Sáng kiến kinh nghiệm SKKN một số biện pháp tổ chức thực hiện có hiệu quả, công tác đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục, ở một trường THCS vùng ven thành phố - Pdf 39

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÓ HIỆU QUẢ,
CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ VÀ KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO
DỤC Ở MỘT TRƯỜNG THCS VÙNG VEN THÀNH PHỐ”

1


1. Đặt vấn đề:
1.1. Lý do chọn đề tài:
Từ xưa đến nay, dù bất cứ chế độ chính trị xã hội nào đi nữa thì giáo dục vẫn luôn
giữ một vai trò, vị trí quan trọng, bởi vì không có nó thì làm sao nhân cách trẻ có thể hình
thành và phát triển đúng hướng được. Đặc biệt, ngày nay trong công cuộc công nghiệp
hóa và hiện đại đất nước, giáo dục lại giữ một vị trí quan trọng hơn trong việc nâng cao
dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, góp phần vào việc xây dựng một nền
kinh tế trí thức. Tuy nhiên, trong thực tế của nước ta, giáo dục ở các cấp học và trình độ
đào tạo đang phải đối mặt với những khó khăn và thách thức mới, nhất là tình trạng chất
lượng giáo dục chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội trong giai đoạn hiện nay.
Để khắc phục những hạn chế bất cập nêu trên, Bộ Giáo dục và Đào tạo, đã và đang triển
khai đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục, tiếp tục đào tạo và bồi dưỡng
giáo viên, tăng cường cơ sở vật chất (CSVC), và đặc biệt là đẩy mạnh công tác đánh giá
và kiểm định chất lượng giáo dục ở các cấp học, nhằm tạo ra bước chuyển biến mạnh
mẽ về chất lượng giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân. Với vai trò, vị trí quan trọng
và to lớn của GD-ĐT như thế, nên Quốc hội đã nghiên cứu, bàn bạc thống nhất đưa việc
Kiểm định chất lượng giáo dục phổ thông vào Luật. Và được thể chế hóa trong luật giáo
dục (năm 2005 và sửa đổi năm 2009- Điều 17). Như vậy, việc đánh giá và kiểm định chất
lượng giáo dục (KĐCLGD) là một trong những nội dung quan trọng được Bộ GD&ĐT
xác định và tăng cường chỉ đạo thực hiện từ năm 2008 bằng Chỉ thị số 46/2008/CTBGDĐT. Tiếp theo Chỉ thị đó ngày 12/5/2009 Bộ GD&ĐT ra Thông tư số 12/2009/TTBGDĐT Ban hành Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường trung học
cơ sở. Như vậy qua đó có thể thấy tính cấp thiết của các cơ sở giáo dục cần phải đẩy

THCS; Công văn hướng dẫn xác định nội hàm, tìm thông tin (TT) và minh chứng (MC)
để đánh giá chất lượng,… vẫn chưa được thực hiện một cách chu đáo, nghiêm túc, hiệu
quả. Hậu quả là chưa xác định đúng về phương pháp, phạm vi tự đánh giá. Trầm trọng
hơn là xem nhẹ các yêu cầu trong mỗi bước của quy trình 7 bước được quy định tại
Quyết định số 83/2008/QĐ-BGDĐT ngày 31/12/2008 của Bộ GD&ĐT ban hành về quy
trình và chu kỳ kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục phổ thông. Dẫn đến những hạn chế,
bất cập của từng khâu trong thời gián qua, như:
+ Hội đồng tự đánh giá (thực hiện lần đầu tiên năm 2009): số lượng (17/15) dư
thừa quy định, nhưng chất lượng lại thiếu đảm bảo; về Phó Chủ tịch HĐ lại có tới 2
người (2/1)- thừa 1; Thư ký HĐ là người ngang tầm nhưng lại nhiều việc, thiếu thời gian
tập trung tổng hợp mô tả hiện trạng,…
+ Xây dựng kế hoạch tự đánh giá: thiếu tính thực tế; Cơ sở vật chất, thiết bị và tài
chính chưa đáp ứng tốt theo yêu cầu;
+ Viết báo cáo tự đánh giá: chưa tuân thủ quy định như viết một báo cáo khoa học;
phần lớn cách hành văn, văn phong không theo thể thức văn bản hành chính và trôi
chảy… nghiêm trọng hơn là việc xác định nội hàm của chỉ số thuộc tiêu chuẩn chưa đạt,
còn trình bày lan man, không đi thẳng vào việc mô tả nội hàm của chỉ số và trả lời các
câu hỏi,…
- Cũng từ việc xem nhẹ bước nghiên cứu, tổ chức học tập văn bản chỉ đạo, cũng
như khâu tư vấn, tham mưu, tuyên truyền về công tác đánh giá và kiểm định chất lượng
3


giáo dục của lãnh đạo nhà trường nên phần lớn các thành viên trong nhà trường cũng như
đại diện các ban ngành, đoàn thể địa phương chưa hiểu đầy đủ về mục đích ý nghĩa, tầm
quan trọng, về kế hoạch thực hiện và những nguyên tắc, quy trình tiến hành cần phải đảm
bảo; thậm chí một số thuật ngữ, từ ngữ cũng chưa hiểu đúng nghĩa về nó, chẳng hạn như:
+ Từ ngữ “ chất lượng trường THCS ” thường được hiểu là: chất lượng văn hóa
và hạnh kiểm; họ đâu có hiểu theo nghĩa đầy đủ, bao gồm một tập hợp các vấn đề cốt lõi
của nhà trường được quy định tại bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng của Bộ GD&ĐT,



hằng năm của Ngành từ trước tới nay, chưa có mẫu nào đề cập đầy đủ các chi tiết và đảm
bảo đến như thế. Mặt khác đội ngũ CBGVNV không ổn định, thường xuyên luân chuyển,
cho nên việc tìm kiếm, hệ thống, phục hồi thông tin gặp không ít khó khăn, đó là chưa
nói đến trường hợp Hiệu trưởng nhà trường là người mới được điều động hoặc bổ nhiệm
đến.
Với một thực trạng như trên quả là rất khó cho người Hiệu trưởng- người tổ chức,
chỉ đạo thực hiện công tác đánh giá và kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục nói chung và
kiểm định chất lượng THCS nói riêng.
1.3. Giới hạn nghiên cứu của đề tài:
Theo chỉ đạo của Bộ GD&ĐT đối với cơ sở giáo dục phổ thông, tất cả đều phải tiến
hành thực hiện KĐCLGD; mỗi bậc học ngoài những văn bản chỉ đạo chung, còn có
những hướng dẫn riêng.
Là Hiệu trưởng của một trường THCS thuộc vùng ven của Thành phố, do vậy, đề
tài được thực hiện của tôi đối với cơ sở giáo dục phổ thông là trường Trung học cơ sở,
thuộc vùng ven thành.
2. Cơ sở lí luận:
Tự đánh giá trường trung học cơ sở là khâu đầu tiên trong quy trình kiểm định chất
lượng cơ sở giáo dục phổ thông; đây là bước khó nhất, đòi hỏi nhà trường phải có sự đầu
tư lớn và tập trung toàn lực. Nếu làm tốt công tác tự đánh giá và kiểm định chất lượng
giáo dục thì sẽ có tác dụng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đáp ứng yêu cầu phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước. Nhưng đối với cơ sở giáo dục phổ thông ( trường
THCS) tự đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục lại là một việc làm khá mới mẻ với
yêu cầu mang tính khoa học cao; các dữ liệu đưa vào trong báo cáo tự đánh giá không
những được chú ý, cân nhắc về hình thức trình bày ( rõ ràng, đầy đủ, khoa học…), gọt
dũa văn phong (mạch lạc, trôi chảy…), mà còn phải thể hiện tính khoa học cao. Do vậy,
để đảm bảo được các yêu cầu và hoàn thành được công tác tự đánh giá theo đúng sự chỉ
đạo, người đứng đầu cơ sở giáo dục phổ thông phải có sự đầu tư nghiên cứu cách làm,
cách tổ chức thực hiện; xây dựng lộ trình hợp lý, huy động toàn lực lượng đơn vị; tác

theo hướng hiện đại;
- Nhà trường có cảnh quan môi trường xanh, sạch, đẹp và an toàn thân thiện được
cấp trên ghi nhận và đánh giá cao;
- Là trường THCS đầu tiên của thành phố được phép lập và báo Sở GD&ĐT tỉnh
bản đăng ký kiểm định chất lượng giáo dục, đồng thời được cấp có thẩm quyền ra Quyết
định thành lập đoàn đánh giá ngoài cơ sở giáo dục phổ thông tại trường THCS Huỳnh
Thúc Kháng vào tháng 9/2011.

6


4. Nội dung nghiên cứu:
4.1. Người Hiệu trưởng, trước hết phải biết tự nâng cao mình:
Người đứng đầu đơn vị cùng với việc xác định tự đánh giá là nhiệm vụ trọng tâm thì
còn phải thể hiện rõ quyết tâm cao. Để từ đó có kế hoạch tự nâng cao mình về nhận thức,
về trình độ, về kỹ năng quản lý đối với công tác tự đánh giá và kiểm định chất lượng giáo
dục. Đây là yếu tố có tính quyết định đến sự thành công cũng như tính hiệu quả của quá
trình tổ chức, triển khai thực hiện nhiệm vụ. Bởi vì, trong công tác tự đánh giá Hiệu
trưởng nhà trường được quy định là Chủ tịch Hội đồng. Hơn nữa về kiểm định chất lượng
giáo dục thì tự báo cáo chỉ là một trong bốn khâu quy định, tuy nhiên khâu này là quan
trọng nhất, quyết định nhất và được xem như là mới nhất, khó khăn nhất. Bởi vì, nội
dung đầu tiên gửi về phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng Sở GD&ĐT là dự thảo
Báo cáo tự đánh giá của nhà trường. Cũng từ kết quả đánh giá sơ bộ ban đầu về báo cáo
tự đánh giá của nhà trường, thì cấp trên mới ra quyết định thành lập hay không thành lập
đoàn đánh giá ngoài cơ sở giáo dục PT đó. Chính vì thế nếu người đứng đầu nhà trường
thiếu sự hiểu biết về thông tin hay không nắm vững về những nguyên tắc, quy định chỉ
đạo từ các văn bản pháp lý về tự đánh giá thì không thể nào xây dựng được kế hoạch tổng
thể, chứ đừng nói đến việc tổ chức quán triệt văn bản chỉ đạo, nâng cao nhận thức cho
CBGVNV hay tư vấn tham mưu cho các cấp lãnh đạo liên quan. Do vậy, việc đầu tư học
tập, nghiền ngẫm, nghiên cứu các tài liệu, văn bản của cấp trên như: Chỉ thị số

cáo tự đánh giá phải bao quát đầy đủ các tiêu chí trong 7 tiêu chuẩn đánh giá chất lượng
nhà trường. Với các đặc điểm và yêu cầu cao của công tác tự đánh giá như thế, người
Hiệu trưởng ngoài việc nắm vững các yêu cầu quy định trên, còn phải nghiên cứu thực
hiện tốt 7 bước, của quy trình tự đánh giá và cấu trúc của Báo cáo tự đánh giá.
Với mục đích, yêu cầu, ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác tự đánh giá như đã
nêu trên, và để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ ấy, trước tiên người Hiệu trưởng phải xây
dựng cho được một kế hoạch tổng thể khoa học, sát thực tế đơn vị. Trong đó phải thể
hiện mục đích yêu cầu rõ ràng; thành phần tham gia tự đánh giá đúng quy định, nội dungmục tiêu cụ thể; biện pháp tích cực, khả thi (việc đáp ứng các nguồn lực, nhất là về nhân
lực, vật lực, tài lực,…) và tổ chức thực hiện kịp thời. Theo tôi trong kế hoạch ngoài việc
phân công, phân nhiệm rõ ràng, hợp lý còn yếu tố không kém phần quan trọng đó là việc
thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, động viên giúp đỡ tạo điều kiện từ các cá nhân,
tổ chức có trách nhiệm trong nhà trường. Mặt khác kịp thời điều chỉnh kế hoạch nếu cần;
tuyệt đối không được khoáng trắng hay thiếu sự theo dõi giúp đỡ.
4.3. Tăng cường nâng cao nhận thức, kể cả phổ biến kiến thức, những điều phải làm;
cũng như những điều không được làm, phải tránh, trong Phần 2: Tự đánh giá và các kết
quả tự đánh giá, cho CBGVNV và các lực lượng giáo dục khác có liên quan:
Khi đề cập đến các vấn đề cần giải quyết: “ nâng cao nhận thức”, “ phổ biến kiến
thức”, “ Kết quả tự đánh giá, …” thì trước tiên chúng ta phải bổ sung làm rõ những vấn
đề đó, hay nói cách khác phải trả lời được những câu hỏi tương ứng sau: Nâng cao nhận
thức vấn đề gì ? Phổ biến kiến thức gì? Kết quả tự đánh giá ra sao? Cái nào đạt? Chưa đạt
? Và biện pháp cải tiến chất lượng ra sao?
8


Như chúng ta đã biết, muốn có hành động đúng, thì điều trước tiên đối với cá nhân
trực tiếp tham gia vào công việc đó, phải là người có hiểu biết nhất định về vấn đề mà
mình thực hiện ( Mục đích, yêu cầu, quy trình, phương pháp… về tự đánh giá) và ngược
lại ta cũng có thể khẳng định: không có nhận thức đúng thì không thể có hành động đúng.
Do vậy, người Hiệu trưởng phải nghiên cứu, chọn lọc những nội dung quan trọng từ các
văn bản chỉ đạo, những kinh nghiệm chọn lọc để quán triệt, phổ biến làm cho mọi người



cũng như các vấn đề liên quan khác, từ đó tiến hành điều chỉnh các nguồn lực và quá
trình thực hiện nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng).
+ Quy trình tự đánh giá, gồm có mấy bước ? (Thành lập HĐ tự đánh giá; Xác định
mục đích phạm vi tự đánh giá; Xây dựng kế hoạch tự đánh giá; Thu thập, xử lý và phân
tích các thông tin, minh chứng; Đánh giá mức độ đạt được theo từng tiêu chí; Viết báo
cáo tự đánh giá và Công bố báo cáo tự đánh giá)
- Những điều cần lưu ý đối với HĐ tự đánh giá trong phần Tự đánh giá:
Tại Công văn số 7880/BGDĐT về việc hướng dẫn tự đánh giá cơ sở giáo dục phổ
thông của Bộ GD&ĐT, có chỉ rõ gồm 3 phần ( Đặt vần đề, Tự đánh giá và Kết luận) và
trong mỗi phần có các yêu cầu cụ thể. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, thường xem
nhẹ, ít tuân thủ theo hướng dẫn, thậm chí có trường hợp đi quá xa, lạc đề; đơn cử như:
+ Về đặt vấn đề: chưa nêu ra được bối cảnh chung của nhà trường, như về đặc
điểm địa bàn trường đóng, CSVC, vấn đề quản lý chất lượng giáo dục, tài chính…; Mục
đích, lý do, quy trình, phương pháp, công cụ tự đánh giá, v.v…
+ Về tự đánh giá:
* Mô tả hiện trạng: thiếu cụ thể, không rõ ràng hay lan man, thiếu tập trung, thậm
chí có trường hợp lạc đề; cá biệt có trường hợp không bám nội hàm của chỉ số trong tiêu
chí; trầm trọng hơn là có khi bỏ sót không mô tả một vài chỉ số trong một tiêu chí, nhưng
lại vẫn đánh giá tiêu chí ấy đạt. Không ít trường hợp sau khi mô tả thiếu so sánh đối
chiếu với mặt bằng chung của thành phố, hoặc chính nhà trường trong các năm học trước
và với quy định hiện hành. Bất cập hơn là việc mô tả phân tích không đi kèm với các TTMC, mà thường hay dồn chung nhiều MC (2, 3, 4 MC đã được mã hóa) vào phần cuối
cùng của phần mô tả hiện trạng của một chỉ số, làm cho người đọc khó đối chiếu, so
sánh. Có trường hợp tai hại hơn là không đảm bảo kế hoạch, quy trình tự đánh giá, thậm
chí còn làm ngược lại, như: mô tả hiện trạng các chỉ số thuộc tiêu chí trước, rồi mới đi
tìm thông tin, minh chứng áp vào. Như vậy cách làm đó là vi phạm nguyên tắc tự đánh
giá, bởi vì TT-MC ấy không có nguồn gốc rõ ràng, không đảm bảo độ tin cậy. Ngoài ra
còn một số tồn tại hạn chế biểu hiện trong khâu tự đánh giá đó là thiếu tính trung thực,
chạy theo thành tích như: có một số tiêu chí hoặc một số chỉ số trong tiêu chí không đạt

số thuộc tiêu chí, rồi sau đó đánh giá tiêu chí bằng những từ “đạt” hoặc “ không đạt”
Tóm lại, khi hoàn tất Báo cáo tự đánh giá, Hiệu trưởng nhà trường phải bằng nhiều
cách làm cho mỗi CBGVNV nắm được kết quả tự đánh giá. Yêu cầu mỗi tổ chuyên môn,
mỗi bộ phận, mỗi CBGVNV,… phải thấy rõ những điểm mạnh, điểm yếu và những
nguyên nhân của ưu, khuyết điểm đó. Đồng thời thể hiện quyết tâm cao trong việc thực
hiện kế hoạch cải tiến chất lượng đề ra. Có được như vậy thì công tác tự đánh giá chất
lượng giáo dục của nhà trường mới đạt được mục đích yêu cầu đề ra.
4.4. Chủ động học tập, trao đổi kinh nghiệm với các đ/c Lãnh đạo Phòng GD&ĐT, cán
bộ quản lý trường THCS về công tác tự đánh giá, đồng thời tranh thủ sự quan quan tâm
giúp đỡ của các đ/c có giấy chứng nhận hoàn thành lớp tập về kiểm định chất lượng giáo
dục của Tỉnh, hoặc các đ/c trong đoàn đánh gía ngoài của Sở GD&ĐT tỉnh:

11


+ Học tập, trao đổi kinh nghiệm với các đ/c lãnh đạo phòng GD&ĐT TP và cán bộ
quản lý trường THCS: việc nghiên cứu và hiểu văn bản cũng như nắm bắt và xử lý thông
tin là tùy thuộc vào năng lực, điều kiện của mỗi người. Do vậy, để hiểu nhanh, hiểu đúng,
từ đó có biện pháp, cách làm tích cực nhằm giải quyết những vấn đề khó khăn trong văn
bản, trong thực tiễn thì phương pháp tốt nhất là chủ động trao đổi bàn bạc với những
người có trách nhiệm cùng có mong muốn, nhu cầu nghiên cứu, tìm hiểu về những vấn
đề đó ( Tự đánh giá chất lượng GD; công tác kiểm định chất lượng giáo dục trường
THCS). Ta cũng thể coi cách làm đó là phương pháp hoạt động nhóm. Những người đó
không ai khác hơn đó là lãnh đạo Phòng GD&ĐT, là lãnh đạo trường,…
+ Tranh thủ sự quan tâm, giúp đỡ của các đ/c trong đoàn đánh giá ngoài của Sở
GD&ĐT tỉnh: đây là những đ/c không những nắm bắt văn bản chỉ đạo về đánh giá và
kiểm định chất lượng giáo dục rất sâu sắc, rất thông hiểu mà còn là những đ/c được dự
các lớp tập huấn về công tác KĐCLGD của Ngành và cấp gấy chứng nhận; mặt khác rất
có kinh nghiệm trong công tác tự đánh giá, nhất là phần trình bày một báo cáo tự đánh
giá. Bởi vì những đ/c này hầu hết nắm chắc các văn bản chỉ đạo, đồng thời lại có kinh

Sau mỗi tháng, cùng với họp sơ kết chung của HĐSP, Chủ tịch Hội đồng tự đánh
giá phải sơ kết tình hình thực hiện kế hoạch tự đánh giá chất lượng của nhà trường để
phát huy ưu điểm, đồng thời đề ra biện pháp khắc phục tồn tại, bất cập, nhằm đảm bảo
tiến độ thực hiện kế hoạch tự đánh giá đã đề ra. Trong quá trình sơ kết nhất thiết người
Hiệu trưởng (Chủ tịch HĐ) phải biết lắng nghe ý kiến của các thành viên hội đồng, từ đó
có biện pháp giải quyết thấu tình đạt lý. Tuyệt đối không được làm ngơ, hoặc hứa suông
với những đề xuất hợp lý, chính đáng.
4.7. Những điều cần lưu ý:
4.7.1. Sắp xếp hồ sơ minh chứng:
- Trong danh mục mã thông tin và minh chứng:
Một hồ sơ của trường được gọi là minh chứng phải được sắp xếp khoa học và kẹp
lại thành một tập. Ví dụ: những Báo cáo Tổng kết năm học, được sắp xếp theo thứ tự năm
gần nhất ở trên, kế tiếp là năm học liền kề, … kẹp lại thành một tập, phía trước có dán
nhãn, ghi ký hiệu minh chứng ở góc trên, bên phải và được xếp trong một hộp. Ví dụ:
[H2.2.01.07] và chỉ được ghi một lần. Thứ tự mã thông tin minh chứng được sắp xếp từ
nhỏ đến lớn, bắt đầu từ [H1.1.01.01] đến [H1.1.01.02] cho đến mã cuối cùng.
- Sắp xếp trong bản báo cáo: Mỗi mã minh chứng có thể được sử dụng nhiều lần
trong mỗi chỉ số của một tiêu chuẩn; có thể được dùng trong nhiều tiêu chuẩn. Dù dùng
nhiều chỗ, song mã minh chứng cũng được giữ nguyên. Ví dụ: Minh chứng “Báo cáo
tổng kết năm học” được sử dụng lần đầu tiên ở Tiêu chí 2 thuộc tiêu chuẩn 2 và được ký
hiệu [H2.2.01.07]; ở tiêu chí 4 thuộc Tiêu chuẩn 5 có sử dụng minh chứng này thì ở phần
mô tả hiện trạng của tiêu chí 4 Tiêu chuẩn 5 cũng ghi ký hiệu là [H2.2.01.07]. Mã minh
chứng có thể được ghi ngay sau lời mô tả thực trạng cho chỉ số đó. Ví dụ: [H1.2.02.03],
[H1.2.02.04], [H1.2.02.03].

13


- Xây dựng báo cáo tiêu chí, tiêu chuẩn: Quy trình KĐCLGD theo qui định của Bộ
và các trường cũng đang áp dụng là phân công các nhóm chuyên trách. Mỗi nhóm chuyên



4.7.4.Việc ghi chữ in thường, in đậm, in nghiêng, gạch dưới… được ghi thống nhất cho
từng phần, từng mục và cả văn bản.
4.7.5. Báo cáo tự đánh giá cần ngắn gọn, rõ ràng, mạch lạc, không tẩy xóa. Báo cáo phải
được biên tập để thống nhất cách trình bày, cách diễn đạt, dùng từ và không có lỗi chính
tả, ngữ pháp.
4.7.6. Báo cáo không quá 150 trang giấy khổ A4, không kể phụ lục. Đối với các bảng,
biểu đồ, đồ thị, hình vẽ, bản đồ, ảnh minh họa…có thể in trên giấy khổ A3. Báo cáo tự
đánh giá được đóng quyển, bìa mềm hoặc bìa cứng có in nhũ, đủ dấu tiếng Việt.
4.8. Đảm bảo và điều chỉnh bổ sung kịp thời các nguồn lực, cũng như giải quyết những ý
kiến, nguyện vọng chính đáng của các thành viên trong Hội đồng tự đánh giá:
Tự đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục là nhiệm vụ quan trọng của các cơ
sở giáo dục phổ thông; nếu thực hiện tốt thì sẽ có tác dụng nâng cao chất lượng giáo dục
toàn diện. Với tầm quan trọng như thế, cho nên để hoàn thành được trọng trách đó, đòi
hỏi phải có sự tập trung đầu tư nhiều mặt và từ nhiều phía, trong đó có các nguồn lực
như: nhân lực, vật lực, tài lực… Mặt khác công tác tư tưởng cũng rất quan trọng, nếu
không làm tốt, thì cũng ảnh hưởng rất lớn đến kết quả công việc. Do vậy, người Hiệu
trưởng phải có kế hoạch chu đáo trong việc bố trí sử dụng con người sao cho hợp lý;
riêng về cơ sở vật chất, thiết bị, tài chính đáp ứng cho công tác tự đánh giá cũng phải
được đặt lên hàng đầu. Tránh tình trạng duy ý chí, khoán trắng cho các thành viên trong
Hội đồng mà không kèm theo bất cứ điều kiện nào. Có được như vậy, thì mới đảm bảo sự
thành công cho công tác tự đánh chất lượng giáo dục.
4.9. Thành lập tổ chuyên trách đón và làm việc với đoàn đánh giá ngoài của Sở GD&ĐT
tỉnh trong thời gian kiểm tra, đối chiếu tự báo cáo với hồ sơ thông tin và minh chứng:
Như chúng ta đã biết, riêng thời lượng của đoàn đánh giá ngoài về kiểm tra đối
chiếu hồ sơ thông tin và minh chứng với báo cáo tự đánh giá của nhà trường chỉ trong
vòng một ngày, với số lượng 7 thành viên, trong lúc TT-MC của 141 chỉ số thuộc 47 tiêu
chí của 7 tiêu chuẩn và phần cơ sở dữ liệu nhà trường rất nhiều, thì làm sao đoàn có thể
hoàn thành nhiệm vụ một cách thong thả được, nếu không có sự tạo điều kiện thuận lợi

học cơ sở và Hướng dẫn số 140/KTKĐCLGD về hướng dẫn xác định nội hàm, tìm thông
tin và minh chứng,…
- Thông qua nhiều giải pháp tích cực làm cho tất cả CBGVNV, lãnh đạo địa
phương thấy rõ mối quan hệ biện chứng giữa chất lượng cơ sở giáo dục phổ thông với
công tác tự đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục. Và tự giác ủng hộ quan điểm chỉ
có làm tốt công tác tự đánh giá thì mới nâng cao được chất lượng giáo dục toàn diện. Khi
mọi người đã có nhận thức đúng, thì bao giờ cũng sẵn sàng chung tay khắc phục khó
khăn, điểm yếu để thực hiện đạt hiệu quả mục tiêu cuối cùng.
16


- Bất cứ công việc gì đi nữa, nhất là đối với công việc khó khăn, phức tạp như kịp
thời cung cấp TT-MC cho đoàn đánh giá ngoài, đây công việc mới nghe tưởng đâu là đơn
giản, nhưng thực tế hoàn toàn ngược lại. Bởi vì muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ này thì
yêu cầu người cung cấp hồ sơ TT-MC phải trực tiếp đọc kỹ các chỉ số thuộc tiêu chí của
tiêu chuẩn được phân công, đồng thời phải biết đọc- hiểu các chỉ số TT-MC đã được mã
hóa để tiếp cận và sắp xếp hồ sơ theo quy định. Trực tiếp tham gia vào khâu này, qua
thực tế sẽ giúp cho người đó thành thạo về nội dung TT-MC và thứ tự vị trí nơi để hồ sơ.
Nhờ đó sẽ nhanh chóng tìm ra TT-MC khi đoàn cần, đồng thời còn có kỹ năng phối hợp
tốt với các đ/c phụ trách tiêu chuẩn khác để giải quyết TT-MC có mã MC ở tiêu chuẩn
này, nhưng có thể hồ sơ theo đường dẫn về hộp ở tiêu chuẩn kia.
Tóm lại, trong suốt quá trình tổ chức, triển khai thực hiện công tác đánh giá và
kiểm định chất lượng giáo dục mà trọng tâm là báo cáo tự đánh giá của nhà trường, có
lúc suông sẽ, thuận lợi; nhưng cũng không ít trường hợp gặp khó khăn phức tạp, tưởng
chừng như khó vượt qua. Nhưng với quyết tâm của bản thân, của tập thể CBGVNV nhà
trường, cộng với sự chỉ đạo giúp đỡ tận tình của phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng
Sở GD&ĐT, phòng GD&ĐT thành phố, cùng với những biện pháp tích cực nêu trên, đã
giúp nhà trường hoàn thành hiệu quả công tác tự đánh giá chất lượng giáo dục. Và điều
minh chứng hùng hồn nhất là: qua kiểm tra kiểm định chất lượng giáo dục vào đầu tháng
9/2011 được đoàn đánh giá ngoài của Sở GD&ĐT tỉnh kết luận: Tổng số các tiêu chí

Người thực hiện: PHẠM QUANG THANH
8. Tài liệu tham khảo:
- Báo cáo tự đánh giá của trường trung học cơ sở Nhân Hậu, Nam Hà, Hà Nam
9. Phụ lục

18


PHÒNG GD&ĐT TP TAM KỲ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TRƯỜNG THCS H T KHÁNG

Độc lập – Tự - Hạnh phúc

Số: …./KH-HTK

Trường Xuân, ngày

tháng năm 2009

KẾ HOẠCH TỰ ĐÁNH GIÁ
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.Mục đích và phạm vi tự đánh giá
Mục đích của tự đánh giá là nhằm cải tiến, nâng cao chất lượng nhà trường, để giải
trình với các cơ quan chức năng, xã hội về thực trạng chất lượng giáo dục của nhà
trường; để cơ quan chức năng đánh giá và công nhận nhà trường đạt tiêu chuẩn chất
lượng giáo dục.
Phạm vi đánh giá là toàn bộ các hoạt động của nhà trường theo các tiêu chuẩn đánh
giá chất lượng do Bộ GD&ĐT ban hành.
2. Hội đồng tự đánh giá
2.1. Thành phần Hội đồng tự đánh giá:

Phó Hiệu trưởng

Nhiệm vụ
CT HĐ
PCT HĐ
Thư ký HĐ

Chủ tịch Công đoàn-Phó H. Ủy
trưởng


Thanh Trưởng ban thanh tra nhân dân

19

Ủy

viên
viên


Tâm



6

Bà Trịnh Thị Thúy

7


Tổ trưởng tổ Ngoại ngữ

Ủy


viên

10 Ông Đoàn Được

Tổ trưởng tổ Toán- Lý

Ủy


viên

11 Bà Nguyễn Thị Mùi

Tổ trưởng tổ Hóa- Sinh- Thể Ủy
dục


viên

12 Bà Hồ Thị Kim Loan

Tổ trưởng tổ Sử- Địa- Âm nhạc Ủy




2.2. Nhóm thư ký
Họ và tên
1

Ông Nguyễn Đình Yên

2

Bà Trần Thị Hải Vân

Chức danh, chức vụ

Nhiệm vụ
Nhóm
trưởng

20


3

Bà Nguyễn Thị Hồng
Vân
2.3. Các nhóm công tác chuyên trách

Nhóm

Chức danh, chức Nhiệm vụ
vụ

động

được
huy điểm huy chú
động/cung cấp
động

1
2
3
4
5
6
7
4. Công cụ đánh giá: Theo Quyết định số 80/2008/QĐ-BGDĐT ngày 30/12/2008
5. Dự kiến các thông tin, minh chứng cần thu thập cho từng tiêu chí
Tiêu
chuẩn,
tiêu
chí

Dự kiến các Nơi
thông tin, minh thu
chứng cần thu thập
thập

Nhóm
Thời
Dự kiến Ghi
công tác gian thu chi phí chú

Tuần 16
Tuần 17
Tuần 18

23




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status