niệm “Văn học là nghệ thuật ngôn từ”; khám
phá được đặc trưng thể loại, các thủ pháp tạo dựng nhân vật, qua đó nắm được ý tưởng
mà nhà văn muốn gửi gắm thông qua hình tượng nghệ thuật ấy. Cũng từ yếu tố không
gian, thời gian, nghệ thuật khắc họa nhân vật mà học sinh phát hiện ra giá trị của tác
phẩm và sáng tạo độc đáo của tác giả...
Với hướng khai thác này, học sinh sôi nổi hơn trong giờ học. Các em không bị nhàm
chán bởi những định hướng về nội dung của tác phẩm để sau đó suy ra những kết luận

đề của thực tiễn hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào sự vận dụng tích cực của thầy và
trò trong giờ học văn.
3. Nguyễn Du đã đem sản phẩm tinh thần của mình vượt qua thời gian và rào cản thách
thức của thời đại để đến với người đọc nhiều thế hệ. Mấy trăm năm sau, người đọc còn
được sống trong xúc cảm, tâm trạng xót xa, đau đớn, đồng cảm, yêu thương với nhân vật
của nhà thơ và trăn trở về thân phận con người. Đoạn trích Trao duyên là một phần tuyệt
bút trong một tác phẩm tài hoa của thi hào Nguyễn Du. Trong đoạn trích này, các yếu tố
về Thi pháp khá nổi bật và tiêu biểu cho sáng tạo của Nguyễn Du như quan điểm nghệ
thuật về con người, nhân vật, không gian và thời gian, ngôn ngữ giọng điệu, nghệ thuật
khắc họa nội tâm qua ngôn ngữ độc thoại… Chính vì vậy, chúng tôi đã đi khai thác, tiếp
nhận đoạn trích Trao duyên từ góc độ Thi pháp học nhằm góp phần làm nổi bật nội dung
và nghệ thuật của đoạn trích, tăng tính sinh động trong giờ giảng văn giúp học sinh có cái
nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về đoạn trích này nói riêng và tác phẩm Truyện Kiều nói
chung.
4. Để nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn văn, người viết cho rằng việc bồi dưỡng
chuyên môn về Thi pháp học là vô cùng cần thiết. Dạy học theo hướng đi này là bám sát
đặc trưng của môn học về tác phẩm nghệ thuật. Vận dụng kiến thức về Thi pháp trong
giờ sẽ mang lại sự hứng thú cho học sinh vì các em được tiếp cận với văn bản nghệ thuật,
khám phá nó bằng trực quan sinh động sau đó mới đi đến khái quát vấn đề và trở lại đánh
giá tác phẩm. Hướng đi này giúp các em nhận biết thông hiểu và tiến tới vận dụng kiến
thức trong việc tiếp nhận các tác phẩm khác cùng một Thi pháp sáng tác.
Thi pháp coi trọng văn bản nghệ thuật cho nên dạy học văn được hiểu là đưa học sinh
tiếp nhận trực tiếp, khám phá cái hay, cái đẹp của tác phẩm bằng cách thưởng thức nó
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status