Phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh thành phố Hà Nội - Pdf 39

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI

TRẦN THỊ HỒNG SÂM

PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM –
CHI NHÁNH HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Hà Nội, 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI

TRẦN THỊ HỒNG SÂM

PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM –
CHI NHÁNH HÀ NỘI

Chuyên ngành : Kế toán
Mã số
: 60.34.03.01

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS ĐẶNG VĂN THANH


Báo cáo tài chính

BQ

Bình quân

CBTD

Cán bộ tín dụng

CIC

Trung tâm thông tin tín dụng – NHNN

CPLV

Chi phí lãi vay

GVHB

Giá vốn hàng bán

HTK

Hàng tồn kho

KHDN

Khách hàng doanh nghiệp


Thương mại cổ phần

TNDN

Thu nhập doanh nghiệp

TSCĐ

Tài sản cố định

TSDH

Tài sản dài hạn

TSNH

Tài sản ngắn hạn

VCSH

Vốn chủ sở hữu

TSBĐ

Tài sản bảo đảm


DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
BẢNG

tài chính để có thể hoạt động hiệu quả và đứng vững trên thị trường. Một trong
những nhân tố giúp doanh nghiệp đạt được điều đó là trung gian tài chính – ngân
hàng thương mại.
Với chức năng là trung gian tài chính, ngân hàng đứng ra gắn kết bên có vốn
nhàn rỗi và bên cần vốn, giải quyết được sự giới hạn do không phù hợp về qui mô,
thời gian, không gian giữa hai bên. Nền kinh tế càng phát triển thì mối quan hệ giữa
ngân hàng và doanh nghiệp càng chặt chẽ. Các doanh nghiệp ngày càng cạnh tranh
gay gắt, nhất là trong hoàn cảnh hiện nay việc tiếp cận vốn vay là khó, nếu có được
nguồn vốn ban đầu từ ngân hàng kinh doanh là rất thuận lợi. Ngược lại, trong các
hoạt động ngân hàng thì tín dụng cũng đóng vai trò hết sức quan trọng. Cho vay là
tài sản chiếm tỷ trọng cao nhất, tạo thu nhập từ lãi lớn nhất. Vì thế, đảm bảo và
ngâng cao chết lượng hoạt động tín dụng vừa là mục tiêu vừa là nhân tố quan trọng
để mỗi ngân hàng thương mại cạnh tranh và phát triển.
Đi đôi với việc mang lại lợi nhuận lớn thì hoạt động cho vay cũng là hoạt
động mang lại rủi ro nhất trong hoạt động của ngân hàng. Trong thời gian vừa qua,
nợ xấu tại các ngân hàng gia tăng, số lượng doanh nghiệp phá sản cũng tăng lên.
Doanh nghiệp không trả được nợ đến hạn, doanh thu của ngân hàng giảm, ảnh
hưởng đến việc trả cho khách hàng gửi tiền, đến sự tồn tại của ngân hàng. Để tránh
được những rủi ro tín dụng này, trong quá trình thẩm định cho vay, ngân hàng cần

1


nâng cao chất lượng khâu phân tích, đánh giá tình hình tài chính đối với khách
hàng. Đây là khâu quyết định xem khách hàng có đủ điều kiện vay vốn của ngân
hàng hay không.
Phân tích báo cáo tài chính (BCTC) của doanh nghiệp bao gồm thông tin về
tài sản, công nợ, khả năng sinh lợi và khả năng thanh toán, sức mạnh tài chính, khả
năng tự chủ trong kinh doanh cũng như kết quả hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, đồng thời xác định những rủi ro trong tương lai và triển vọng của doanh

tiêu biểu về công tác phân tích BCTC doanh nghiệp trong hoạt động cho vay tại các
Ngân hàng TMCP như sau:
Luận văn thạc sỹ “Hoàn thiện phân tích tài chính khách hàng trong hoạt động
cho vay tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Hùng Vường”
do tác giả Nguyễn Thị Thùy Anh nghiên cứu năm 2012.
Luận văn thạc sỹ “Hoàn thiện công tác phân tích tình hình tài chính các doanh
nghiệp vay vốn tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải – Chi nhánh Đà Nẵng” của tác giả
Nguyễn Thị Bích Ngọc nghiên cứu năm 2012.
Những kết quả đạt được của các đề tài nghiên cứu trước đây
- Khái quát hóa được những vấn dề lý luận cơ bản về phân tích BCTC trong
hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại.
- Các đề tài nghiên cứu trước đây đề nêu được cơ bản thực trạng công tác phân
tích BCTC tại chi nhánh ngân hàng thương mại nằm trong phạm vi nghiên cứu của
đề tài, chỉ ra được những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân trong
công tác phân tích BCTC tại chi nhánh ngân hàng thương mại đó.
- Từ những kết quả, nguyên nhân và hạn chế của công tác phân tích BCTC tìm
ra giải pháp hoàn thiện công tác phân tích BCTC doanh nghiệp vay vốn tại chi
nhánh ngân hàng thương mại trong phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Một số hạn chế, tồn tại của các đề tài nguyên cứu trước đây và hướng
phát triển của tác giả
Hầu hết các đề tài đều tập trung vào việc nân gcao hiệu quả của công tác
tuyển dụng và đào tạo nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tín dụng, như vậy
việc phân tích BCTC phụ thuộc nhiều và các yếu tố như đạo đức nghề nghiệp
và năng lực của cán bộ tín dụng. Các đề tài nghiên cứu trước đây chưa tập
trung nghiện cứu cải tiến quy trình cấp tín dụng (quy trình cho vay) để nâng

3


cao khả năng kiểm soát lẫn nhau giữa các cán bộ nhân viên trong ngân hàng



Câu hỏi 2: Đặc điểm doanh nghiệp vay vốn và những ảnh hưởng đó đến việc
phân tích BCTC doanh nghiệp vay vốn tại Vietinbank Hà Nội như thế nào?
Câu hỏi 3: Những vấn đề còn tồn tại của phân tích BCTC doanh nghiệp trong
hoạt động cho vay tại Vietinbank Hà Nội là gì? Nguyên nhân của những tồn tại đó
là gì?
Câu hỏi 4: Các giải pháp để hoàn thiện phân tích BCTC doanh nghiệp trong
hoạt động cho vay tại Vietinbank Hà Nội là gì?
5. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Thẩm định khách hàng có vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động cho vay
tại các NHTM và phân tích BCTC doanh nghiệp là khâu rất quan trọng góp phần ra
quyết định cho vay. Quá trình giám sát vốn vay cũng phải dựa vào kết quả phân tích
BCTC doanh nghiệp. Theo đó, đối tượng nghiên cứu của đề tài là Công tác phân
tích BCTC doanh nghiệp trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng TMCP Công
thương Việt Nam – Chi nhánh thành phố Hà Nội.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Đề tài được nghiên cứu với các doanh nghiệp vay vốn tại
Vietinbank Hà Nội.
Về thời gian: Đề tài được thực hiện trong khoảng thời gian từ năm 2012-2014
là giai đoạn gần nhất, phản ánh rõ thực trạng phân tích BCTC doanh nghiệp vay
vốn tại Vietinbank Hà Nội.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Các phương pháp kỹ thuật sử dụng
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã chú trọng sử dụng tổng hợp nhiều
phương phpaps nghiên cứu như: Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp, số liệu sơ
cấp,tìm hiểu thông tin trên internet, tạp chí; Phương pháp thống kê mô tả; Phương
pháp phân tích, tổng hợp; Phương pháp điều tra, khảo sát. Các phương pháp xử lý số
liệu, phân tích và so sánh đánh giá nhằm làm rõ vấn đề mà mục tiêu nghiên cứu đề ra.

7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Với mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài, bằng việc sử dụng
các phương pháp nghiên cứu khoa học, luận văn này có những đóng góp nhất định.
Một số đóng góp có thể kể đến như sau:
- Tổng kết được các thành quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu trước
đó có liên quan đến nội dung phân tích BCTC nói chung và phân tích BCTC doanh
nghiệp vay vốn tại NHTM nói riêng.
- Nêu bật được tầm quan trọng của phân tích BCTC doanh nghiệp đặc biệt là

6


trong quá trình thẩm định cho vay và trong suốt quá trình sử dụng vốn vay của
khách hàng doanh nghiệp trong các NHTM.
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về phân tích BCTC doanh nghiệp vay
vốn tại các NHTM.
- Đánh giá được thực trạng phân tích BCTC doanh nghiệp vay vốn tại
Vietinbank Hà Nội, qua đó làm rõ những hạn chế cần khắc phục nhằm cải thiện tình
hình này của Chi nhánh.
Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng phân tích BCTC của doanh nghiệp
vay vốn tại Vietinbank Hà Nội, đề tài nêu rõ được những kết quả đạt được và chỉ ra
những hạn chế cũng như nguyên nhân của những hạn chế đó, từ đó khẳng định sự
cần thiết phải hoàn thiện phân tích BCTC nhằm nâng cao chất lượng tín dụng và có
định hướng đầu tư hiệu quả tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi
nhánh TP Hà Nội.
Đề tài đưa ra được những giải pháp và các kiến nghị cần thiết để hoàn thiện
phân tích BCTC doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng và có định
hướng đầu tư hiệu quả tại Vietinbank Hà Nội. Đưa ra được định hướng tìm hiểu cho
các công trình nghiên cứu của các tác giả sau này để phát triển nội dung nghiên cứu
của luận văn.

các loại hình trên. Cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết
khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định.
1.1.2. Vai trò của hoạt động cho vay trong các ngân hàng thương mại
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hệ thống NHTM cũng ngày càng phát
triển cả về quy mô và số lượng, khẳng định vai trò của một trung gian tài chính
không thể thiết trong hệ thống tài chính quốc gia. Đồng thời khẳng định vài trò chủ
yếu của tín dụng ngân hàng đối với sự phát triển của nền kinh tế nói chung và đối
với sự tồn tại và phát triển của bản thân các ngân hàng nói riêng. Ta có thể thấy vai
trò và ý nghĩa to lớn của hoạt động cho vay đối với nền kinh tế như sau:
Thứ nhất, trong các thành phần tham gia nền kinh tế quốc dân luôn có một bộ
phận người thừa vốn cần đầu tư và một bộ phận những người thiếu vốn muốn đi

8


vay. Tuy nhiên quan hệ trực tiếp giữa hai bộ phận này bị giời hạn do không phù hợp
về quy mô, thời gian, không gian. Ngân hàng ra đời trở thành cầu nối giữa người có
vốn và người cần vốn để giải quyết nhu cầu thỏa đáng trong mối quan hệ này. Như
vậy, bằng hoạt động cho vay của mình, ngân hàng đã làm giảm số tiền nhàn rỗi
trong lưu thông, tăng thu nhập cho người tiết kiệm, đồng thời giảm phí tổn tín dụng
cho người đầu tư, giảm chi phí giao dịch. Điều này đồng nghĩa với việc giảm chi
phí tìm vốn cho các doanh nghiệp.
Thứ hai, hoạt động cho vay của ngân hàng giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Cụ thể, ngân hàng thu hút, tập trung mọi nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của
các tổ chức kinh tế, dân cứ để đầu tư cho quá trình mở rộng sản xuất, tăng trưởng
kinh tế, đáp ứng đầy đủ nhu cầu về vốn, thúc đẩy lưu thông hàng hóa, tăng tốc độ
chu chuyển vốn cho xã hội, góp phần thúc đẩy tái sản xuất mở rộng, tạo điều kiện
thuận lợi cho nền kinh tế phát triển bền vững.
Ngày nay, trong quan hệ kinh tế đối ngoại, sự hợp tác bình đẳng cùng có lợi
giữa các nước trên thế giới và trong khu vực đang được thúc đẩy mạnh cả về chiều

1.2.2. Ý nghĩa của phân tích BCTC doanh nghiệp trong hoạt động cho vay
tại các ngân hàng thương mại
Để quyết định cho vay, một trong những vấn đề mà các ngân hàng cần xem
xét là doanh nghiệp thực sự có nhu cầu vay hay không? Khả năng trả nợ của doanh
nghiệp như thế nào? Phân tích BCTC doanh nghiệp sẽ cung cấp những thông tin
cần thiết cho ngân hàng để họ có những quyết định đúng đắn khi cho vay.
Cụ thể là:
Thứ nhất, phân tích BCTC cung cấp cho ngân hàng những thông tin nhằm
đánh giá khả năng và tính chắc chắn của dòng tiền vào ra, tình hình sử dụng có hiệu
quả nhất của vốn kinh doanh, từ đó đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
Đây cũng chính là cơ sở để ngân hàng xem xét khả năng trả nợ của doanh nghiệp và
doanh nghiệp thực sự có nhu cầu vay hay không. Đối với cho vay ngắn hạn và dài
hạn có cách thức phân tích BCTC tương đối khác biệt, cho vay ngắn hạn thường chỉ
tập trung vào khả năng thanh toán lãi vay của doanh nghiệp và thanh toán gốc vay
vào ngày đáo hạn, những phân tích này được giới hạn trong một khung thời gian cụ
thể. Các chủ nợ dài hạn lại có những đánh giá và xem xét kỹ lưỡng hơn đối với khả
năng thanh toán của doanh nghiệp, họ cần xem xét khả năng duy trì sự tồn tại và

10


sức sinh lời của doanh nghiệp trong một khoảng thời gian tương đối dài. Như vậy,
một số biến động trong ngắn hạn của doanh nghiệp có thể là mối quan tâm lớn đối
với ngân hàng khi cho vay ngắn hạn, nhưng những sự kiện đó chưa hẳn đã được
quan tâm khi cho vay dài hạn. Ngân hàng không chỉ quan tâm tới tình hình tài chính
hiện tại của khách hàng mà còn phải quan tâm tới khả năng phát triển trong tương
lai của họ.
Thứ hai, phân tích BCTC cung cấp những thông tin về nguồn vốn chủ sở hữu,
các khoản nợ, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, sự kiện làm biến đổi nguồn
vốn, đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp. Vốn của doanh nghiệp

xác của những đánh giá về tình hình tài chính một doanh nghiệp, về rủi ro mức độ
và chất lượng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cũng như sự sát xao của các dự
báo tài chính. Vì vậy, có rất nhiều nhân tố khác nhau ảnh hưởng trực tiếp cũng như
gián tiếp tới chất lượng phân tích BCTC của doanh nghiệp bao gồm 2 nhóm nhân tố
chính: nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan.
1.2.3.1. Nhân tố chủ quan
Nhân tố con người
Đó là trình độ nghiệp vụ, nhận thức, đạo đức, kinh nghiệm của cán bộ phân
tích trong suốt quá trình phân tích BCTC doanh nghiệp.
Mỗi người cán bộ đều có kinh nghiệm thực tế, trình độ nghiệp vụ, nhận thức
và hiểu biết khác nhau. Do đó, ngoài việc đánh giá phân tích tài chính doanh nghiệp
theo các bước quy định chung của luật thì có độ nhạy bén, sắc sảo khác nhau. Cùng
các số liệu thu thập nhưng cán bộ có cái nhìn nhạy bén sẽ thấy được những điểm
tồn tại mà các bộ khác không thấy. Hay những thế hệ đi trước có kinh nghiệm thực
tế nhứng nếu trình độ nghiệp vụ không được bổ sung cập nhật thường xuyên thì sẽ
không kịp tốc độ phát triển, cách thức hiện tại. Thế hệ trẻ mặc dù kiến thức, trình độ
được cập nhật mới nhưng nóng vội, thiếu kinh nghiệm thực tế.
Bên cạnh đó, đạo đức nghề nghệp, tính cách của mỗi cá nhân, tất cả những vấn
đề trên đều ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động phân tích báo cáo tài chính doanh
nghiệp. Có những trường hợp vì mục đích cá nhân mà cán bộ có thể làm sai lệch hồ
sơ dẫn đến kết quả phân tích không phản ánh đúng thực trạng tài chính của doanh
nghiệp. Hoặc tâm trạng cán bộ phân tích không tốt cũng là một nguyên nhân dẫn
đến kết quả không được chính xác.
Chính sách tín dụng của ngân hàng
Thông qua các văn bản về quy trình nghiệp vụ mà ngân hàng đề ra trong phân
tích tín dụng, chính sách tín dụng của ngân hàng trong từng thời kỳ: mở rộng hay

12



13


công tác kiếm soát nội bộ giúp cho cán bộ điều hành đúng cơ chế, đúng pháp luật,
mặt khác nắm được sai sót lệch lạc trong hoạt động cho vay và có biên pháp khắc
phục kịp thời, nâng cao chất lượng phân tích BCTC doanh nghiệp trong hoạt động
cho vay của ngân hàng.
1.2.3.2. Nhân tố khách quan
Bản thân doanh nghiệp vay vốn
Các doanh nghiệp vay vốn là những loại hình doanh nghiệp khác nhau, lĩnh
vực ngành nghề kinh doanh khác nhau, quy mô hoạt động khác nhau,… đều ảnh
hưởng rất lớn tới chất lượng phân tích của ngân hàng.
Lĩnh vực ngành nghề kinh doanh
Với những ngành nghề khác nhau thì đặc trưng của từng ngành đó là khác
nhau cho nên đối với các chỉ tiêu phân tích thì mỗi ngành cũng có những mức
chuẩn khác nhau. Do đó, không thể áp dụng chuẩn của ngành này vào ngành khác
để phân tích hoạt động kinh doanh. Chắng hạn, đối với các doanh nghiệp sản xuất
thì các chỉ tiêu về khả năng hoạt động của tài sản cố định sẽ được đề cao, trong khi
đó, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ thương mại thì các chỉ tiêu về
hiệu quả sử dụng vốn lưu động sẽ được quan tâm hơn.
Loại hình doanh nghiệp
Với các loại hình doanh nghiệp khác nhau thì mức độ phức tạp của các báo
cáo tài chính khác nhau, do đó sẽ gây khó dễ cho cán bộ tín dụng, ví dụ các doanh
nghiệp nhà nước so với các công ty tư nhân, góc độ phân tích là khác nhau, các chỉ
tiêu quan tâm được chú trọng cũng khác nhau. Mặt khác, trong bản thân mỗi loại
hình doanh nghiệp, các doanh nghiệp khác nhau cũng có quy mô lớn nhỏ khác
nhau, do đó các BCTC cũng có mức đô phắc tạp khác nhau. Với những doanh
nghiệp số liệu ít phức tạp, cán bộ tín dụng càng cần thiết phải sử dụng hết số liệu,
tìm mối liên quan và lời giải thích giữa các chỉ tiêu. Với doanh nghiệp có BCTC
nhiều thông số phức tạp thì điều quan trọng hơn là bóc tách được những chỉ tiêu

có thể dấu đi những khoản tài chính chưa minh bạch, những khoản nợ khó đòi,
những chi phí không hợp lý. Nhưng cũng có khi vì mục đích giảm bớt khoản đóng
góp cho nhà nước, được miễn giảm lãi… khách hàng cũng có thể dấu bớt đi một
phần lợi nhuận. Do đó việc kiểm tra lại độ chính xác, logíc phù hợp trong báo cáo
tài chính là hết sức cần thiết.

15


Việc có được nguồn thông tin đầy đủ, nhanh chóng và dễ dàng hay không phụ
thuộc nhiều vào chính sách bảo mật của khách hàng, tức là phụ thuộc vào việc
doanh nghiệp có sẵn sàng cung cấp thông tin, số liệu tài chính hay không. Các
khách hàng vay vốn hoạt động tốt, có bộ máy kế toán làm việc nghiêm túc, hạch
toán theo dõi sổ theo đúng quy định của pháp luật hiện hành thì các BCTC của
khách hàng này có chất lượng tốt, các số liệu thống nhất cũng như giải trình số liệu
đầy đủ, hợp lý, chính xác. Ngược lại với các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh
nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, doanh nghiệp tư nhân không có bộ phận kế toán
chuyên trách, số liệu kế toán không thống nhất, chính xác sẽ ảnh hưởng xấu đến
hiệu quả phân tích BCTC doanh nghiệp.
Nhân tố khách quan khác
Ngoài ra các nhân tố khác như công nghệ tin học, môi trường chính trị kinh tế,
xã hội và pháp luật cũng gây ra những ảnh hưởng tới chất lượng phân tích báo cáo
tài chính doanh nghiệp. các văn bản pháp luật, quy định cũng buộc công tác phân
tích, đánh gái phải tuân thủ các bước, các chuẩn mực của toàn ngành và của từng
ngành, của ngân hàng, chính những yếu tố này lại tạo ra các thông tin phản hồi của
các doanh nghiệp.
Việc ứng dụng công nghệ thông tin sẽ giúp cho việc tính toán được chính xác
hơn, tiết kiệm thời gian, nhân công. Thông qua hệ thống máy tính, ngân hàng có thể
lưu giữ, cập nhật những thông tin mới nhất và cần thiết một cách nhanh chóng.
Môi trường pháp lý hoàn thiện bao gồm tính đồng bộ, khoa học của hệ thống

toàn bộ giá trị tài sản của doanh nghiệp theo giá trị ghi sổ của tài sản và nguồn hình
thành tài sản đó của doanh nghiệp đó tại một thời điểm nhất định (quý, năm).
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (BCKQKD): là một báo cáo kế toán tài
chính phản ánh tổng hợp doanh thu, chi phí và kết quả của các hoạt động kinh
doanh trong doanh nghiệp sau mỗi kỳ hoạt động kinh doanh. Đây cũng là BCTC
quan trọng cho nhiều đối tượng khác nhau nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động và
khả năng sinh lời của doanh nghiệp.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (BCLCTT): là BCTC tổng hợp, phản ánh việc hình
thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp. Thông tin
về lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp là cơ sở để đánh giá khả năng tạo tiền và việc
sử dụng những khoản tiền đã tạo ra đó trong hoạt động SXKD của doanh nghiệp.

17


Thuyết minh BCTC (TMBCTC): là một báo cáo kế toán tài chính tổng quát
nhằm mục đích giải trình và bổ sung, thuyết minh những thông tin về tình hình hoạt
động SXKD, tình hình tài chính của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo, mà chưa được
trình bày đầy đủ và chi tiết hết trong BCTC ở trên. Vì thế nội dung của báo cáo này
thường đề cập đến đạc điểm, tình hình chung của doanh nghiệp; về thu nhập của
người lao động; về các nguyên nhân tăng, giảm của tài sản cố định (TSCĐ) (theo
nguyên giá và theo giá trị còn lại); về tình hình tăng, giảm các nguồn vốn, các quỹ
doanh nghiệp; những khoản nợ tiềm tàng, những hoản cam kết và những thông tin
tài chính khác.
1.3.2. Thông tin ngoài hệ thống kế toán của doanh nghiệp
- Thông tin chung: là những thông tin liên quan đến trạng thái, sự phát triển
của nền kinh tế, đó là những thông tin thuộc môi trường vĩ mô. Khi phân tích tài
chính cần phải xem xét nghiên cứu xem nền kinh tế đang trong giai đoạn suy thoái
hay tăng trưởng; sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật; những thông tin về tiền tệ như lãi
suất, tỷ lệ lạm phát, tỷ giá hối đoái; các thông tin về chỉ số giá, chỉ số lạm phát,

được so sánh là gốc về mặt thời gian và không gian. Kỳ phân tích được chọn là kỳ
thực hiện hoặc kỳ kế hoạch, hoặc kỳ kinh doanh trước. Giá trị so sánh có thể chọn
là số tuyệt đối, số tương đối hoặc là số bình quân.
- Để bảo đảm tính chất so sánh được của chỉ tiêu, cần thỏa mãn các điều kiện sau:
+ Phải đảm bảo sự thống nhất về nội dung kinh tế của chỉ tiêu.
+ Phải đảm bảo sự thống nhất về phương pháp tính các chỉ tiêu.
+ Phải đảm bảo sự thống nhất về đơn vị tính các chỉ tiêu (kể cả hiện vật, giá trị
và thời gian).
- Nội dung so sánh bao gồm:
+ So sánh giữa số thực tế kỳ phân tích với số thực tế kỳ kinh doanh trước
nhằm xác định rõ xu hướng thay đổi về tình hình hoạt động tài chính của doanh
nghiệp. Đánh giá tốc độ tăng trưởng hay giảm đi của các hoạt động tài chính
doanh nghiệp.
+ So sánh giữa số thực kế kỳ phân tích với số thực tế của kỳ kế hoạch nhằm
xác định mức độ phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch trong mọi mặt của hoạt
động tài chính doanh nghiệp.

19


+ So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình tiên tiến của
ngành, của doanh nghiệp khác để đánh giá trình hình hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp tốt hay xấu, khả quan hay không khả quan.
- Quá trình phân tích theo phương pháp so sánh có thể thực hiện bằng 3
hình thức:
+ So sánh ngang trên các BCTC của doanh nghiệp: là việc so sánh, đối chiếu
tìn hình biến động cả về số tuyệt đối và tương đối trên từng chỉ tiêu của báo cáo tài
chính. So sánh theo chiều ngang chính là phân tíc sự biến động về quy mô của từng
khoản mục trên các báo cáo tài chính của doanh nghiệp để xác định mức biến động
về quy mô của các chỉ tiêu phân tích và mức độ ảnh hưởng của từng chỉ tiêu nhân tố


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status