LUẬN VĂN:
Luân chuyển cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh
uỷ quản lý ở tỉnh Xiờng Khoảng nước Cộng hoà Dân
chủ Nhân dân Lào trong giai đoạn hiện nay
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào luôn coi trọng
công tác cán bộ, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ ngày càng vững mạnh, đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ chính trị trong các giai đoạn cách mạng của Đảng, hoàn thành sự nghiệp giải
phóng dân tộc và thống nhất đất nước, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Ngày nay, để
thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược quan trọng đó là bảo vệ và xây dựng Tổ quốc
xã hội dân chủ nhân dân Lào. Trước yêu cầu công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi
xướng và lãnh đạo từ Đại hội III của Đảng đến nay.
Đảng và nhân dân Lào đang tiến hành đổi mới đất nước, chuyển từ nền kinh tế tự
nhiên, tự cung, tự cấp sang đẩy mạnh từng bước sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng quan hệ quốc tế với các nước trên thế giới. Công
cuộc đổi mới đất nước được tiến hành trong bối cảnh tình hình quốc tế và trong nước hết
sức phức tạp, có cả thuận lợi và khó khăn, thời cơ và thách thức, chứa đựng những yếu tố
bất trắc khó lường. Điều đó đặt ra cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân nước Cộng hoà
Dân chủ Nhân dân Lào những nhiệm vụ hết sức nặng nề, đòi hỏi Đảng Nhân dân cách
mạng Lào phải có tầm nhìn sáng suốt để đề ra đường lối cách mạng đúng đắn và tổ chức
thực hiện thắng lợi. Để đạt được điều đó, yếu tố quyết định là công tác cán bộ và xây dựng
đội ngũ cán bộ ngang tầm, đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới đất nước, trong đó một
bộ phận quan trọng là luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý thuộc diện Ban TVTU quản
lý.
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của cả nước, đội ngũ cán bộ và công
tác cán bộ của tỉnh Xiêng Khoảng đã có tiến bộ, đã đạt được những kết quả nhất định, đó
là yếu tố cơ bản tạo nên thành tựu kinh tế - xã hội của tỉnh. Tuy nhiên, cán bộ lãnh đạo,
của đất nước. Song, trong hoàn cảnh mới, sự tác động của cơ chế thị trường còn bộc lộ
nhiều yếu kém, khuyết điểm của đội ngũ cán bộ, công chức. Trong đội ngũ cán bộ hiện
đang có nhiều vấn đề đáng lo ngại cả về phẩm chất và năng lực. Một bộ phận không nhỏ
cán bộ đã bị thoái hoá về phẩm chất chính trị, đạo đức, lợi dụng chức quyền để tham ô,
lãng phí, quan liêu, bè phái, mất đoàn kết, cơ hội và thực dụng. Không ít cán bộ bị giảm
sút uy tín, không còn là công bộc của dân, thậm chí trù dập, ức hiệp dân. Văn kiện Hội
nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ
rõ: “Nhìn chung đội ngũ cán bộ hiện nay, xét về chất lượng, số lượng và cơ cấu có nhiều
mặt chưa ngang tầm với đòi hỏi của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá”. Vừa
qua, tuy có nhiều cố gắng trong công tác cán bộ, nhưng không ít việc còn mang tính chất
ứng phó, chưa đáp ứng tốt các yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước. Hàng loạt vấn đề
lý luận và thực tiễn của công tác cán bộ chậm được nghiên cứu, tổng kết.
Để góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác tổ chức –
cán bộ nói chung, công tác luân chuyển cán bộ nói riêng, đồng thời từ đó rút ra được một
số kinh nghiệm và những giải pháp hiệu quả của công tác cán bộ trong giai đoạn đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Với tính chất là một trong những khâu đột phá
của công tác cán bộ, công tác luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý có vai trò quan trọng
trong việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của tỉnh. Tuy
nhiên, công tác luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý chỉ có thể đáp ứng được yêu cầu và
có hiệu quả khi nó được đề ra và giải quyết dựa trên những luận cứ khoa học gắn liền với
tổng kết thực tiễn. Với đặc điểm, tình hình của địa phương; tình hình và kết quả trong
công tác luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý của tỉnh, việc tiến hành nghiên cứu đề tài
“Luân chuyển cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh uỷ quản lý ở tỉnh Xiờng
Khoảng nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào trong giai đoạn hiện nay " là rất thiết
thực, góp phần vào việc từng bước nghiên cứu, giải quyết những vấn đề cơ sở lý luận - thực
tiễn trong công tác luận chuyển cán bộ nói chung và luân chuyển cán bộ thuộc diện Ban
TVTU Xiêng Khoảng quản lý nói riêng. Qua đó góp phần vào việc xây dựng và nâng cao
chất lượng đội ngũ cán bộ của tỉnh.
nội dung tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về luân chuyển cán bộ - Người đòi hỏi phải
khắc phục bệnh hẹp hòi và tăng cường đoàn kết giữa cán bộ Trung ương phái đến với cán
bộ địa phương.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về luân chuyển cán bộ, của tác giả PGS Trần Đình Huỳnh,
đăng trên Tạp chí Xây dựng Đảng số 8/2003. Tác giả đã nêu mục đích của việc luân
chuyển cán bộ và một số phương châm tiến hành luân chuyển cán bộ.
- Bài viết “Vài suy nghĩ về luân chuyển cán bộ lãnh đạo và quản lý” của tác giả
Trần Bạch Đằng, đăng trên Tạp chí Cộng sản số 1/2005. Tác giả chỉ ra một số nguyên tắc
sử dụng quan chức thời phong kiến, thực dân ở nước Việt Nam, nêu lên những hạn chế
trong việc chuẩn bị đầu vào của việc luân chuyển cán bộ và hạn chế trong việc phân biệt
giữa luân chuyển và điều động cán bộ; trong đó tác giả cũng nêu lên một số giải pháp để
luân chuyển cán bộ có hiệu quả.
- Luận văn thạc sĩ: “Luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý thuộc diện Tỉnh uỷ quản
lý ở tỉnh Ninh Bình giai đoạn hiện nay” của tác giả Phạm Tất Thắng, Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh năm 2005. Tác giả đã đưa ra các quan niệm luân chuyển, điều động,
thuyên chuyển, vị trí, tầm quan trọng của công tác luân chuyển cán bộ và tác giả đã phân
tích, đánh giá thực trạng công tác luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý thuộc diện Tỉnh uỷ
quản lý ở tỉnh Ninh Bình.
- “Luân chuyển cán bộ thuộc diện Ban TVTU Bắc Giang quản lý giai đoạn hiện
nay”, Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Văn Năng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh năm 2006. Tác đã đề cập đến quan niệm và tác dụng của luân chuyển cán bộ, trong
đó tác giả đã nêu thực trạng luân chuyển cán bộ tuộc diện Ban Thường vụ tỉnh uỷ Bắc
Giang quản lý và tác giả đã đưa ra một số giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả luân chuyển
cán bộ trong giai đoạn hiện nay.
ở Lào:
- Các nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 7, khoá V (1993) về
“Phát triển tài nguyên con người ở Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào”, lần thứ 6 khoá VII
(2003), và các nghị quyết Hội nghị toàn quốc về công tác tổ chức (1991), Hội nghị toàn
TVTU Xiêng Khoảng quản lý từ khi có Nghị quyết của Bộ Chính trị số 02-NQ/BCT ngày
14/07/2003 về bố nhiệm, luân chuyển cán bộ.
- Đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt công tác
luân chuyển cán bộ thuộc diện Ban TVTU Xiêng Khoảng quản lý giai đoạn hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luân văn là công tác LCCB trong hệ thống chính trị ở tỉnh
Xiêng Khoảng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Công tác luân chuyển cán bộ thuộc diện Ban TVTU Xiêng
Khoảng quản lý.
- Về thời gian: Đi sâu nghiên cứu, khảo sát công tác luân chuyển cán bộ thuộc diện
Ban TVTU Xiêng Khoảng quản lý từ khi có Nghị quyết số 02/BCT của Bộ chính trị ngày
14/07/2003 về bố trí, luân chuyển cán bộ, bên cạnh đó có tham khảo công tác này trong
thời gian qua của nước Công hoà dân chủ nhân dân Lào và một số lý luận và thực tiễn của
Việt Nam.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được thể hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và quan điểm của Đảng nhân dân cách
mạng Lào về công tác cán bộ nói chung và công tác luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý
nói riêng.
- Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản là: phương pháp khảo sát
thực tế, thống kê, phân tích tổng hợp; phương pháp lôgic và lịch sử, phương pháp phân
tích hệ thống, phương pháp tổng kết thực tiễn.
6. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Luận văn góp phần làm rõ quan niệm luân chuyển cán bộ và những tư tưởng chỉ
đạo cơ bản của việc luân chuyển cán bộ thuộc diện Ban TVTU Xiêng Khoảng quản lý giai
đoạn hiện nay, giúp cho hoạt động thực tiễn có cơ sở lý luận và không nhầm lẫn trong công
khẩu quốc gia Nằm Cắn (thuộc huyện Nóng Hét, phía Tây giáp tỉnh Luống Phạ Bang, phía
Nam giáp với tỉnh Viêng Chăn và tỉnh Bo Ly Khăm Xay. Tỉnh Xiêng Khoảng có 8 huyện,
toàn tỉnh có 564 bản, có 39.771 hộ dân, dân số 249.287 người, trong đó 123.478 nữ, dân số
tăng 2,94% so với năm 2007-2008. Dân trong tỉnh thuộc các bộ tộc lớn: dân tộc Lào Lùm
44,5%, dân tộc Lào Thơng 8,1%, dân tộc Lào Xúng 38,4%, dân tộc Tay 5%, dân tộc
Phóng 2,4%, và dân tộc khác 1,6%.
Tỉnh có Diện tích 15.880 Km3, trong đó, diện tích rừng 551.252 ha, diện tích đất
nông nghiệp 37.324 ha (trong đó, đất làm ruộng 37.249 ha).
Tỉnh Xiêng Khoảng có điều kiện thiên nhiên thuận lợi, cho phát triển nền kinh tế, có
núi, rừng, sông, đồng cỏ tự nhiên, có diện tích trồng trọt và chăn nuôi khá lớn có khá năng
nuôi trâu, bò, dê, lợn và trồng cây nông nghiệp.
Tỉnh có nguồn tài nguyên phong phú như: mở sắt, than đá, vàng ở Phu Bia, đông ở
Phu Thén, Phu Sắn, nhưng các tài nguyên đó các công ty nước ngoài như Trung Quốc và
úc đang kiểm điểm.
Tỉnh có đường quốc lộ số 7 qua tỉnh từ Tây Nam sang Đông, từ tỉnh Luông Phạ
Bang qua các huyện và thị xã Phôn Xạ Văn, kéo dài đến cửa khẩu Nằm Cắn vào tỉnh Nghệ
An (Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Với chiều dài 269 km, quốc lộ 7 rất thuận lợi
cho giao thông vận tải và thương mại trong nước và nước ngoài như Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam. Ngoài ra tỉnh còn có đường số 6 tỉnh, từ huyện Khăm đến biên giới tỉnh
Hoá Phăn có chiều dài 96 km...và các con đường khác của địa phương, thuận lợi cho việc
giao lưu kinh tế trong tỉnh và các tỉnh trong nước.
Trong tỉnh có nhiều vùng du lịch tự nhiên và văn hoá cổ xưa như cánh đồng Trum
thuộc huyện Péch cách thị xã Phôn Sạ Vắn 7 km, hồ nước Nóng Tằng thuộc huyện Phu
Cụt cách thị xã Phôn Sạ Vắn 34 km, nguồn nước nóng thuộc huyện Khăm cách thị xã
Phôn Sạ Vắn 65 km, đây là một khu du lịch nổi tiếng của tỉnh khách nước ngoài và các
lãnh đạo từ Trung ương đến tỉnh phải đi tắm nước nóng này.
Tỉnh có nhiều con sông như: nguồn Nắm Ngừm, Nắm Mồ chạy theo phía Đông Bắc
đến huyện Kỹ Sơn tỉnh Nghệ An (Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam), Nắm Xiêng,
và quản lý nhân dân toàn tỉnh; hệ thống chính trị tiếp tục được củng cố; vai trò và hiệu lực
lãnh đạo, quản lý của các cấp uỷ đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân tiếp tục được tăng
cường; quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở ngày càng được phát huy; công tác xây dựng
Đảng được chỉ đạo thực hiện trên cả ba mặt: chính trị, tư tưởng và tổ chức, thường xuyên
được chăm lo xây dựng, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và đội
ngũ đảng viên được nâng cao từng bước; tỉnh uỷ đã xây dựng và chỉ đạo tổ chức thực hiện
có kết quả một số chỉ thị, nghị quyết, chuyên đề, chương trình và nhiều đề án lớn về công
tác xây dựng Đảng, chỉnh đốn Đảng và công tác cán bộ có chiến biến tích cực, cán bộ
được đi đào tạo, bồi dưỡng ngày càng tăng lên.
- Về văn hoá - xã hội.
+ Về giáo dục, tỉnh đã chăm lo tuyên truyền, khuyến khích nhân dân góp phần đầu
tư để đẩy mạnh giáo dục, phát triển trường học các cấp. Trường học đã đến với nông thôn,
vùng sâu, vùng xa, hiện nay toàn tỉnh có 53 trường phổ thông mầm non và mẫu giáo...,
trong đó tiểu học có 478 trường. Nhìn chung sự phát triển về giáo dục thể hiện khá rõ nét
sau mỗi năm.
+ Về y tế, tỉnh đã quan tâm và phát triển mạng lưới y tế xuống cơ sở. Toàn tỉnh có 1
bệnh viện và 1 bệnh viện 101 quân đội, các huyện có 1 bệnh viện, trạm xã: có 48. Các cơ
sở nông thôn, vùng sâu, vùng xa có hiệu thuộc tạo điều kiện cho nhân dân các bộ tộc được
khám chữa bệnh nhiều hơn và chăm sóc sức khoẻ của bà mẹ, trẻ em. Việc hạn chế sự phát
triển của bệnh sốt rét, bệnh pô ly ô được đặc biệt quan tâm. Nhờ đó, tỷ lệ chết của bà mẹ
và trẻ em ở tỉnh đã giảm xuống rõ rẹt, tỷ lệ chết của trẻ dưới 5 tuổi 90,4/ 1000 người. Dân
số toàn tỉnh được chăm sóc và y tế ở những mức độ khác nhau.
+ Về văn hoá-xã hội, thể dục thể thao, tỉnh Xiêng Khoảng là một tỉnh bị chiến tranh
tàn phá nhiều nhất so với các tỉnh trong nước, các công trình kiến trúc cổ xưa về văn hoá
bị tàn phá hậu hết. Tuy nhiên, tỉnh Xiêng Khoảng có nhiều địa danh đặc sắc về văn hoá
trên cả nước như: Lăm Phuôn (Hát đôi nam nữ), Phon Bắng Phay (múa lễ hội); đặc biệt
tỉnh Xiêng Khoảng còn có văn hoá cổ xưa như cánh đồng Trum nổi tiếng trên cả nước và
thể giới, đang chuẩn bị thuộc về di sản văn hoá thể giới; tỉnh là một trong những địa
xứng với tiềm năng, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn yếu, doanh nghiệp còn nhỏ bé, khả
năng hội nhập kinh tế quốc tế còn thấp; cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng chưa theo kịp nhu
cầu phát triển kinh tế, xã hội. Một số vấn đề về y tế, giáo dục, văn hoá, xã hội, môi trường
còn bất cấp. Công tác xây dựng Đảng có mặt làm chưa tốt, năng lực lãnh đạo, sức chiến
đấu của tổ chức cơ sở đảng chưa ngang tầm nhiệm vụ; công tác giáo dục tư tưởng chính trị
ở nhiều nơi hiệu quả thấp, một số cấp uỷ, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị chưa thực
hiện tốt việc đánh giá cán bộ; công tác đào, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng cán bộ trẻ, cán bộ
nữ, dân tộc thiếu số còn một số nơi chưa được quan tâm đúng mức. Tổ chức, hoạt động
của bộ máy chính quyền các cấp có mặt còn kém hiệu quả. Tất cả những thành tựu và hạn
chế nói trên có nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan, những nguyên nhân trực
tiếp và quyết định nhất đó chính là đội ngũ cán bộ mà trước hết là đội ngũ cán bộ thuộc
diện Ban TVTU quản lý.
1.1.2. Khái quát về Ban Thường vụ Tỉnh ủy Xiêng Khoảng
- Đặc điểm của Ban Thường vụ tỉnh uỷ
Đại hội lần thứ V, ngày 15-17/06/2005 Đại hội Đảng bộ Tỉnh uỷ đã bầu Ban TVTU
gồm, 7 đ/c, 0 nữ. Độ tuổi, từ 50 đến 55 tuổi: 2/7; 56 đến 60 tuổi: 4/7; 61 tuổi có 1/7.
Trình độ chuyên môn: Đại học 2/7 (chiếm 28,57%); cao đẳng 3/7 (chiếm 42,85%);
trung cấp 1/7 và sơ cấp 1/7 (chiếm 14,28).
Trình độ lý luận: tiễn sĩ 1/7; cao cấp 6/7 đồng chí.
Nhìn chung, Ban TVTU Xiêng Khoảng trình độ chuyên môn thấp, độ tuổi cao,
nhưng các đồng chí đã có kiến thức, kinh nghiệm, có khá năng và mức độ thành thảo công
việc để thực hiện và làm chọn nhiệm vụ; được nhân dân tin tưởng, có uy tín và trách nhiệm
cao.
Về cơ cấu: Tỉnh Xiêng Khoảng là một tỉnh có đặc diểm riêng và khác với tỉnh khác,
các tỉnh khác của Lào thì Bí Thư Tỉnh uỷ và Chủ tịch Tỉnh là chung một người, nhưng ở
tỉnh Xiêng Khoảng Bí thư và Chủ tịch Tỉnh là hai người. Vì vậy, ở cấp tỉnh về tổ chức
Đảng có Bí thư và Phó Bí thư Tỉnh uỷ; về tổ chức chính quyền có Chủ tịch Tỉnh và Phó
Chủ tịch Tỉnh. Trong Ban TVTU có một Ban thường trực Tỉnh uỷ và một Ban Thường
góp phần xây dựng và quán triệt đường lối, chính sách của Đảng để tổ chức thực
hiện cụ thể; bàn bạc thoả thuận, thừa nhận các chính sách, nhiệm vụ quan trọng
của Đảng uỷ, xây dựng - quản lý cán bộ, đảng viên, quản lý tài chính của Đảng
thuộc quyền trách nhiệm của mình.
- Lãnh đạo cơ quan chính quyền, mặt trận tổ quốc, đoàn thể và cơ quan tổ
chức xã hội khác hoạt động đúng theo chức năng, nhiệm vụ của mình; lãnh đạo,
kiểm tra cơ quan quản lý địa phương tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển kinh
tế - xã hội, an ninh - quốc phòng, nâng cao cuộc sống của nhân dân, động viên
quần chúng nhân dân góp phần xây dựng cơ quan quản lý địa phương, đảm bảo
quyền làm chủ của nhân dân.
- Bàn bạc, thừa nhận chỉ thị của Đại hội và kết quả bầu cử Ban cán sự
Đảng cấp dưới; Bàn bạc phê duyệt nhận quần chúng tiến bộ vào Đảng; thực hiện
kỷ luật tổ chức Đảng và đảng viên thuộc quyền quản lý của mình.
- Tham khảo bố trí đảng viên, tổ chức Đảng uỷ cơ sở, tổ chức cơ sở Đảng
phù hợp với nhiệm vụ chính trị và tiến hành kiểm tra theo dõi, thường xuyên
thúc đẩy tổ chức Đảng cấp dưới. Quyết định về công tác cán bộ như, đào tạo,
bồi dưỡng, quản lý, bố trí, xử dụng cán bộ và thực hiện chính sách đổi với cán
bộ, đảng viên thuộc quyền quản lý của mình [55, tr.48-51].
Dựa vào chức năng, nhiệm vụ đã nêu trên, Ban TVTU Xiêng Khoảng
đã phần chia phụ trách công việc và khu vực quản lý như sau:
1. Ban TVTU, Bí thư Tỉnh uỷ, phụ trách chỉ đạo chung mọi công việc, mọi lĩnh
vực; đi sâu phụ trách chỉ đạo công tác tư tưởng, công tác xây dựng Đảng và cán bộ, an
ninh - quốc phòng; chỉ đạo huyện Pách.
2. Ban TVTU, Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch Tỉnh. Phụ trách chỉ đạo mọi công việc
hành chính của tỉnh; đi sâu chỉ đạo công tác xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch phát
triển kinh tế – xã hội, xây dựng kế hoạch ngân sách hằng năm, hằng kỳ đạt được mục đích,
yêu cầu; chỉ đạo công tác quản lý nhà nước – quản lý xã hội theo pháp luật; chỉ đạo huyện
Phu Cút.
Trong thời gian gần đây thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng NDCM Lào,
tỉnh Xiêng Khoảng đã dần dần hình thành sự phân loại cán bộ trong hệ thống chính trị, bao
gồm các loại chủ yếu sau: Cán bộ lãnh đạo (trong đó có cán bộ lãnh đạo chính trị các cấp,
các ngành, địa phương và cơ sở); cán bộ quản lý(quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản
lý sản xuất kinh doanh, quản lý các đoàn thể quần chúng); cán bộ chuyên gia. Trong đó, có
nói đến đội ngũ cán bộ thuộc diện BTVTU quản lý. Hướng phân loại trên có ý nghĩa thực
tiễn, vì nó gắn với công việc chủ yếu của từng loại cán bộ. Mỗi loại cán bộ đều có vị trí,
vai trò nhất định trong xã hội. Do đó, cần phân biệt các loại cán bộ trước hết là ccán bộ
lãnh đạo và cán bô quản lý.
Theo từ điển bách khoa toàn thư của Liên Xô (trước đây) thì cán bộ lãnh đạo có hai
nghĩa:
Thứ nhất, cán bộ lãnh đạo là chỉ người đứng đầu của một tổ chức, một phong trào.
Thứ hai, cán bộ lãnh đạo là những người làm thức tỉnh hành vi của người khác.
Hiểu theo cách thông thường thì khái niệm cán bộ lãnh đạo được hiểu là bao gồm
những ai giữ chúc vụ và trách nhiệm cao trong một tổ chức, có ảnh hướng lớn đến hoạt
động của tổ chức, của bộ máy, có vai trò tham gia định hướng, điểu khiển hoạt động của cả
bộ máy. Ví dụ như các uỷ viên Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, Trưởng, Phó các đoạn
thể, cơ quan, đơn vị v.v...
Trong bộ phận cán bộ lãnh đạo, có một nhóm được gọi là cán bộ lãnh đạo chủ chốt.
Đó là những người đứng đầu quan trọng nhất, có chức vụ cao nhất trong một tập thể, có
quyền ra những quyết định về chủ trương, có trách nhiệm và quyền điều chính một tập thể,
một đơn vị, một tổ chức để thực hiện những nhiệm vụ của tập thể hoăc tổ chức ấy, thâm
chí có thể chi phối, dẫn dắt toàn bộ hoạt động của một tổ chức nhất định.
Trong mỗi tổ chức đều có người lãnh đạo. Nhiều tổ chức có tập thể lãnh đạo, trong
tập thể lãnh đạo có người đứng đầu. Người đó là cán bộ chủ chốt. Vậy cán bộ lãnh đạo chủ
chốt là người đứng đầu quan trọng nhất, có tác dụng chi phối chính toàn bộ hoạt động của
một tổ chức nhất định.
Đây là một bộ phận cán bộ rất quan trọng ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của tổ
Như vậy, có thể hiểu cán bộ thuộc diện Ban TVTU Xiêng Khoảng quản lý là người
đứng đầu trong hệ thống bộ máy đảng, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể chính trị-xã
hội tỉnh và các doanh nghiệp nhà nước; những người đứng đầu bộ máy đảng, chính quyền
cấp huyện và ở các sở, ban, ngành tỉnh, chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện đường lối,
nhiệm vụ chính trị, điều hành công tác, chỉ đạo cán bộ, công trực thuộc quyền quản lý của
mình hoàn thành các nhiệm vụ chính trị, kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng của địa
phương. Vì thể, cán bộ thuộc diện Ban TVTU Xiêng Khoảng quản lý, chính là cán bộ lãnh
đạo, quản lý của tỉnh.
Cán bộ thuộc diện Ban TVTU Xiêng khoảng quản lý còn gắn liền với vấn đề phân
cấp quản lý cán bộ. Theo đó, Bộ Chính trị quy định và xác định những chức danh cán bộ
mà Ban TVTU quản lý và quyền hạn, nhiệm vụ quản lý. Cụ thể hoá Quyết định số 02
NQ/BCT của Bộ Chính trị ngày 17/10/2006 về phân cấp quản lý cán bộ. Các chức danh
thuộc diện Ban TVTU Xiêng khoảng quản lý gồm:
ở cấp tỉnh, Bí thư, phó bí thư Đảng bộ tỉnh; Trưởng ban, Phó Trưởng ban tỉnh. phó
trưởng ban Tổ chức, Ban Tuyên giáo tỉnh; chủ tịch, phó chủ tịch Mặt trận tố quốc tỉnh; Bí
thư, Phó Bí thư Tỉnh Đoàn thanh niên; Chủ tịch, phó Chủ tịch Họi Liên hiệp phụ nữ tỉnh;
Giám đốc, Phó Giám đốc các sở, ngành trong tỉnh và tương đương; Giám đốc, Phó Giám
đốc công ty doanh nghiệp nhà nước thuộc diện tỉnh; Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng Trường
Chính trị tỉnh; Chánh án, Phó Chánh Toà án nhân dân tỉnh; Chủ nhiệm, Phó Chủ nhiệm,
Uỷ viên Uỷ Ban kiểm tra tỉnh uỷ; Chánh, Phó văn phòng Tỉnh uỷ;
ở cấp huyện, Phó Chủ tịch huyện, Phó Bí thư huyện uỷ và Huyện uỷ viên.
Qua các chức danh thuộc diện Ban TVTU Xiêng khoảng quản lý theo thống kê
năm 2008 của Ban tổ chức tỉnh uỷ có 204 người
Có thể nói đội ngũ cán bộ thuộc diện Ban TVTU Xiêng khoảng quản lý là lực lượng
được lựa chọn, tiêu biểu về phẩm chất chính trị, đạo đức, về sự kiên định, vững vàng và có
khá năng đáp ứng yêu cầu các nhiệm vụ được giao. Số lượng và chất lượng có bước phát
triển, có cơ cấu tương đối hợp lý.
1.1.3.2. Vai trò, đặc điểm cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Xiêng
dân thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước; những chương
trình hành động cụ thể, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của địa phương; tổ chức lãnh đạo
cán bộ, đảng viên và nhân dân thực hiện tốt các chương trình, kế hoạch đó. Với nhiệm vụ
này, Cán bộ thuộc diện Ban TVTU Xiêng khoảng quản lý giữ vị trí, vai trò là trung tâm
định hướng, điều khiển hoạt động của các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh, các huyện, đảng
uỷ trực thuộc, tác động trực tiếp và quyết định đến sự phát triển trên các lĩnh vực của đời
sống xã hội trong tỉnh.
Cán bộ thuộc diện Ban TVTU Xiêng khoảng quản lý chủ trì toàn bộ các công việc
của cấp uỷ, cấp huyện; công việc của các sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh; trực tiếp nắm
các khâu trọng yếu, trọng tâm, những vấn đề mới phát sinh, cơ mật của địa phương. Cán
bộ thuộc diện Ban TVTU Xiêng khoảng quản lý có vai trò là trung tâm đoàn kết trong
Đảng bộ tỉnh, mà trực tiếp là các huyện, đảng uỷ trực thuộc, các sở, ban, ngành, đoàn thể
tỉnh; là nguồn bổ sung cán bộ cho cấp trên, nhất là cán bộ chủ chốt của tỉnh, các bô, ban,
ngành, đoàn thể Trung ương.
Cán bộ thuộc diện Ban TVTU Xiêng khoảng quản lý trên cơ sở những quan điểm,
đường lối, chủ trương chung của Đảng và nhà nước, đồng thời xuất phát từ tri thức của
mình, từ sự am hiểu điều kiện thực tế về tự nhiên, kinh tế-xã hội...của tỉnh, họ là những
người đầu tiên nêu ra phương hươnngs, nhiệm vụ để tập thể có thẩm quyền ở địa phương,
đơn vị quyết định và họ là những người chủ trì tổ chức thực hiện phương hướng, nhiệm vụ
đó theo trức trách của mình. Nếu định ra phương hướng, nhiệm vụ đúng, phù hợp với tình
hình thực tế của địa phương và tổ chức thực hiện tốt, rút ra được những kinh nghiệm thực
tiễn, thì đường lối, chính sách của Đảng trở thành kết quả cụ thể, thúc đẩy kinh tế-xã hội
của tỉnh phát triển; nều không đúng và không phù hợp thì sẽ kìm hãm sự phát triển đó.
Cán bộ thuộc diện Ban TVTU Xiêng khoảng quản lý là người tuyên truyền, tổ chức,
hướng dẫn, duy trì các hoạt động của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong tỉnh. Chính các
phong trào hoạt động thực tiễn ấy lại là môi trường rèn luyện, thử thách, sàng lọc và phát
triển cán bộ; là những chịu trách nhiệm trực tiếp trong xây dựng tổ chức, đặc biệt là trong
công tác cán bộ vận hành có hiệu quả, đồng thời họ cũng là người đảm trách công việc
(tỷ lệ nữ rất thấp); cơ cấu ngành nghề, trình độ đào tạo còn hạn chế; số lượng đội ngũ cán
bộ koa học kỹ thuật còn mỏng, chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ
ngày nay; cơ cấu độ tuổi chưa hợp lý, nhiều huyện tuổi bình quân vẫn còn cao, thiếu cán
bộ kế cận, dự bị, kiến thức, năng lực lãnh đạo và quản lý còn có mặt bất cấp, nhất là kiến
thức về quản lý kinh tế, về pháp luật, về cơ chế tổ chức và phương thức công tác. Một số
cán bộ còn bị động, lúng túng, thiếu năng động sáng tạo để thích ứng với cơ chế mới,
phong cách lãnh đạo, điều hành chậm đổi mới. Nhìn chung, năng lực lãnh đạo trong điều
kiện hiện nay còn hạn chế. Đội ngũ cán bộ thuộc diện Ban TVTU Xiêng khoảng quản lý
còn nhiều cán bộ chưa có bằng lý luận chính trị, nhất là ở các cơ quan doanh nghiệp nhà
nước, trình độ chuyên môn thì cao, trình độ ly luận thì chưa có.
1.2. Quan niệm, vai trò, nguyên tắc và quy trình luân chuyển cán bộ thuộc diện
Ban thường vụ tỉnh uỷ Xiêng Khoảng quản lý
1.2.1. Quan niệm và vai trò của luân chuyển cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ
Tỉnh uỷ Xiêng Khoảng quản lý
1.2.1.1. Quan niệm về luân chuyển cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh uỷ
Xiêng Khoảng quản lý
Luân chuyển cán bộ là tính thường xuyên của công tác cán bộ trong các tổ chức
đảng, nhà nước và đoàn thể, là chu chuyển đảm nhiệm chức vụ ở nơi cũ để chuyển đảm
nhiệm chức vụ ơ nơi mới theo yêu cầu của công việc.
Như chúng ta đã biết, thuật ngữ luân chuyển là một từ ghép Hán-Việt, trong đó luân
là sự thay đổi có tính chất thứ tự, lần lượt, luân phiên; còn chuyển ở đây có nghĩa là dịch
chuyển từ chỗ này đến chỗ khác. Theo Đại từ điển tiếng Việt thì luân chuyển có nghĩa là
chuyển đổi lần lượt theo vòng.
Thuật ngữ luân chuyển cán bộ, đặt dưới góc độ xây dựng Đảng để xem xét thì đó là
một khái niệm chỉ sự thay đổi tương đối toàn diện đối với một cán bộ, trước hết là thay đổi
về vị trí thực thi nhiệm vụ, chuyển đổi từ chức vụ lãnh đạo, quản lý này sang chức vụ lãnh
đạo, quản lý khác; đồng thời kèm theo sự thay đổi về quyền hạn, trách nhiệm, địa điểm
công tác và những thay đổi về chế độ, chính sách của cán bộ. Cùng với sự thay đổi về cá