VĂN HÓA ỨNG XỬ VỚI NGƯỜI CHẾT CỦA NGƯỜI JRAI Ở GIA LAI - Pdf 39

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM


ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HÓA HỌC



VĂN HÓA ỨNG XỬ VỚI NGƯỜI CHẾT CỦA
NGƯỜI JARAI Ở GIA LAI
TIỂU LUẬN VĂN HÓA ĐÔNG NAM Á

GIẢNG VIÊN: GS TS MAI NGỌC CHỪ
HỌC VIÊN: NGUYỄN THỊ THU
LỚP: CAO HỌC VĂN HÓA K12

TP.HCM THÁNG 10 NĂM 2012

2


PHỤ LỤC

3


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Gia Lai nói riêng và Tây Nguyên nói chung hiện nay là địa bàn của các tộc
người bản địa và cả người Kinh di cư từ các vùng miền sinh sống xen kẽ. Trong quá
trình tiếp xúc, giao lưu giữa các tộc người, sự khác biệt văn hóa có thể trở thành

học, xã hội học cũng như văn hóa học quan tâm. Văn hóa ứng xử với người chết của
tộc người này cũng được các học giả nghiên cứu theo các hướng:
-

Trong hệ thống nghi lễ vòng đời người Jarai với các công trình tiêu biểu là Nghi lễ
đời người Jarai Tbuăn (2011) hay Nghi lễ và lễ hội của các tộc người thuộc nhóm
Malayo-Polynesian ở Việt Nam (2011). Chính vì đặt trong của hệ thống nghi lễ đời
người nên những ứng xử với người chết thế hiện qua các nghi lễ tang ma chưa

-

được nghiên cứu chuyên sâu.
Nghiên cứu riêng biệt, đặc biệt tập trung nhiều vào lễ bỏ mả mà tiêu biểu là các
công trình của Ngô Văn Doanh: Lễ bỏ mả Bắc Tây Nguyên (1995), Bơthi - Cái chết
được hồi sinh (Lễ bỏ mả và nhà mồ Bắc Tây Nguyên) (2007) hay Bơthi - Cái chết
được hồi sinh (2011). Lễ bỏ mả cũng là nội dung của đề tài luận văn thạc sĩ Khoa
học Văn hóa: Lễ bỏ mả của người Jarai M’Thur – một giá trị văn hóa (1997) của
Nay Kỳ Hiệp – Đại học Văn hóa Hà Nội. Đây là những công trình tập trung nghiên
cứu về lễ bỏ mả, nhà mồ và tượng nhà mồ của dân tộc Jarai nhưng lại tập trung
làm rõ các giá trị thuộc các khía cạnh văn hóa khác nhau (văn học dân gian, điêu
khắc, kiến trúc, âm nhạc, múa...)
Nhìn chung, mỗi công trình với phương pháp tiếp cận và mục đích nghiên cứu
khác nhau nên chưa đi sâu phân tích đặc điểm trong văn hóa ứng xử với người
chết. Vì thế, đây sẽ là vấn đề mà đề tài sẽ cố gắng tập trung làm rõ.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: văn hóa ứng xử với người chết trong phạm vi như
sau:
-

Chủ thể của đối tượng nghiên cứu: tộc người Jarai.

của tổ tiên ở nơi có nhiều thác ghềnh của 1 con sông nào đó: Ia Yun, Ia Pa, Ia Ly 2.
Kinh tế: sống chủ yếu dựa vào nương rẫy, khai thác các sản phẩm của núi
rừng bằng săn bắn, hái lượm. Có thể nói, rừng là phần hữu cơ quan trọng của văn
hóa c các tộc người ở Gia Lai nói chung và tộc người Jarai nói riêng. Chăn nuôi giới
hạn trong phạm vi gia đình, thả rông, chủ yếu dùng để cúng lễ.
Đơn vị cư trú, cũng là đơn vị xã hội cơ bản của là buôn. Xã hội mới chỉ phân
hóa giàu nghèo, chưa phân hóa giai cấp 3.
Thiên nhiên đối với người Jarai thật ưu đãi và cũng gây không ít bất lợi.
Trong 1 môi trường như vậy, trải qua hàng nghìn năm, họ tìm ra cho mình cách
2 Đặng Nghiêm Vạn (cb) 1981 – Các dân tộc tỉnh Gia Lai – Công Tum – Hà Nội: NXB Khoa học Xã
hội, tr.53.
3 Bùi Xuân Đính 2012 – Các tộc người ở Việt Nam – TP HCM: NXB Thời đại, tr.219.
6


sống hòa hợp với núi rừng. Nguyễn Từ Chi đã khái quát những đặc trưng của nếp
sống người Tây Nguyên vào 1 khái niệm: “ chủ nghĩa nhân văn” Thượng. Sống
trong điều kiện đó, luôn phải cầu các thần linh giúp đỡ trong mọi công việc. Trong
một chừng mực nào đó, có thể nói người Thượng là những người vật linh giáo: thờ
phụng mọi vật, coi mọi vật đều có sinh linh như con người. Ý niệm về thần (Yang) ít
nhiều còn thô phác . Ngay cả linh hồn người chết cũng được người Tây Nguyên coi
là thần – thần ma (Yang Atâu). Trong những dịp lễ, đặc biệt là bỏ mả, người ta
cũng cầu nguyện các thần ma như cầu nguyện các thần linh khác 4.
2. Nghi lễ và lễ hội liên quan đến tang lễ của người Jarai
2.1.

Quan niệm về ma chay, cái chết và phân loại cái chết

Người Jarai quan niệm, khi sống, mỗi người đều có hồn (m’ngắt) và khi chết,
hồn người chết lập tức biến thành ma (atâu). Người ta tiến hành làm ma chay (nga

chuyển biến này theo chu trình: “Đất – người – ma – đất, Người – ma – người” 7.
Chu trình này lấy đất làm khâu chuyển tiếp để thể hiện ý niệm về sự tuần hoàn liên
tục của một con người: họ đi rồi về từ thế giới người sang thế giới ma và ngược lại.
Khâu chuyển tiếp làm cho người chết sinh thành sang thế giới bên kia là lễ hội bỏ
mả. Chính vì thế mà người Jarai cũng như các tộc người thiểu số ở Tây Nguyên nói
chung đều không sợ những người chết lành và có tục làm lễ bỏ mả cho người chết.
Chỉ khi cảm thấy đỡ nhớ thương, nhất là mọi điều kiện vật chất đã được chuẩn bị
đầy đủ thì gia đình và làng xóm mới làm lễ bỏ mả.
Dựa trên sự phân biệt giữa cái chết bình thường (hợp quy luật: già yếu, ốm
đau, bệnh tật…) và không bình thường (chết dữ, chết bất đắc kỳ tử, không thuận với
tự nhiên, do tai nạn), nghi lễ tang ma cũng được phân loại thành đám tang của
người chết bình thường và người chết không bình thường 8:
-

Đám tang người chết không bình thường: thường bị quan niệm là điềm gở, do bị
thần trừng phạt nên có thể mang lại tai họa cho cả làng. Người Jarai rất sợ dạng
chết này và không cho đem xác người chết vào làng mà phải đặt ngoài rừng, chôn ở
nghĩa địa khác làng. Thành phần tham dự đám tang cũng như thời gian diễn ra,
các nghi thức tang ma cũng hạn chế chứ không đầy đủ như người chết bình
6 Lê Như Hoa (cb) 2002 – Văn hóa ứng xử các dân tộc Việt Nam –Hà Nội: NXB Thông tin, tr.301-

303.
7 Bùi Xuân Đính 2012 – Các tộc người ở Việt Nam – TP HCM: NXB Thời đại, tr.222.
8 Nguyễn Xuân Phước 2011: Nghi lễ đời người Jarai Tbuăn – Hà Nội: NXB Văn hóa Dân tộc, tr.106,

107, 116.
8


thường. Đồng thời, không dựng nhà mồ và lễ bỏ mả cũng được tiến hành ngay một

mang tính nghệ thuật nhất” 9, thường tiến hành sau ba năm, sớm nhất là sau một
năm kể từ lúc chôn, là lễ cuối cùng trong tang lễ. Lễ được tổ chức nhằm vào thời
điểm nông nhàn, được xem là đỉnh điểm của mùa lễ hội. Vì thế, người Giarai có câu
“Bơlan ning nông thông atâu” (tháng nghỉ đi chơi lễ bỏ mả).

9 Lê Như Hoa (cb) 2002 – Văn hóa ứng xử các dân tộc Việt Nam – Hà Nội: NXB Thông tin, tr.318.

9


Với quan niệm khi chết đi, linh hồn người chết sẽ sang sống ở thế giới bên kia
của tổ tiên nên người Jarai còn làm lễ bỏ ma (hay bỏ mả) để tiễn đưa linh hồn
người chết ra đi về thế giới của họ hay để chuyển sang trạng thái sống cho người
chết. Từ đây, linh hồn người chết được hồi sinh để về với ông bà tổ tiên, tồn tại
trong một không gian mới, đồng thời người sống cũng được giải phóng khỏi những
ràng buộc với người chết, hai bên không còn liên hệ gì với nhau nữa. Người sống
cũng vĩnh viễn bỏ luôn nhà mả, không còn đến thăm. Bởi thế mà ở cộng đồng tộc
người này không làm đền miếu, lăng tẩm hay bàn thờ cúng sau khi đã làm lễ bỏ mả.
Bên cạnh đó, đây cũng là lễ hội thể hiện nhiều nghệ thuật truyền thống độc đáo. Để
người chết ra đi thanh thản, người thân cũng như cả cộng đồng thường làm lễ bỏ
mả với tất cả khả năng vật chất và tinh thần của mình. Các công đoạn từ tang lễ
cho đến lúc làm lễ bỏ mả bao giờ cũng là công việc chung của cả làng, không thành
viên nào được lơ là.
Trước đây, lễ bỏ mả được tổ chức với quy mô lớn hơn, kéo dài từ bảy đến
mười ngày. Nhưng hiện nay, do chịu nhiều tác động của hoàn cảnh khách quan mà
chủ yếu là do điều kiện kinh tế nên chỉ kéo dài khoảng ba ngày, nhiều nhất khoảng
bảy ngày. Tuy vậy, ba bước của lễ hội bỏ mả luôn phải được thực hiện đầy đủ và
tuần tự, bao gồm: dựng nhà mả, làm lễ bỏ mả và lễ giải phóng cho người sống.
Trong đó, bước thứ hai – làm lễ bỏ mả là quan trọng nhất. Vì thế mới gọi là lễ ăn bỏ
ma hay lễ ăn bỏ mả.

mặt nạ để sử dụng trong buổi lễ bỏ mả ngày hôm sau.
Tuy chưa vào ngày lễ chính thức nhưng suốt cả ngày và đêm hôm đó, cả dân
làng đều ra khu nghĩa địa phụ giúp và vui chơi ăn uống rất nhộn nhịp. Sau khi dựng
xong nhà và tượng, mọi người ăn uống, đánh cồng chiêng và nhảy múa thâu đêm,
suốt sáng chờ đến lễ bỏ.
Khác với các lễ hội khác chỉ diễn ra trong phạm vi từng gia đình hay trong
khuôn khổ một làng thì lễ bỏ mả là hội lễ mang tính liên làng, cả những buôn gần
lẫn buôn ở xa 11.
Thứ hai là làm lễ bỏ mả.
Thường bắt đầu vào buổi tối của những đêm trăng hoặc là ngày không mưa,
trời đầy sao. Bao gồm các lễ thức:
Lễ thức cúng tiễn biệt người chết: các nghi lễ cúng khóc vĩnh biệt người chết
khá đơn giản, không cầu kỳ nhưng chứa đựng tình cảm của người sống dành cho
10 Lê Như Hoa (cb) 2002 – Văn hóa ứng xử các dân tộc Việt Nam – Hà Nội: NXB Thông tin,tr.319.
11 Ngô Văn Doanh 2010 – Bơ thi cái chết được hồi sinh – Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam – Hà

Nội: NXB Thời đại, tr.39.
11


người đã khuất. Trước thời gian làm nghi thức giải phóng, trong khi mọi người vui
chơi, ăn uống ở bên ngoài thì người thân thường xuyên thay nhau khóc cúng người
chết trong nhà mả.
Lễ thức tiễn đưa linh hồn người chết về hẳn với thế giới tổ tiên: thường được
tổ chức vào ngày thứ 2 của lễ (ngày vỡ - rơi pơchă). Lúc này, dân làng, họ hàng
cũng như khách các nơi đã đông đủ. Người thân vào nhà mả khóc cúng lần cuối
cùng với người chết. Sau đó, cồng chiêng bắt đầu nổi lên, mọi người nhập vào cuộc
tiễn đưa. Lúc này, lễ tiễn đưa như một cuộc trình diễn nghệ thuật tổng hợp và tập
thể độc đáo, phong phú. Đó là sự tổng hợp của diễn viên là tất cả mọi người tham
dự cũng như sự kết hợp của các loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống với:

với người chết được thiêng hóa, khiến việc chôn cất mang dấu ấn tâm linh con
người – một trong những khía cạnh của văn hóa. Tất cả mang đậm tính nhân văn,
thể hiện qua các khía cạnh như:
3.1.

Thể hiện sự công bằng đối với người chết

Thể hiện trên ở:
-

Công bằng giữa tất cả những người chết: dù lúc sống, bản tính con người có thiệc
hay ác hay lúc chết là chết lành hay chết dữ thì người chết đều được làm lễ bỏ mả
không có sự phân biệt (chỉ khác về quy mô và thời lượng dành cho lễ bỏ mả đối với
người chết dữ). Nó chứng tỏ những người sống luôn mong muốn người đã khuất

-

được hồi sinh để sống một cuộc sống tốt đẹp.
Công bằng giữa người sống với người chết:
Thể hiện ở việc nuôi ma trong thời gian làm lễ bỏ mả. Đó là thời gian linh
hồn người chết ở lại nghĩa địa chứ chưa về với tổ tiên nên người thân thường
mang đồ ăn, thức uống cũng như dọn dẹp mồ mả cho ma như đối với người sống.
Tiếp đó là quan niệm về cuộc sống của con người ở thế giới bên kia và tục
chia của cải cho người chết. Tức là con người dù tồn tại ở thế giới của người sống
hay người chết cũng có cuộc sống như nhau: đều sống, làm việc và chết. Tục chia
của không chỉ là sự chuẩn bị hành trang để người chết sống ở thế giới bên kia mà
còn thể hiện tính công bằng đối với người chết, những gì thuộc về người chết khi họ
từng ở thế giới bên này sẽ không mất đi mà vẫn thuộc về họ khi họ về với thế giới
bên kia.
13

12 Ngô Văn Doanh 2010 – Bơ thi cái chết được hồi sinh – Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam – Hà

Nội: NXB Thời đại, tr.126.
13 Tô Đông Hải 2002 – Nghi lễ và âm nhạc trong nghi lễ của người Jarai – Hà Nội: NXB Khoa học,

tr.98.
14


Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà các sản phẩm kiến trúc và điêu khắc,
những hình thức trình diễn và nhiều hoạt động khác tái hiện lại những hình ảnh
thuộc về quá trình hình thành một sinh linh mới 14.
Việc dựng nhà mồ không thể thiếu tượng nhà mồ. Tượng nhà mồ khá phong
phú về nội dung, chủng loại, phản ánh cuộc sống đầy đủ và chân thực cuộc sống
đương đại và cả dấu hiệu của sự phồn thực... Người Jarai quan niệm tượng này là
để phục vụ cho người chết ở thế giới bên kia. Có giả thuyết cho rằng, thoạt đầu, có
việc chôn nô lệ để hầu người chết, sau đó, những nô lệ thật được thay thế bằng
tượng mồ. Dần dần, ý niệm về sự cần thiết phải có người hầu hạ đi theo người chết
trở thành ý nghĩa và chức năng của tượng mồ 15. Giờ đây, người Tây Nguyên tạc lên
tượng nhà mồ những con người hay những con vật với ước muốn những con người
và vật đó sẽ theo hầu hạ người chết ở thế giới bên kia. Đó là sự gửi gắm của người
sống với người chết cuộc sống của thế giới bên kia – 1 cuộc sống như hiện tại cũng
như thể hiện cả ước vọng về cuộc sống sung túc, phú quí để hồn ma không phải lo
buồn. Những người mang mặt nạ cũng tượng trưng cho ông bà tổ tiên, với sắc thái
vui mừng, phấn khởi vì được đón thêm con cháu của mình.
Ở những buổi lễ lớn thường có hóa trang thành thú, làm kiệu có con rối… và
dựng những hoạt cảnh thể hiện sự hòa quyện giữa đời sống thực và đời sống ma
hòa quyện với hàm ý nhắn nhủ: cái chết không phải là hết mà còn tiếp nối, gắn bó
với sự sống, vì thế khi đón nhận phải biết thanh thản và mừng vui 16.
- Thể hiện ước vọng về sự hồi sinh thông qua các hình tượng mang tính

khuất. Nó biểu hiện ở cả quy mô lẫn tính chất. Đó là sự hết lòng của cả cộng đồng
rộng lớn, không chỉ giới hạn trong nội bộ gia đình, họ hàng hay buôn làng mà nó
còn phạm vi này mở rộng ra cả những buôn làng của người Jarai gần xa. Đó còn là
sự hết lòng ở từng khía cạnh. Nếu bữa ăn thường ngày của người Jarai đơn giản
chỉ gồm cơm và rau với kỹ thuật nấu nướng đơn giản thì bữa ăn cuối cùng với
người chết trong lễ bỏ mả là bữa ăn đặc biệt đa dạng, thịnh soạn, được chế biến và
nấu nướng công phu hơn nhiều. Không lễ hội nào có nhiều món đặc biệt được chế
biến từ thịt như lễ bỏ mả bởi đó là bữa ăn tiễn đưa người chết về với thế giới bên
kia.
Ngay đến nghi thức bỏ mả, cắt đứt quan hệ giữa người sống và người chết
không phải là hành động vô tình vô nghĩa mà cũng mang đầy tính nhân văn, xuất
phát từ mong muốn người chết không lưu luyến gì với cuộc sống ở thế giới cũ, sớm
17 Ngô Văn Doanh 2010 – Bơ thi cái chết được hồi sinh – Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam – NXB

Thời đại HN, tr.65.

18 Ngô Văn Doanh 2010 –

Bơ thi cái chết được hồi sinh – Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam – NXB

Thời đại HN 2010, tr.42.
16


đến được với thế giới của mình để bắt đầu cuộc sống mới. Người Tây Nguyên quan
niệm, khi bắt đầu cuộc sống mới ở thế giới bên kia, người chết sẽ không thể sống
thanh thản và đầy đủ nến thiếu lễ bỏ mả nên họ rất xem trọng lễ bỏ mả .
Mọi lời cúng không chỉ bộc lộ cảm xúc, tình cảm của người sống đối với
người chết mà nó còn có ý nghĩa ma thuật, giúp linh hồn người chết ra đi 1 cách dễ
dàng về thế giới bên kia. Những yếu tố vật chất mà người sống dành cho người chết

năng vốn có của nó. Hay bản thân những ngôi nhà mồ cũng bị thay đổi về nguyên
vật liệu (gạch, xi măng, tôn…) cũng như phong cách trang trí hiện đại (quét vôi,
sơn…), nghiêm trọng hơn là bản sắc kiến trúc dân gian của nhà mồ càng trở nên
nhạt hơn, co hẹp lại và có thể chuyển đổi hoàn toàn sang kiến trúc hiện đại do ảnh
hưởng của người Kinh… Số lượng cũng như chất lượng của các kiến trúc dân gian
đó ngày càng đi xuống và có nguy cơ biến mất vĩnh viễn bởi hoàn cảnh để những
sản phẩm đó ra đời đang dần bị mất đi.

18


KẾT LUẬN
Có thể thấy, những ứng xử đối với người đã khuất của người Jarai là tập hợp
những nghi thức, lễ hội không chỉ mang tính nghệ thuật cao mà còn đầy chất nhân
văn: tái sinh cho người chết và giải phóng cho người sống. Chất nhân văn này khá
linh động. Trong những trường hợp phải chờ nhiều năm mới làm lễ bỏ mả (do tục
chôn chung quy định), phong tục vẫn cho phép từng gia đình có thể làm lễ bỏ mả
riêng (lễ nhỏ) trước khi có thể làm lễ bỏ mả chung để người sống được giải phóng
khỏi mọi ràng buộc với người chết.
Những nguy cơ đặt ra báo động sự mai một của văn hóa tộc người đã và
đang đặt ra một vấn đề cấp thiết đòi hỏi sự tự ý thức lưu truyền, gìn giữ những giá
trị văn hóa truyền thống của đồng bào Jarai cũng như sự quan tâm của chính
quyền địa phương trong việc nhận thức những giá trị văn hóa tộc người thiểu số để
có kế hoạch, chính sách bảo tồn và phát triển những giá trị văn hóa địa phương
trong quá trình phát triển.

19


Tài liệu tham khảo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status