1.Tên đề tài:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÓ HIỆU QUẢ,
CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ VÀ KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC Ở
MỘT TRƯỜNG THCS VÙNG VEN THÀNH PHỐ.
2. Đặt vấn đề:
2.1. Lý do chọn đề tài:
Từ xưa đến nay, dù bất cứ chế độ chính trị xã hội nào đi nữa thì giáo dục
vẫn luôn giữ một vai trò, vị trí quan trọng, bởi vì không có nó thì làm sao nhân
cách trẻ có thể hình thành và phát triển đúng hướng được. Đặc biệt, ngày nay
trong công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại đất nước, giáo dục lại giữ một vị
trí quan trọng hơn trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng
nhân tài, góp phần vào việc xây dựng một nền kinh tế trí thức. Tuy nhiên, trong
thực tế của nước ta, giáo dục ở các cấp học và trình độ đào tạo đang phải đối
mặt với những khó khăn và thách thức mới, nhất là tình trạng chất lượng giáo
dục chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội trong giai đoạn hiện nay. Để
khắc phục những hạn chế bất cập nêu trên, Bộ Giáo dục và Đào tạo, đã và đang
triển khai đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục, tiếp tục đào tạo và
bồi dưỡng giáo viên, tăng cường cơ sở vật chất (CSVC), và đặc biệt là đẩy mạnh
công tác đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục ở các cấp học, nhằm tạo
ra bước chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng giáo dục của hệ thống giáo dục
quốc dân. Với vai trò, vị trí quan trọng và to lớn của GD-ĐT như thế, nên Quốc
hội đã nghiên cứu, bàn bạc thống nhất đưa việc Kiểm định chất lượng giáo dục
phổ thông vào Luật. Và được thể chế hóa trong luật giáo dục (năm 2005 và sửa
đổi năm 2009- Điều 17). Như vậy, việc đánh giá và kiểm định chất lượng giáo
dục (KĐCLGD) là một trong những nội dung quan trọng được Bộ GD&ĐT xác
định và tăng cường chỉ đạo thực hiện từ năm 2008 bằng Chỉ thị số 46/2008/CT-
BGDĐT. Tiếp theo Chỉ thị đó ngày 12/5/2009 Bộ GD&ĐT ra Thông tư số
12/2009/TT-BGDĐT Ban hành Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng
giáo dục trường trung học cơ sở. Như vậy qua đó có thể thấy tính cấp thiết của
các cơ sở giáo dục cần phải đẩy mạnh trong giai đoạn hiện nay đó là: thực hiện
nghiêm túc khâu đầu tiên (tự đánh giá) trong quy trình kiểm định chất lượng
hàm, tìm thông tin (TT) và minh chứng (MC) để đánh giá chất lượng,… vẫn
chưa được thực hiện một cách chu đáo, nghiêm túc, hiệu quả. Hậu quả là chưa
xác định đúng về phương pháp, phạm vi tự đánh giá. Trầm trọng hơn là xem nhẹ
các yêu cầu trong mỗi bước của quy trình 7 bước được quy định tại Quyết định
số 83/2008/QĐ-BGDĐT ngày 31/12/2008 của Bộ GD&ĐT ban hành về quy
trình và chu kỳ kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục phổ thông. Dẫn đến những
hạn chế, bất cập của từng khâu trong thời gián qua, như:
+ Hội đồng tự đánh giá (thực hiện lần đầu tiên năm 2009): số lượng
(17/15) dư thừa quy định, nhưng chất lượng lại thiếu đảm bảo; về Phó Chủ tịch
HĐ lại có tới 2 người (2/1)- thừa 1; Thư ký HĐ là người ngang tầm nhưng lại
nhiều việc, thiếu thời gian tập trung tổng hợp mô tả hiện trạng,…
+ Xây dựng kế hoạch tự đánh giá: thiếu tính thực tế; Cơ sở vật chất, thiết
bị và tài chính chưa đáp ứng tốt theo yêu cầu;
+ Viết báo cáo tự đánh giá: chưa tuân thủ quy định như viết một báo cáo
khoa học; phần lớn cách hành văn, văn phong không theo thể thức văn bản hành
chính và trôi chảy… nghiêm trọng hơn là việc xác định nội hàm của chỉ số
thuộc tiêu chuẩn chưa đạt, còn trình bày lan man, không đi thẳng vào việc mô tả
nội hàm của chỉ số và trả lời các câu hỏi,…
- Cũng từ việc xem nhẹ bước nghiên cứu, tổ chức học tập văn bản chỉ
đạo, cũng như khâu tư vấn, tham mưu, tuyên truyền về công tác đánh giá và
kiểm định chất lượng giáo dục của lãnh đạo nhà trường nên phần lớn các thành
viên trong nhà trường cũng như đại diện các ban ngành, đoàn thể địa phương
chưa hiểu đầy đủ về mục đích ý nghĩa, tầm quan trọng, về kế hoạch thực hiện và
những nguyên tắc, quy trình tiến hành cần phải đảm bảo; thậm chí một số thuật
ngữ, từ ngữ cũng chưa hiểu đúng nghĩa về nó, chẳng hạn như:
+ Từ ngữ “ chất lượng trường THCS ” thường được hiểu là: chất lượng
văn hóa và hạnh kiểm; họ đâu có hiểu theo nghĩa đầy đủ, bao gồm một tập hợp
2
các vấn đề cốt lõi của nhà trường được quy định tại bộ tiêu chuẩn đánh giá chất
lượng của Bộ GD&ĐT, như: Tổ chức và quản lý; Chiến lược phát triển; Cán bộ
dục.v.v… Nói chung những yêu cầu quy định về TT và MC cần thu thập có
những điểm bất cập, khó tìm được, nhất là trong Báo cáo tổng kết năm học. Vì
trong thực tế các mẫu Báo cáo tổng kết năm học hằng năm của Ngành từ trước
tới nay, chưa có mẫu nào đề cập đầy đủ các chi tiết và đảm bảo đến như thế.
Mặt khác đội ngũ CBGVNV không ổn định, thường xuyên luân chuyển, cho
nên việc tìm kiếm, hệ thống, phục hồi thông tin gặp không ít khó khăn, đó là
chưa nói đến trường hợp Hiệu trưởng nhà trường là người mới được điều động
hoặc bổ nhiệm đến.
Với một thực trạng như trên quả là rất khó cho người Hiệu trưởng- người
tổ chức, chỉ đạo thực hiện công tác đánh giá và kiểm định chất lượng cơ sở giáo
dục nói chung và kiểm định chất lượng THCS nói riêng.
2.3. Giới hạn nghiên cứu của đề tài:
3
Theo chỉ đạo của Bộ GD&ĐT đối với cơ sở giáo dục phổ thông, tất cả
đều phải tiến hành thực hiện KĐCLGD; mỗi bậc học ngoài những văn bản chỉ
đạo chung, còn có những hướng dẫn riêng.
Là Hiệu trưởng của một trường THCS thuộc vùng ven của Thành phố, do
vậy, đề tài được thực hiện của tôi đối với cơ sở giáo dục phổ thông là trường
Trung học cơ sở, thuộc vùng ven thành.
3. Cơ sở lí luận:
Tự đánh giá trường trung học cơ sở là khâu đầu tiên trong quy trình kiểm
định chất lượng cơ sở giáo dục phổ thông; đây là bước khó nhất, đòi hỏi nhà
trường phải có sự đầu tư lớn và tập trung toàn lực. Nếu làm tốt công tác tự đánh
giá và kiểm định chất lượng giáo dục thì sẽ có tác dụng nâng cao chất lượng
giáo dục toàn diện, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Nhưng đối với cơ sở giáo dục phổ thông ( trường THCS) tự đánh giá và kiểm
định chất lượng giáo dục lại là một việc làm khá mới mẻ với yêu cầu mang tính
khoa học cao; các dữ liệu đưa vào trong báo cáo tự đánh giá không những được
chú ý, cân nhắc về hình thức trình bày ( rõ ràng, đầy đủ, khoa học…), gọt dũa
văn phong (mạch lạc, trôi chảy…), mà còn phải thể hiện tính khoa học cao. Do
Quốc gia giai đoạn 2001- 2010 vào tháng 10/2010;
- Về cơ sở vật chất được đầu tư kiên cố, tương đối đầy đủ;
- Về trang thiết bị phục vụ công tác giáo dục, giảng dạy được đảm bảo
khá tốt và theo hướng hiện đại;
- Nhà trường có cảnh quan môi trường xanh, sạch, đẹp và an toàn thân
thiện được cấp trên ghi nhận và đánh giá cao;
- Là trường THCS đầu tiên của thành phố được phép lập và báo Sở
GD&ĐT tỉnh bản đăng ký kiểm định chất lượng giáo dục, đồng thời được cấp
có thẩm quyền ra Quyết định thành lập đoàn đánh giá ngoài cơ sở giáo dục phổ
thông tại trường THCS Huỳnh Thúc Kháng vào tháng 9/2011.
5. Nội dung nghiên cứu:
5.1. Người Hiệu trưởng, trước hết phải biết tự nâng cao mình:
Người đứng đầu đơn vị cùng với việc xác định tự đánh giá là nhiệm vụ
trọng tâm thì còn phải thể hiện rõ quyết tâm cao. Để từ đó có kế hoạch tự nâng
cao mình về nhận thức, về trình độ, về kỹ năng quản lý đối với công tác tự đánh
giá và kiểm định chất lượng giáo dục. Đây là yếu tố có tính quyết định đến sự
thành công cũng như tính hiệu quả của quá trình tổ chức, triển khai thực hiện
nhiệm vụ. Bởi vì, trong công tác tự đánh giá Hiệu trưởng nhà trường được quy
định là Chủ tịch Hội đồng. Hơn nữa về kiểm định chất lượng giáo dục thì tự báo
cáo chỉ là một trong bốn khâu quy định, tuy nhiên khâu này là quan trọng nhất,
quyết định nhất và được xem như là mới nhất, khó khăn nhất. Bởi vì, nội dung
đầu tiên gửi về phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng Sở GD&ĐT là dự thảo
Báo cáo tự đánh giá của nhà trường. Cũng từ kết quả đánh giá sơ bộ ban đầu về
báo cáo tự đánh giá của nhà trường, thì cấp trên mới ra quyết định thành lập hay
không thành lập đoàn đánh giá ngoài cơ sở giáo dục PT đó. Chính vì thế nếu
người đứng đầu nhà trường thiếu sự hiểu biết về thông tin hay không nắm vững
về những nguyên tắc, quy định chỉ đạo từ các văn bản pháp lý về tự đánh giá thì
không thể nào xây dựng được kế hoạch tổng thể, chứ đừng nói đến việc tổ chức
quán triệt văn bản chỉ đạo, nâng cao nhận thức cho CBGVNV hay tư vấn tham
mưu cho các cấp lãnh đạo liên quan. Do vậy, việc đầu tư học tập, nghiền ngẫm,
ràng, đảm bảo độ tin cậy. Như vậy, trước khi thực hiện tự đánh giá phải sưu
tầm, hệ thống hồ sơ, tranh ảnh có liên quan đến tất cả các hoạt động của nhà
trường đã diễn ra từ 2- 4 năm liền kề trước. Và hơn nữa Báo cáo tự đánh giá
phải bao quát đầy đủ các tiêu chí trong 7 tiêu chuẩn đánh giá chất lượng nhà
trường. Với các đặc điểm và yêu cầu cao của công tác tự đánh giá như thế,
người Hiệu trưởng ngoài việc nắm vững các yêu cầu quy định trên, còn phải
nghiên cứu thực hiện tốt 7 bước, của quy trình tự đánh giá và cấu trúc của Báo
cáo tự đánh giá.
Với mục đích, yêu cầu, ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác tự đánh
giá như đã nêu trên, và để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ ấy, trước tiên người
Hiệu trưởng phải xây dựng cho được một kế hoạch tổng thể khoa học, sát thực
tế đơn vị. Trong đó phải thể hiện mục đích yêu cầu rõ ràng; thành phần tham gia
tự đánh giá đúng quy định, nội dung- mục tiêu cụ thể; biện pháp tích cực, khả
thi (việc đáp ứng các nguồn lực, nhất là về nhân lực, vật lực, tài lực,…) và tổ
chức thực hiện kịp thời. Theo tôi trong kế hoạch ngoài việc phân công, phân
nhiệm rõ ràng, hợp lý còn yếu tố không kém phần quan trọng đó là việc thường
xuyên theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, động viên giúp đỡ tạo điều kiện từ các cá
nhân, tổ chức có trách nhiệm trong nhà trường. Mặt khác kịp thời điều chỉnh kế
hoạch nếu cần; tuyệt đối không được khoáng trắng hay thiếu sự theo dõi giúp
đỡ.
5.3. Tăng cường nâng cao nhận thức, kể cả phổ biến kiến thức, những điều phải
làm; cũng như những điều không được làm, phải tránh, trong Phần 2: Tự đánh
giá và các kết quả tự đánh giá, cho CBGVNV và các lực lượng giáo dục khác có
liên quan:
Khi đề cập đến các vấn đề cần giải quyết: “ nâng cao nhận thức”, “ phổ
biến kiến thức”, “ Kết quả tự đánh giá, …” thì trước tiên chúng ta phải bổ sung
6
làm rõ những vấn đề đó, hay nói cách khác phải trả lời được những câu hỏi
tương ứng sau: Nâng cao nhận thức vấn đề gì ? Phổ biến kiến thức gì? Kết quả
tự đánh giá ra sao? Cái nào đạt? Chưa đạt ? Và biện pháp cải tiến chất lượng ra
ứng các chuẩn mực quy định). Cùng với việc làm rõ khái niệm này, người Hiệu
trưởng nên nhắc lại chức năng nhiệm vụ của công tác thanh tra toàn diện và qua
đó làm cho mọi thành viên trong nhà trường thấy được thanh tra toàn diện và
kiểm định chất lượng GD phổ thông là hai hoạt động tuy có nhiều điểm chung,
nhưng có mục đích, chức năng và nhiệm vụ khác nhau. Đây là hai hoạt động cần
thiết, có quan hệ với nhau nhưng cần được phân biệt rõ để tránh trùng lặp trong
khi thực hiện.
+ Tự đánh giá của nhà trường ? (là quá trình trường tự xem xét, nghiên
cứu trên cơ sở các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng do Bộ GD&ĐT ban hành để
báo cáo về tình trạng chất lượng, hiệu quả hoạt động giáo dục, nghiên cứu khoa
học, nhân lực, cơ sở vật chất cũng như các vấn đề liên quan khác, từ đó tiến
7
hành điều chỉnh các nguồn lực và quá trình thực hiện nhằm đáp ứng các tiêu
chuẩn chất lượng).
+ Quy trình tự đánh giá, gồm có mấy bước ? (Thành lập HĐ tự đánh giá;
Xác định mục đích phạm vi tự đánh giá; Xây dựng kế hoạch tự đánh giá; Thu
thập, xử lý và phân tích các thông tin, minh chứng; Đánh giá mức độ đạt được
theo từng tiêu chí; Viết báo cáo tự đánh giá và Công bố báo cáo tự đánh giá)
- Những điều cần lưu ý đối với HĐ tự đánh giá trong phần Tự đánh giá:
Tại Công văn số 7880/BGDĐT về việc hướng dẫn tự đánh giá cơ sở giáo
dục phổ thông của Bộ GD&ĐT, có chỉ rõ gồm 3 phần ( Đặt vần đề, Tự đánh giá
và Kết luận) và trong mỗi phần có các yêu cầu cụ thể. Tuy nhiên, trong quá trình
thực hiện, thường xem nhẹ, ít tuân thủ theo hướng dẫn, thậm chí có trường hợp
đi quá xa, lạc đề; đơn cử như:
+ Về đặt vấn đề: chưa nêu ra được bối cảnh chung của nhà trường, như
về đặc điểm địa bàn trường đóng, CSVC, vấn đề quản lý chất lượng giáo dục,
tài chính…; Mục đích, lý do, quy trình, phương pháp, công cụ tự đánh giá,
v.v…
+ Về tự đánh giá:
* Mô tả hiện trạng: thiếu cụ thể, không rõ ràng hay lan man, thiếu tập
trạng. Trong quá trình mô tả, do cách hành văn hay cách sử dụng từ ngữ chưa
đạt yêu cầu có lúc dẫn tới mâu thuẩn với điểm nạnh.
* Kế hoạch cải tiến chất lượng: là nội dung vô cùng quan trọng trong
khâu tự đánh giá; ở khâu này trọng tâm phải thể hiện rõ việc phát huy những
điểm mạnh, khắc phục điểm yếu. Vì thế kế hoạch phải cụ thể và có tính khả thi,
tránh chung chung. Khi triển khai thực hiện kế hoạch phải trả lời được những
câu hỏi sau: Phát huy- khắc phục những vấn đề gì ? Làm như thế nào ? Các
nguồn lực ? Ai làm ? Thời gian bắt đầu ? Thời gian kết thúc ? … Nhất thiết kế
hoạch phải thể hiện quyết tâm cải tiến, nâng cao chất lượng giáo dục của nhà
trường.
Tuy nhiên, trong thực tế nội dung kế hoạch cải tiến chất lượng thường
không trả lời được những câu hỏi trên, hay nói một cách chung chung, chưa thể
hiện quyết tâm, mang tính đối phó, chiếu lệ. Thậm chí có trường hợp nêu ra
được biện pháp, nhưng tính khả thi không cao. Như vậy mục đích nâng cao chất
lượng giáo dục của nhà trường là không đạt.
* Tự đánh giá: phần này không có gì phức tạp, chúng ta lần lượt đánh giá
từng chỉ số thuộc tiêu chí, rồi sau đó đánh giá tiêu chí bằng những từ “đạt” hoặc
“ không đạt”
Tóm lại, khi hoàn tất Báo cáo tự đánh giá, Hiệu trưởng nhà trường phải
bằng nhiều cách làm cho mỗi CBGVNV nắm được kết quả tự đánh giá. Yêu cầu
mỗi tổ chuyên môn, mỗi bộ phận, mỗi CBGVNV,… phải thấy rõ những điểm
mạnh, điểm yếu và những nguyên nhân của ưu, khuyết điểm đó. Đồng thời thể
hiện quyết tâm cao trong việc thực hiện kế hoạch cải tiến chất lượng đề ra. Có
được như vậy thì công tác tự đánh giá chất lượng giáo dục của nhà trường mới
đạt được mục đích yêu cầu đề ra.
5.4. Chủ động học tập, trao đổi kinh nghiệm với các đ/c Lãnh đạo Phòng
GD&ĐT, cán bộ quản lý trường THCS về công tác tự đánh giá, đồng thời tranh
thủ sự quan quan tâm giúp đỡ của các đ/c có giấy chứng nhận hoàn thành lớp
tập về kiểm định chất lượng giáo dục của Tỉnh, hoặc các đ/c trong đoàn đánh
gía ngoài của Sở GD&ĐT tỉnh:
viên và số tiêu chí thuộc tiêu chuẩn. Như vậy, trong 5 tổ đều có 5 thư ký- đó là
thư ký thực hiện trong quy mô nhỏ, phạm vi từ 1- 2 tiêu chí. Còn đối với quy
mô viết báo cáo tự đánh giá 7 chuẩn- toàn trường, thì đây là vấn đề cần bàn.
Như nói ở trên, yêu cầu đối với một báo cáo tự đánh giá cơ sở giáo dục phổ
thông rất nghiêm ngặt, từ hình thức trình bày, văn phong chính tả… cho đến cấu
trúc báo cáo. Hơn nữa báo cáo này là một báo cáo khoa học, cho nên không thể
trình bày một cách tùy tiện. Mà theo quy định, người tổng hợp và trình bày báo
cáo là thư ký Hội đồng tự đánh giá, theo đúng hướng dẫn số 140/KTKĐCLGD.
Xuất phát từ tầm quan trọng như thế của một báo cáo, cho nên người Hiệu
trưởng khi cơ cấu các thành viên Hội đồng phải đặc biệt chú trọng đến người
làm nhiệm vụ Thư ký HĐ. Bởi vì người này có một vai trò vị trí hết sức quan
trọng trong việc thành bại của công tác kiểm định chất lượng giáo dục, góp phần
tích cực trong việc hoàn thành báo cáo tự đánh giá chất lượng giáo dục nhà
trường. Thư ký HĐ tự đánh giá là người, không những có trình độ tổng hợp, biết
sử dụng, gọt dũa từ ngữ để trình bày báo cáo sao cho người đọc dễ cảm nhận,
mà còn phải biết khái quát hóa nội dung và có tinh thần trách nhiệm cao.
5.6. Định kỳ họp sơ kết rút kinh nghiệm:
Sau mỗi tháng, cùng với họp sơ kết chung của HĐSP, Chủ tịch Hội đồng
tự đánh giá phải sơ kết tình hình thực hiện kế hoạch tự đánh giá chất lượng của
nhà trường để phát huy ưu điểm, đồng thời đề ra biện pháp khắc phục tồn tại,
bất cập, nhằm đảm bảo tiến độ thực hiện kế hoạch tự đánh giá đã đề ra. Trong
quá trình sơ kết nhất thiết người Hiệu trưởng (Chủ tịch HĐ) phải biết lắng nghe
ý kiến của các thành viên hội đồng, từ đó có biện pháp giải quyết thấu tình đạt
lý. Tuyệt đối không được làm ngơ, hoặc hứa suông với những đề xuất hợp lý,
chính đáng.
10
5.7. Những điều cần lưu ý:
5.7.1. Sắp xếp hồ sơ minh chứng:
- Trong danh mục mã thông tin và minh chứng:
Một hồ sơ của trường được gọi là minh chứng phải được sắp xếp khoa
đòi hỏi phải có tính thống nhất cao, từ cách lập luận, diễn giải, phân tích, kết
luận. Cho nên, yêu cầu về văn phong thống nhất là yêu cầu bắt buộc.
- Về kỹ thuật trình bày: Báo cáo tự đánh giá được trình bày theo qui định
tại Thông tư số: 01/2011/TT-BNV ngày 19/01/2011 của Bộ Nội vụ hướng dẫn
thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính. Cụ thể: Phông chữ sử dụng
trình bày văn bản trên máy vi tính là phông chữ Việt của bộ mã ký tự Unicode,
phông chữ Time New Roman, trên khổ giấy A4 (210 mm x 297 mm) theo chiều
dọc, canh lề như sau:
Lề trên: cách mếp trên từ 20 - 25 mm;
Lề dưới: cách mếp dưới từ 20 - 25 mm;
11
Lề trái: cách mếp trái từ 30 - 35 mm;
Lề phải: cách mếp phải từ 15 - 20 mm;
5.7.3. Phần nội dung (văn bản) được trình bày bằng chữ in thường (được dàn
đều cả 2 lề), kiểu chữ đứng; cở chữ 14 (phần lời văn trong một văn bản phải
dùng cùng một cở chữ); khi xuống dòng, chữ đầu dòng phải lùi vào từ 1- 1,27
cm (1 default tab); khoảng cách giữa các đọan văn (paragraph) đặt tối thiểu là
6pt; ; khoảng cách giữa các dòng hay cách dòng (line spacing) chọn tối thiểu từ
cách dòng đơn (single line spacing) hoặc từ 15pt (exactly line spacing) trở lên;
khoảng cách tối đa giữa các dòng là 1,5 dòng (1,5 lines)
5.7.4.Việc ghi chữ in thường, in đậm, in nghiêng, gạch dưới… được ghi thống
nhất cho từng phần, từng mục và cả văn bản.
5.7.5. Báo cáo tự đánh giá cần ngắn gọn, rõ ràng, mạch lạc, không tẩy xóa. Báo
cáo phải được biên tập để thống nhất cách trình bày, cách diễn đạt, dùng từ và
không có lỗi chính tả, ngữ pháp.
5.7.6. Báo cáo không quá 150 trang giấy khổ A4, không kể phụ lục. Đối với các
bảng, biểu đồ, đồ thị, hình vẽ, bản đồ, ảnh minh họa…có thể in trên giấy khổ
A3. Báo cáo tự đánh giá được đóng quyển, bìa mềm hoặc bìa cứng có in nhũ, đủ
dấu tiếng Việt.
5.8. Đảm bảo và điều chỉnh bổ sung kịp thời các nguồn lực, cũng như giải quyết
chí số mỗi tiêu chí thuộc tiêu chuẩn mình phụ trách, đồng thời đối chiếu trước
thông tin, minh chứng đã được mã hóa, có nằm đúng hộp quy định không, kể cả
cách sắp xếp minh chứng có đúng hướng dẫn không. Đối với trường hợp có thể
sử dụng 1 minh chứng cho nhiều tiêu chí của các tiêu chuẩn thì phải có ghi chú
riêng để giúp các đ/c trong tổ, hoặc của đoàn nhanh chóng được tiếp cận. Với
cách giao nhiệm vụ và yêu cầu cụ thể đối với từng đ/c trong tổ (sưu tầm, hệ
thống, cung cấp TT-MC) như đã nói trên, làm cho mỗi đ/c phải tự nỗ lực học
tập, tìm kiếm xác nhận lượng TT-MC quy định thuộc phạm vi mình phụ trách
để trình cho Đoàn đánh giá ngoài trong ngày kiểm tra.
Với cách làm như trên, quả thực rất có tác dụng và hiệu quả trong việc
giúp đoàn đánh giá ngoài nhanh chóng xác định TT-MC của từng chỉ số thuộc
tiêu chí (đoàn hỏi mã TT-MC nào là lập tức có người trình ngay, không cần phải
lục tìm, nên tiết kiệm được thời gian).
6. Kết quả nghiên cứu:
Trong quá trình tổ chức, lãnh chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ nâng cao chất
lượng giáo dục ở trường, với tư cách là một Hiệu trưởng, tôi đã đầu tư nghiên
cứu đưa ra đề tài “Một số biện pháp tích cực nhằm góp phần thực hiện có hiệu
quả công tác đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục THCS, mà trọng tâm là
thực hiện báo cáo tự đánh giá” và kết quả thu được, cụ thể như sau:
- Từ Hiệu trưởng cho đến CBGVNV đa số đều nắm chắc các văn bản chỉ
đạo về công tác đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục, nhất là Hướng dẫn
số 7880/BGD ĐT về việc hướng dẫn tự đánh giá cơ sở giáo dục phổ thông;
Thông tư số 12/2009/TT-BGDĐT Ban hành Quy định Về tiêu chuẩn đánh giá
chất lượng giáo dục trường trung học cơ sở và Hướng dẫn số 140/KTKĐCLGD
về hướng dẫn xác định nội hàm, tìm thông tin và minh chứng,…
- Thông qua nhiều giải pháp tích cực làm cho tất cả CBGVNV, lãnh đạo
địa phương thấy rõ mối quan hệ biện chứng giữa chất lượng cơ sở giáo dục phổ
thông với công tác tự đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục. Và tự giác ủng
hộ quan điểm chỉ có làm tốt công tác tự đánh giá thì mới nâng cao được chất
lượng giáo dục toàn diện. Khi mọi người đã có nhận thức đúng, thì bao giờ cũng
nhưng ở đó ít nhiều đều có thể hiện tính sáng tạo, khoa học, hợp lý; phù hợp
tình hình thực tế, có tính khả thi cao; nên khi tác động vào đối tượng (đánh giá
và kiểm định chất lượng giáo dục) nó có tác dụng thật sự làm cho đối tượng ở
giai đoạn cuối cùng có sự thay đổi theo chiều hướng tích cực so với trạng thái
ban đầu. Nhờ đó, đã giúp cho HĐ tự đánh giá của nhà trường hoàn thành tốt
nhiệm vụ; kết quả cụ thể là có được sản phẩm (Báo cáo tự đánh giá trường
THCS) được đoàn đánh giá ngoài của Sở GD&ĐT tỉnh đánh giá đạt yêu cầu;
với tổng số tiêu chí đạt rất cao.
8. Kiến nghị, đề xuất:
8.1. Đối với CBGVNV của nhà trường:
- Định kỳ và cuối năm học nhất thiết phải đảm bảo kịp thời, đầy đủ các
thông tin báo cáo theo quy định
- Thường xuyên quan tâm đến việc phát huy các điểm mạnh và khắc phục
những điểm yếu theo kế hoạch cải tiến chất lượng đã đề ra;
- Tiếp tục thực hiện tốt có hiệu quả công tác tự đánh giá và kiểm định
chất lượng giáo dục theo các văn bản của Bộ GD&ĐT mới chỉ đạo từ năm 2012.
8.2. Đối với lãnh đạo các cấp:
- Đối với Sở GD&ĐT tỉnh và phòng GD&ĐT thành phố: kính đề nghị
xây dựng mẫu báo tổng kết năm học hằng năm cho các cơ sở giáo dục phổ
thông theo hướng đảm bảo nội hàm các chỉ số của tiêu chí thuộc tiêu chuẩn để
phục vụ cho việc nắm bắt thông tin và công tác tự đánh giá.
14
- Đối UBND thành phố: kính đề nghị quan tâm cấp kinh phí phục vụ công
tác tự đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục hằng năm cho các trường phổ
thông.
Người thực hiện: PHẠM QUANG THANH
9. Tài liệu tham khảo:
- Báo cáo tự đánh giá của trường trung học cơ sở Nhân Hậu, Nam Hà, Hà Nam
10. Phụ lục
PHÒNG GD&ĐT TP TAM KỲ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
14 Ông Nguyễn Anh Vũ Tổng phụ trách Đội Ủy viên HĐ
15 Ông Phan Công Hậu Bí thư Chi đoàn Ủy viên HĐ
15
2.2. Nhóm thư ký
Họ và tên Chức danh, chức vụ Nhiệm vụ
1 Ông Nguyễn Đình Yên Nhóm trưởng
2 Bà Trần Thị Hải Vân
3 Bà Nguyễn Thị Hồng Vân
2.3. Các nhóm công tác chuyên trách
Nhóm Chức danh, chức vụ Nhiệm vụ
Nhóm 1
Nhóm 2
Nhóm 3
Nhóm 4
Nhóm 5
Nhóm 6
Nhóm 7
Nhóm 8
Nhóm 9
3. Dự kiến các nguồn lực và thời điểm cần huy động
- CSVC & Thiết bị:
- Các hoạt động đánh giá chất lượng GD của trường và thời gian cần được cung
cấp
TT Họ và tên Các hoạt
động
Các nguồn lực cần
được huy động/cung
cấp
Thời điểm
huy động
tin, minh
chứng
Ghi
chú
16
6. Thời gian biểu:
Thời gian Các hoạt động
Tuần 1
Tuần 2
Tuần 3-7
Tuần 8
Tuần 9-10
Tuần 11-
12
Tuần 13-
14
Tuần 15
Tuần 16
Tuần 17
Tuần 18
11. Mục lục
Phần Trang
1. Tên đề tài……………………………………………………… 1
2. Đặt vấn đề ………………………………………………………. 1
3. Cơ sở lý luận ……………………………………………………. 4
4. Cơ sở thực tiễn ………………………………………………… 4
5. Nội dung nghiên cứu ……………………………………………. 5
6. Kết quả nghiên cứu ……………………………………………… 13
7. Kết luận ………………………………………………………… 14
8. Kiến nghị ………………………………………………………… 14