SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY
VÀ HỌC TRONG TRƯỜNG TIỂU HỌC”
PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
I. CƠ SỞ KHOA HỌC
1. Cơ sở lý luận
Nhân loại đang đi vào thế kỷ mới với những điều lo âu và những điều hy vọng. Ở
mọi quốc gia, dù là quốc gia phát triển hay đang phát triển giáo dục luôn luôn ở vị trí tiêu
điểm của sự phát triển. Chính sách giáo dục được coi là chính sách ưu tiên Quốc gia
nhằm tạo gia tốc cho sự phát triển. Nó là chìa khoá để đất nước phát triển kinh tế, xã hội,
văn hoá, khoa học, chính trị hài hoà đồng bộ cân đối với nhau. Bài học thành công của
các cuộc cải cách giáo dục ở nhiều quốc gia là ở chỗ quốc gia có được một quan điểm
đúng đắn và hiện thực hoá thành các chính sách năng động khi xác định được là sức
mạnh của quá trình phát triển.
Giáo dục ngày nay được coi là nền móng của sự phát triển khoa học kỹ thuật và
đem lại thịnh vượng cho nền kinh tế quốc dân, vì lẽ đó có thể giáo dục đồng nghĩa với sự
phát triển và có thể khẳng định rằng không có giáo dục thì không có bất cứ sự phát triển
nào đối với con người, đối với kinh tế, văn hoá. Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam tại
điều 35 quy định: "Giáo dục Đào tạo là quốc sách hàng đầu" để tạo nguồn nhân lực đáp
ứng nhu cầu kinh tế - xã hội. Do vậy, chất lượng giáo dục phải được nâng cao đáp ứng
nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Một trong những giải pháp để nâng cao
chất lượng giáo dục là phải nâng cao chất lượng công tác quản lý giáo dục. Chiến lược
giáo dục Việt Nam đến 2020 đã coi giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý giáo
dục là một giải pháp đột phá.
Giáo dục nước ta qua 20 năm đổi mới đã thu được những thành tựu quan trọng. Hệ
thống giáo dục bước đầu đã đa dạng hoá về loại hình, phương thức đào tạo, từng bước
III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Giáo viên và học sinh Trường Tiểu học Dị Chế.
- Những biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở trường Tiểu học Dị
Chế.
IV. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài tập trung nghiên cứu các biện pháp quản lý của người quản lý nhằm nâng cao
chất lượng dạy học ở Trường Tiểu học Dị Chế.
V. KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU:
Bắt đầu nghiên cứu từ tháng 10/ 2013 cho đến tháng 2/ 2014
VI. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Để giải quyết các nhiệm vụ vừa nêu ở trên, tôi đã sử dụng đồng bộ các phương pháp:
1. Phương pháp nghiên cứu lý luận:
Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan tới việc quản lý dạy và học.
2. Phương pháp điều tra:
+ Điều tra về giáo viên.
+ Điều tra về học sinh.
3. Phương pháp thực nghiệm:
Áp dụng những lý luận về quản lý dạy và học vào việc quản lý dạy học của giáo
viên trường tiểu học Dị Chế .
4. Phương pháp quan sát
Dự giờ dạy của giáo viên
5. Phương pháp thống kê toán học:
Sử lý các số liệu và kết quả thu được trong quá trình nghiên cứu.
VII. Thời gian hoàn thành: 1/ 3/ 2014
II.VAI TRÒ CỦA NGƯỜI THẦY TRONG VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
GIÁO DỤC
Nước ta đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Công cuộc đổi
mới của nước ta đang trải qua nhiều chặng đường, với từng bước đi thích hợp. Đảng ta
chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.Trong quá trình
đó, việc xây dựng một con người Việt Nam vừa có đức, vừa có tài, vừa hồng, vừa chuyên
đáp ứng yêu cầu xã hội là một việc làm cần thiết và quan trọng hơn bao giờ hết. Để làm
được điều đó, không thể không nhắc đến vai trò của người thầy trong sự nghiệp này.
Ở xã hội nào cũng vậy, vai trò của người thầy luôn được đánh giá cao. Người thầy
giúp định hướng hình thành nhân cách ở mỗi con người, góp phần xây dựng những nhân
tài của thế hệ tương lai. Trong sự nghiệp giáo dục, hơn ai hết vai trò của người thầy được
xem là tâm điểm ,bởi vậy ở nước ta không phải ngẫu nhiên mà có một ngày để tôn vinh
Nhà giáo - Ngày 20.11, bởi lẽ những gì mà người thầy đã đóng góp và cống hiến cho xã
hội là không thể tính đếm được.
CHƯƠNG II
ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH NHÀ TRƯỜNG
1. Vài nét về Trường Tiểu học Dị Chế
Trường Tiểu học Dị chế đóng trên địa bàn thôn Dị Chế - xã Dị Chế - huyện Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên.
Năm học 2013- 2014 trường có 476 học sinh, được chia làm 18 lớp từ khối 1 đến khối
5.
KHỐI
SỐ LỚP
SỐ HỌC SINH
1
5
81
476
Nhìn chung học sinh ngoan, chăm học, có ý thức kỉ luật tốt “ Kính thầy, yêu bạn”.
Nhiều phụ huynh rất quan tâm đến việc học tập của con em mình.
Tổng số cán bộ giáo viên và công nhân viên của trường: 36 đ/c, trong đó:
Ban Giám hiệu:3 đ/c
Văn thư Kế toán:01 đ/c
Đồ dùng thư viện: 01 đ/c
Giaó viên: 33 đ/c( GV Văn hoá:28, Âm nhac: 01, Mĩ thuật: 01, Tiếng Anh:02)
• Bảng thống kê về số lượng, chất lượng học sinh đầu năm học 2013 -2014 như
sau:
T/Số Giới tính
476
Hạnh kiểm
Học lực
Na
m
Nữ
Đ
CĐ
Chuyên môn
20- 3029 39
4049
5960
TC
CĐ ĐH
Tốt Kh
á
TB
06
04
0
7
17
10
“thao giảng” chào mừng các ngày kỉ niệm trong năm học như 20-10, 20-11, 8-3, 26-3,...
- Một số đồng chí còn lúng túng trong việc sử dụng đồ dùng dạy học, trình độ tin
học và sử dụng máy tính còn hạn chế do vậy gặp khó khăn khi ứng dụng công nghệ thông
tin vào giảng dạy.
- Nhà trường chưa có biện pháp quản lý tốt nhằm đẩy mạnh chất lượng buổi sinh
hoạt chuyên môn, nội dung sinh hoạt tổ phần lớn chỉ dừng lại ở mức thông báo các chủ
trương, kế hoạch của nhà trường cũng như của Phòng GD_ ĐT.
Để khắc phục những mặt còn hạn chế đó tôi đã nghiên cứu và tìm ra những biện
pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở Trường Tiểu học Dị Chế.
CHƯƠNG III
NHỮNG BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC
1) Quản lý thực hiện nội dung chương trình
Chương trình dạy học là pháp lệnh của nhà nước do Bộ giáo dục ban hành. Người
quản lý phải nắm vững và làm cho toàn thể giáo viên cùng nắm vững. Với tư cách là
người lãnh đạo và chịu trách nhiệm cao nhất về chuyên môn trong nhà trường, người
quản lý phải điều khiển hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò theo những yêu
cầu, nội dung, hướng dẫn của chương trình dạy học. Sự nắm vững chương trình dạy học
của người quản lý là một đảm bảo đầu tiên để quản lý giáo viên thực hiện tốt chương
trình dạy học.
Muốn đựơc như vậy, ngay từ đầu năm học, cần phổ biến những thay đổi (nếu có)
về nội dung, phương pháp giảng dạy bộ môn, những sửa đổi trong chương trình và sách
giáo khoa theo cách chỉ thị hướng dẫn giảng dạy bộ môn của bộ giáo dục.
Chỉ đạo các tổ chuyên môn thực hiện chương trình các môn học một cách linh
hoạt, đảm bảo tính vừa sức, phù hợp với thực tế địa phương theo đúng tinh thần công
văn: Hướng dẫn dạy học theo chuẩn kiến thức kĩ năng.
Đối với môn Mĩ thuật, Âm nhạc, Thủ công( Kĩ thuật), Thể dục và hoạt động ngoài
giờ lên lớp, tổ chức dạy học phù hợp với điều kiện về giáo viên, cơ sở vật chất của nhà
trường,coi trọng thực hành vận dụng, giảm các yêu cầu mang tính chuyên nghiệp, kĩ
phát từ thực tế tôi đã trao đổi và chỉ đạo tới giáo viên thực hiện tiến trình soạn giáo án
theo các bước sau:
- Bước 1: Đọc kĩ sách giáo khoa, tóm tắt cuối bài, câu hỏi và bài tập mà sách giáo
khoa đưa ra:
Tóm tắt chính là những kiến thức cốt lõi, câu hỏi và bài tập là những yêu cầu về kiến thức
và kỹ năng của bài cần đạt được
- Bước 2: Xác định mục tiêu, kiến thức trọng tâm, kiến thức cốt lõi của bài:
Có người cho rằng, các kiến thức có trong bài cứ khai thác cho hết, thế là đạt mục tiêu bài
học. Đó chỉ là quan niệm có tính chất đơn giản. Thực tế đây là điều rất quan trọng quyết
định hướng đi của tiết dạy. Nếu xác định đúng bài giảng sẽ trở nên ngắn gọn, tinh giản,
vững chắc, đạt được mục tiêu, nếu xác định không đúng bài giảng sẽ trở nên ôm đồm,
dàn trải, các kiến thức trọng tâm, kiến thức cốt lõi khắc hoạ không rõ nét, phân bố thời
gian không hợp lý, mất nhiều thời gian vào các kiến thức không trọng tâm, không hoàn
thành được khối lượng kiến thức và kỹ năng, không đạt được mục tiêu bài học.
Vậy làm thế nào để xác định đúng mục tiêu, kiến thức trọng tâm, kiến thức cốt lõi
của bài? Điều này đòi hỏi phải đọc kĩ nội dung sách giáo khoa và xác định vị trí của bài
trong hệ thống kiến thức của chương. Trong đó tóm tắt sách giáo khoa, câu hỏi và bài tập
cuối bài là gợi ý tốt về kiến thức trọng tâm, kiến thức cốt lõi mà học sinh phải nắm được
sau khi học.
- Bước 3: Đọc tài liệu tham khảo về các nội dung liên quan đến bài giảng:
Sách giáo khoa viết rất cô đọng và súc tích. Nếu không dành thời gian thích đáng cho
việc đọc tài liệu tham khảo thì những điều chúng ta trình bày sẽ rất đơn sơ, ít có sức
thuyết phục, điều này thể hiện rõ trong các trường hợp thầy giáo giảng giải các kiến thức,
vận dụng kiến thức vào thực tế. Việc đọc các tài liệu tham khảo về nội dung liên quan
đến bài giảng giúp chúng ta hiểu sâu, hiểu thấu đáo các kiến thức, điều đó làm cho việc
trình bày bài giảng được thực hiện một cách tự tin, chính xác, sâu sắc. Tuy nhiên, trong
giờ giảng chỉ trình bày ở một mức độ nhất định phù hợp với mục tiêu và yêu cầu của bài.
Có giáo viên để thể hiện bài giảng sâu bằng cách đưa vào bài giảng quá nhiều ví dụ,
Để kiểm tra và đánh giá việc soạn giáo án của giáo viên, hàng tuần BGH duyệt giáo
án theo lịch, đánh giá cho điểm công khai và rút kinh nghiệm trực tiếp với giáo viên.
Để tạo phong trào thi đua, trường đẫ tổ chức thi Giáo án và trưng bày vào đợt
20/11, sau đợt thi có đánh giá nhận xét, xếp loại cụ thể, chính xác, công bằng. Bộ giáo án
của các đ/c: Lương Thị Hường, Vũ Thị Khải (Khối1), Nguyễn Thị Lan Anh , (Khối 2),
Nguyễn Thị lựu ( Khối 3), Nguyễn Thị Nhuận ( Khối 4), Trần Thị Minh Tâm, ( Khối 5),
….đã được triển lãm trong toàn trường.
Qua các việc làm trên, tôi thấy ở trường tôi các đồng chí giáo viên đã thực hiện rất
nghiêm túc việc soạn bài, chất lượng bài soạn được nâng cao. Qua các đợt kiểm tra của
Phòng Giáo dục trường được đánh giá là có nhiều hồ sơ tốt, bài soạn đã đi sâu vào đổi
mới phương pháp và nêu được trọng tâm chính của bài, nâng cao chất lượng giảng dạy
các môn học. Kết quả cụ thể: Hồ sơ sổ sách có: 17 bộ xếp loại tốt, Khá :8 bộ, Trung
bình: 5 bộ .
b.Để tiết dạy thành công đòi hỏi:
- Giờ giảng phải thể hiện được các yêu cầu đã nêu trong giáo án, sinh động, phân bố
thời gian hợp lý, phát huy được tính tích cực của học sinh.
- Lời nói, trình bày của người thầy phải sinh động: việc tạo cho giờ dạy có tính sinh
động có ý nghĩa cực kì quan trọng giup học sinh tiếp thu hào hứng, đưa lại hiệu quả cao,
người ta thường gọi đó là bài giảng có hồn. Có lớp giờ giảng diễn ra một cách nhạt nhẽo,
buồn tẻ, nặng nề, mặc dù hoàn thành nhưng hiệu quả rất thấp, những dấu ấn của bài giảng
để lại trong trí não học sinh rất mờ nhạt, đó là những bài giảng không có hồn.
Sự sinh động trong tiết học liên quan đến rất nhiều yếu tố: chuẩn bị bài kĩ lưỡng,
nắm chắc, hiểu sâu, biết rộng những điều trình bày, lòng yêu nghề, tinh thần trách nhiệm
đối với học sinh và xử lý các tình huống sư phạm linh hoạt. Sự hào hứng trong lời giảng
của thầy sẽ khơi dậy, lôi cuốn sự hào hứng tiếp thu và xây dựng bài của học sinh.
- Phân bố thời gian hợp lý với yêu cầu từng phần, từng đơn vị kiến thức làm cho bài
giảng hài hòa cân đối.
- Tinh giản bài giảng: thể hiện ở chỗ các nội dung kiến thức được trình bày ngắn
gọn, vừa đủ, không đưa vào các vấn đề phức tạp không cần thiết, không phù hợp với yêu
cầu bài dạy và trình độ học sinh. Các ví dụ và hình ảnh minh họa cho bài giảng phải thật
năng lực giỏi, tận tụy và tâm huyết với nghề nghiệp vẫn không dám nói rằng tất cả các
giờ dạy đều thành công.Tuy nhiên với lòng yêu nghề, tinh thần trách nhiệm, làm việc có
phương pháp, luôn có chí tiến thủ chúng ta sẽ ngày càng có nhiều giờ dạy có hiệu quả cao
và tự tin khi đứng trên bục giảng.
3) Tăng cường công tác dự giờ thăm lớp
Dự giờ thăm lớp là một việc làm hết sức quan trọng đối với nhà quản lý chuyên môn
và giáo viên nói chung .Bởi vậy kế hoạch dự giờ cần được xây dựng dưới nhiều hình
thức: Báo trước, không báo trước, dự giờ song song, dự giờ có mời đồng nghiệp cùng dự,
…
Để xây dựng kế hoạch dự giờ hiệu quả thiết thực người CBQL cần bám sát phân
phối chương trình, chẳng hạn dự khối 1 vào thời gian nào? nhằm tháo gỡ vấn đề gì? VD:
dự vào tiết nào? Hay khối 2 dự môn Toán bài nào? ,…
Để xây dựng kế hoạch dự giờ cần dựa trên việc phân loại tay nghề nghiệp vụ sư
phạm GV.Đối với GV đầu đàn của trường thì dự tiết nào mà CBQL cho là khó dạy để
xem GV tháo gỡ chỗ vướng đó như thế nào? Đối với GV mới ra trường hay chuyển khối
thì cần dự những tiết chuyển từ dạng bài này sang dạng bài khác xem GV đó có nắm chắc
tiến trình lên lớp hay không? Hay dự tiết dạy lí thuyết, tiết dạy thực hành xem GV đó
truyền tải nội dung bài ra sao? Đối với GV tay nghề chưa vững cần thường xuyên dự giờ
để GV luôn luôn chuẩn bị tâm thế cũng như ý thức đối với nghề nghiệp hơn.
Căn cứ vào thời khoá biểu trên lớp của mỗi giáo viên, phó hiệu trưởng cùng với các
tổ trưởng chuyên môn lên lịch dự giờ cụ thể cho mỗi giáo viên. Trước đây các giờ trống,
mọi người thường không biết làm gì thì nay đã có lịch cụ thể để giáo viên đến dự giờ các
đồng nghiệp. Việc làm này đã giúp giáo viên tự giác, tích cực hơn rất nhiều trong hoạt
động dự giờ. Nếu như trước đây giáo viên e ngại không đến dự giờ đồng nghiệp vì làm
họ mất tự nhiên và nhiều người không thông cảm cho rằng người đi dự là tinh vi này
nọ,... thì nay giáo viên đã chủ động hơn vì có lịch cụ thể. Đây là một hoạt động theo
chúng tôi là rất có hiệu quả, người dạy thì chủ động về bài dạy do đó chất lượng bài dạy
sẽ cao hơn rất nhiều.
Bồi dưỡng năng lực tổ chức, điều hành cho đội ngũ tổ khối trưởng, những người
chủ trì các buổi SHCM vì thực tế cho thấy 1 buổi SHCM thành công phụ thuộc rất nhiều
vào khả năng và chuyên môn của người điều hành.
Tổ trưởng chủ động thiết kế nội dung, duyệt với phó Hiệu trưởng trước 3 ngày.
Khi đó, tôi mới tư vấn cho tổ trưởng về nội dung để đảm bảo tính kế hoạch của nhà
trường. Coi trọng sự chủ động, sáng tạo của tổ trưởng và giáo viên trong tổ chứ không áp
đặt.
Trong chuyên đề này, tôi mạnh dạn giới thiệu một số mô hình mà các tổ chuyên môn
đã thực hiện thành công như sau:
Mô hình 1. Thảo luận để nắm vững và vận dụng vào thực tiễn công tác những văn
bản chỉ đạo như công văn 896/BGD&ĐT-GDTH ngày 13/2/2006 về đổi mới công tác
quản lí, phân quyền tự chủ, tăng cường trách nhiệm cho hiệu trưởng và giáo viên; chỉ đạo
điều chỉnh nội dung dạy học sao cho phù hợp với đối tượng học sinh trên cơ sở đảm bảo
chuẩn kiến thức, kĩ năng cơ bản theo quy định;, …Thảo luận, tìm biện pháp có hiệu quả
để phụ đạo học sinh yếu hoàn thành kiến thức, kĩ năng cơ bản, sử dụng thiết bị dạy học,
thiết kế phiếu học tập, cách hình thành động cơ học tập cho học sinh…
Mô hình 2. Cả tổ chuyên môn dự giờ 1 tiết, rút kinh nghiệm một cách tỉ mỉ, cụ thể
từ phương pháp dạy học, hình thức tổ chức đến điều kiện trang thiết bị dạy học, tình hình
thực tế của học sinh trong tổ.
Mô hình 3. Nghiên cứu, thảo luận 2- 4 tiết dạy khó trong 2 tuần kế tiếp.
Mô hình 4. Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học. Nội dung này là một phần
trong kế hoạch thực hiện phong trào thi đua "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh
tích cực" và thực hiện nhiệm vụ năm học "Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào
quản lí và dạy học". Căn cứ tình hình thực tế, tôi chỉ đạo làm từ bước khởi điểm, đó là
bồi dưỡng cho giáo viên đã biết soạn thảo văn bản tập soạn giáo án điện tử, khi đã tương
đối thành thạo tôi chỉ đạo thảo luận, trao đổi kĩ thuật làm sao cho nhanh, dễ sử dụng, tiếp
đó đến sử dụng các phần mềm khác như Violet để tạo bài trình chiếu hoặc các bài trắc
nghiệm, các trò chơi học tập…, khai thác mạng tìm tư liệu và hướng dẫn giáo viên tổ
thấm sâu chứ không thể đốt cháy giai đoạn, không thể làm cho năng lực của đội ngũ giáo
viên ngay lập tức nâng cao ngay được. Phải tổ chức, hướng dẫn một cách cụ thể, tỉ mỉ từ
khâu kế hoạch đến nội dung thực hiện từng buổi sinh hoạt tổ chuyên môn. Quản lí cả về
thời gian, thời lượng, quan tâm từ nội dung đến cách tiến hành sinh hoạt tổ chuyên môn.
5) Nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học
Xuất phát từ nhận thức của học sinh tiểu học là :” Từ trực quan sinh động đến tư
duy trừu tượng – từ tư duy trừu đến thực tiễn khách quan” Do vậy trong giờ học việc sử
dụng đồ dùng là rất cần thiết.
Chính vì vậy tôi rất chú ý đến việc GV sử dụng đồ dùng dạy học và chỉ đạo tổ
chuyên môn:
- Thống nhất việc chuẩn bị đồ dùng dạy học cho các tiết của tuần tới (trong điều
kiện nhà trường hiện có).
- Tăng cường sử dụng đồ dùng, thiết bị đã được cấp một cách hiệu quả nhất. Tuyệt
đối không dạy chay( có đồ dùng mà không sử dụng).
-Tổ chức thi sử dụng đồ dùng dạy học.
- Chú trọng kĩ năng sử dụng đồ dùng, bảo vệ đồ dùng sau khi giảng dạy.
- Khuyến khích giáo viên sử dụng phần mềm dạy học, thiết bị dạy học điện tử.
Để đẩy mạnh phong trào ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tôi đã làm
từng bước như sau:
Bước 1: Khuyến khích giáo viên dạy học và soạn giảng có ứng dụng công nghệ
thông tin, có thể lúc đầu là những tiết dạy trong hội giảng được sự hỗ trự của nhữnh giáo
viên có tay nghề vi tính tốt.
Bước 2: Nhân điển hình bằng việc tuyên dương những tiết dạy có ứng dụng công
nghệ thông tin, tuyên dương những giáo viên đi đầu trong việc tiếp cận công nghệ thông
tin.
Bước 3:Trong hội giảng hoặc dự giờ toàn diện có cộng điểm ưu tiên.
Bước 4: Giao cho các tổ chuyên môn mỗi tháng soạn 01 giáo án điện tử, BGH bố
- Tham mưu với hiệu trưởng chỉ đạo bộ phận thư viện nhà trường đặt mua các loại
sách báo tạp chí, tập san, sách tham khảo chuyên môn để giáo viên tham khảo.
- Khuyến khích động viên phong trào viết sáng kiến kinh nghiệm, làm đồ dùng dạy
học. Cần tổ chức nghiệm thu SKKN một cách nghiêm túc và những SKKN cần được áp
dụng vào thực tế của nhà trường.
- Động viên Gv học tin học : học tại các trung tâm- nhà trường hỗ trợ một phần
kinh phí. Năm học 2008- 2009 nhà trường có 9 giáo viên biết sử dụng máy vi tính. Cho
đến nay trường đã có 21 cán bộ giáo viên sử dụng thành thạo máy vi tính.
b. Bồi dưỡng ngắn hạn:
Cử Gv tham dự các lớp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ ngắn hạn do Sở, Phòng
GD tổ chức.Sau khi tham dự phải phổ biến, áp dụng. Năm học 2010- 2011 trường đã cử 7
đồng chí tham dự lớp bồi dưỡng ngắn hạn do Sở GD- ĐT tổ chức. 100% GV được bồi
dưỡng tại huỵên do Phòng GD- ĐT tổ chức.
c .Học các lớp đào tạo bồi dưỡng từ xa, lớp học tập trung
Bố trí, tạo điều kiện cho GV tham dự các lớp học từ xa để nâng cao trình độ trên
chuẩn.(Tính đến năm học 2013- 2014 nhà trường có 2 đ/c theo học lớp học ĐH tập
trung).
7) Xây dựng một tập thể Sư phạm đoàn kết, thân ái
Để nâng cao chất lượng dạy học ở nhà trường , BGH cần phải động viên tinh thần
chủ động tích cực, tự giác của mọi thành viên trong nhà trường, tạo ra bầu không khí cởi
mở tin cậy lẫn nhau, giúp đỡ nhau hoàn thành nhiệm vụ làm sao cho mọi người cảm thấy
được và thực sự xem ngôi trường mình dạy như “ ngôi nhà thứ hai”.Tôi đã kết hợp cùng
với các đ/c trong BGH tiến hành một số hình thức sau:
- Tổ chức các ngày lễ, ngày kỉ niệm trong năm nhằm đem lại bầu không khí vui vẻ,
tình đồng nghiệp và gắn bó với nhà trường. Xây dựng quỹ phúc lợi xã hội nhằm tổ chức
các hoạt động vui chơi, giải trí như: Đi du lịch, nghỉ mát vào các ngày lễ, nghỉ hè nhằm
gắn kết hơn nữa tình đồng nghiệp giữa các giáo viên trong tập thể Sư phạm. Tuỳ vào điều
kiện kinh tế mà nhà trường có những món quà nhỏ để tặng giáo viên, nhân viên trong
Năm học 2011 - 2012:
Trường tiểu học Dị Chế luôn phấn đấu và giữ vững danh hiệu tập thể lao động tiên
tiến và Lần đầu tiên được UBND huyện tiên lữ tặng cờ có thành tích xuất sắc trong
phong trào thi đua của nghành.
* Chất lượng hai mặt giáo dục của HS:
T/Số
Giới tính
Hạnh kiểm
Học lực (Cuối năm)
Nam Nữ
425
219
Đ
206 423
CĐ
Giỏi
Khá
T/B
Hạnh kiểm
Học lực (Cuối năm)
Nam Nữ
Đ
CĐ
Giỏi
Khá
T/B
Yếu
2
111
180
135
12
241
Đ
CĐ
Giỏi Khá T/B Yế
u
0
128
Na
m
Nữ
289
187 476
178
128
42
- Tham dự Hội thi ATGT Bậc tiểu học đạt giải nhì cấp cụm :
- Đạt danh hiệu GV dạy giỏi cấp huyện có 2 đ/c đoạt giải nhì đó là :
+ Đồng chí: Nguyễn Thị Hinh - Khối 3
độ chuyên môn, toàn tâm, toàn ý phục vụ sự nghiệp giáo dục. Đồng thời phải có những
biện pháp quản lý hoạt động dạy học của đội ngũ giáo viên hợp lý .
Muốn đạt được hiệu quả giáo dục tốt nhất mỗi thầy cô giáo phải chọn cho mình
những phương pháp dạy học và giáo dục hết sức linh hoạt, phù hợp với đối tượng học
sinh và điều kiện thực tế của trường. Mỗi cán bộ, giáo viên của nhà trường phải đặt mình
vào vị trí là người chèo thuyền mà học sinh là khách trên thuyền. Ta phải làm gì để đưa
thuyền vượt qua sóng to, gió lớn để cập bến thành công? Cho nên cần phải có sự đoàn
kết, thống nhất cao trong hội đồng sư phạm nhà trường, cùng nhau phối hợp nhịp nhàng
và giúp nhau vượt khó..Có như vậy, chung ta mới đáp ứng được những nhiệm vụ mới
đang đặt ra trong sự nghiệp giáo dục nước nhà.
Năm học 2013- 2014 là năm học đầu tiên triển khai thực hiện kết luận hội nghị
Trung ương 6 khóa X1 về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam theo hướng
chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế ”. Do vậy đề tài:” Những biện
pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học” có 1 ý nghĩa rất lớn và là việc làm
cần thiết để thực hiện nhiệm vụ trọng tâm của năm học, góp phần thúc đẩy hoạt động
chuyên môn trong nhà trường, tạo ra phong trào thi đua dạy tốt; giúp giáo viên nâng cao
năng lực sư phạm và thúc đẩy được các cá nhân tích cực trong hoạt động chuyên môn của
nhà trường.
II. BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Từ thực tế tôi rút ra bài học :
1.Để làm tốt công tác quản lý đòi hỏi người cán bộ quản lý phải có chuyên môn
nghiệp vụ vững vàng ,có như vậy mới chỉ đạo tốt hoạt động giảng dạy của giáo viên;
đồng thời phải tích cực đi đầu trong việc tiếp cận công nghệ thông tin để có được trình độ
đánh giá giáo viên trong việc dạy học áp dụng công nghệ thông tin.
2.Sử dụng và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên một cách hợp lý.
3.Cần xây dựng được nền nếp soạn, giảng, dự giờ đồng nghiệp và thường xuyên
kiểm tra đôn đốc để đảm bảo chất lượng và tính hiệu quả. Phát huy và ủng hộ sự sáng tạo
của giáo viên trong giảng dạy.
định của nhà trường. Tham gia xây dựng và thực hiện tốt quy định về nền nếp dạy học
của nhà trường.
Đây là Sáng kiến kinh nghiệm của bản thân tôi viết, tuyệt đối không sao chép nội
dung của người khác.
Di Chế, ngày 1 tháng 3 năm 2014
Người viết
Vũ Thị Hoàn