1.Tên đề tài: MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN CÓ HIỆU QUẢ
VIỆC TỔ CHỨC CHUYÊN ĐỀ TRONG TRƯỜNG MẦM NON.
2. Đặt vấn đề:
Giáo dục Mầm non là cấp học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân. Do
vậy người giáo viên Mầm non có vị trí, vai trò quan trọng trong việc đào tạo thế hệ
trẻ có kiến thức, kĩ năng và phát triển toàn diện. Muốn đạt được mục tiêu này trước
hết người quản lý cần phải nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, từ đó nâng cao
chất lượng giảng dạy và giáo dục trẻ.
Trong các tổ chức của nhà trường thì tổ chuyên môn là nơi xây dựng kế
hoạch, triển khai thực hiện các hoạt động chăm sóc – giáo dục trẻ một cách chặt
chẽ, thường xuyên nhất dưới sự quản lý, theo dõi, chỉ đạo của Ban giám hiệu nhà
trường. Nội dung hoạt động của tổ chuyên môn rất phong phú trong đó hoạt động
chuyên đề là hoạt động cơ bản, giúp giáo viên trực tiếp giảng dạy tháo gỡ được
những khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức hoạt động. Thông qua hoạt
động chuyên đề, chất lượng giảng dạy của giáo viên được nâng lên, phát huy năng
lực, sáng kiến của từng thành viên trong tổ, nhân rộng những kinh nghiệm tốt, cách
làm hay trong tổ, trong toàn trường, từ đó không ngừng nâng cao chất lượng chăm
sóc - giáo dục trẻ.
Đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội trong quá trình đổi mới, cấp học
giáo dục mầm non cũng luôn thay đổi về hình thức, phương pháp tổ chức. Do vậy
đòi hỏi giáo viên phải chủ động lựa chọn nội dung và phương pháp, tích hợp một
cách linh động, sáng tạo phù hợp với từng độ tuổi. Tuy nhiên trong quá trình tổ
chức hoạt động thường nảy sinh những vấn đề cần phải giải quyết, nhiều giáo viên
còn e ngại, sợ sai không dám thay đổi cũng như lựa chọn ứng dụng những nội
dung mới. Nhiều giáo viên và tổ chuyên môn còn thụ động chờ giao nhiệm vụ của
chuyên môn nhà trường hoặc chưa mạnh dạn đề xuất, phát huy những ý tưởng sáng
tạo trong giảng dạy. Vì vậy, hoạt động bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ thông qua
các chuyên đề cho giáo viên là rất cần thiết. Thực hiện việc bồi dưỡng này có thể
tiến hành bằng nhiều hình thức khác nhau. Nhưng vấn đề đặt ra ở đây, biện pháp
nào vừa hiệu quả vừa tiện lợi cho giáo viên?
Với suy nghĩ đó, là cán bộ quản lý phụ trách chuyên môn tôi mạnh dạn xây
đạt hiệu quả các chuyên đề trong năm.
Với những yêu cầu trên là cơ sở lí luận để việc nghiên cứu và tổ chức các
chuyên đề trong nhà trường đạt hiệu quả.
4. Cơ sở thực tiễn
Mặc dù, giáo viên của nhà trường hiện nay hầu hết có văn bằng đạt chuẩn,
trên chuẩn và năng lực chuyên môn, nghiệp vụ khá vững vàng. Song không phải
lúc nào kiến thức, kĩ năng sư phạm cũng đáp ứng được tất cả những tình huống dạy
học và các mối quan hệ xã hội. Chưa kể đến một vài giáo viên còn có nhiều hạn
chế trên từng vấn đề cụ thể cần khắc phục. Hơn nữa, đổi mới để phát triển là điều
tất yếu trong mọi lĩnh vực cuộc sống, nó càng đặc biệt quan trọng hơn trong công
tác giáo dục đào tạo hiện nay. Vì vậy, việc không ngừng học tập vươn lên để nhận
thức là điều không thể thiếu đối với người làm nghề dạy học. Nếu không học tập
để phát triển kiến thức và tư duy theo hướng đổi mới, hiện đại thì đến một lúc nào
đó, khi không đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội thì có thể chúng ta sẽ bị
đào thải. Ý thức được điều này, các giáo viên đã tích cực hơn trong việc học tập tự
học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ thông qua các lớp Đại học sư phạm Mầm non.
Song, còn có những khó khăn tồn tại như:
Việc học ở các lớp tại chức cũng như các lớp bồi dưỡng chủ yếu là nghe và
tiếp nhận thông tin theo phương pháp truyền thống, ít có thực hành, thực tế nên dễ
2
quên khó nhớ. Ngay cả người dự học cũng chịu ảnh hưởng từ truyền thống này nên
ngại tham gia thực hành và nếu có làm cũng chưa đạt mức tối đa.
Thời gian học tập không nhiều, việc học không được toàn tâm, toàn ý bởi đa
số giáo viên là nữ nên bị chi phối nhiều ở công việc gia đình. Nếu có cố học thì
thời gian cũng không được bao nhiêu và hiệu quả chưa thật như mong muốn.
Nhiều giáo viên lại ngại khó, cũng muốn nghiên cứu tài liệu để thực hiện
nhưng đọc không thì không hiểu; nghiên cứu, tìm tòi tài liệu thì mất thời gian, một
mình không có đồng nghiệp hỗ trợ thì khó mà giải quyết được.
biết những chuyên đề đó có thật sự cần thiết và đáp ứng được nhu cầu của giáo
3
viên hay không, điều này sẽ gây “bội thực” cho giáo viên và trẻ mà lại không đạt
hiệu quả, làm lãng phí thời gian vô ích.
Như các năm trước, Ban giám hiệu thường thông qua dự giờ, thăm lớp hoặc
qua những ý kiến của giáo viên trong các buổi họp chuyên môn từ đó lựa chọn nội
dung để tổ chức chuyên đề. Trong hai năm học 2013 – 2014 và 2014 - 2015, việc
tổ chức chuyên đề trong trường của tôi có sự thay đổi. Ngay từ đầu năm học, tôi đã
giao quyền lựa chọn nội dung chuyên đề và thời gian thực hiện cho giáo viên ở các
tổ chuyên môn và được sự thống nhất cao của cô Hiệu trưởng nhà trường.
Việc giao quyền cho các tổ chuyên môn không có nghĩa là các tổ chuyên
môn có thể tổ chức hay không tổ chức chuyên đề cũng được mà ít nhất mỗi tổ phải
xây dựng 2 – 3 chuyên đề trong năm học để thực hiện. Thiết nghĩ với việc làm này
tôi đã giúp giáo viên và các tổ chuyên môn chủ động, mạnh dạn trong việc phát
hiện những nội dung còn vướng mắc đang cần tháo gỡ trong hoạt động giảng dạy
tại tổ của mình. Bản thân tôi cũng gợi ý một số những nội dung để các giáo viên
trao đổi và lựa chọn.
Với cách thức đó, các tổ chuyên môn trong năm học đã xây dựng được các
chuyên đề với nội dung có thể là:
Nội dung mới được triển khai trong năm học như chuyên đề “Nâng cao chất
lượng giáo dục phát triển vận động cho trẻ trong trường mầm non”, chuyên đề về
“Bảo vệ tài nguyên, môi trường biển, hải đảo; chuyên đề “Giáo dục ứng phó với
biến đổi khí hậu và phòng, chống thiên tai trong trường Mầm non”...
Nội dung khó giáo viên còn vướng mắc trong năm học trước hoặc những nội
dung quy định trong chương trình giáo dục mầm non nhưng giáo viên không lựa
chọn để thực hiện chẳng hạn như các nội dung về làm quen với Toán... Đề tài của
các chuyên đề cũng được các tổ chú ý bám sát nội dung yêu cầu cụ thể và gần gũi.
Là những nội dung đã thực hiện nhưng có những điểm mới trong việc tiếp
Khác với một số cán bộ quản lý, để thực hiện chuyên đề thường chọn, phân
công những giáo viên giỏi hoặc giáo viên lâu năm có khả năng giữ bình tĩnh, đủ tự
tin khi tổ chức hoạt động trước tập thể sư phạm nhà trường, tránh tình trạng giáo
viên thực hiện quá hồi hộp mà không xử lí được các tình huống đã chuẩn bị theo
chuyên đề. Tôi lại có ý kiến chỉ đạo và cũng được sự thống nhất cao trong hội đồng
sư phạm nhà trường, việc lựa chọn giáo viên tham gia tổ chức chuyên đề không
nhất thiết lúc nào cũng là giáo viên cốt cán mà nên tạo điều kiện cho giáo viên
mới, giáo viên có ít kinh nghiệm được cọ xát, thể hiện bản thân nhất là những hoạt
động chuyên đề về hoạt động học. Thiết nghĩ với việc lựa chọn đó giúp cho giáo
viên mới chủ động trong việc tìm hiểu chuyên môn, có thể mạnh dạn, cố gắng tự
tin để thể hiện bản lĩnh cá nhân cũng như sẽ nhận được nhiều những ý kiến đóng
góp của đồng nghiệp từ đó nâng cao tay nghề và kinh nghiệm giảng dạy cho bản
thân đồng thời cũng là cách thức để Ban giám hiệu đánh giá năng lực của giáo viên
hiệu quả.
b. Với chuyên đề do chuyên môn nhà trường tổ chức:
Trong năm học, qua hoạt động dự giờ, thăm lớp, Ban giám hiệu sẽ nắm bắt
được những vấn đề giáo viên đang còn hạn chế, khó khăn trong quá trình thực hiện
chẳng hạn việc thiết kế bài giảng điện tử, sử dụng các phần mềm ứng dụng hoặc
những chuyên đề mới được Sở GD, Phòng GD bồi dưỡng. Bản thân tôi sẽ trực tiếp
xây dựng kế hoạch, nội dung phù hợp với tình hình của nhà trường để báo cáo, tổ
chức triển khai hoặc phân công giáo viên được tham gia tập huấn báo cáo lại.
5.3. Thực hiện chuyên đề - Dự giờ.
Sau khi đã xây dựng được nội dung cụ thể, phân công giáo viên thực hiện và
thời gian thực hiện chuyên đề thì sẽ tổ chức theo kế hoạch.
Thực hiện chuyên đề là hoạt động thực tế nhằm làm sáng tỏ và minh chứng
cho những vấn đề đã được trình bày trong kế hoạch, biến những ý tưởng thành
5
hiện thực và nhằm giải quyết những vấn đề thực tế trong giảng dạy. Đối với những
lớp, tên giáo viên, hoạt động, đề tài của chuyên đề để giáo viên xem và chuẩn bị
trước. (Nếu tổ chức chuyên đề không thông báo những nội dung trên hoặc giáo
viên không xem trước bài thì khi dự xong giáo viên không nắm bắt được ý tưởng
của chuyên đề để đóng góp ý kiến).
Vì đặc thù của nhà trường là lớp đông, mỗi lớp 2 giáo viên nên việc thực
hiện chuyên đề thường phải tổ chức hai lần trừ những chuyên đề kịch bản, hội thi
để các giáo viên linh động sắp xếp thời gian dự giờ. Trong quá trình dự giờ bản
thân tôi cũng nhắc giáo viên cần ghi đầy đủ diễn biến hoạt động, nắm bắt định
hướng của chuyên đề để tham gia buổi thảo luận đạt hiệu quả...
6
Ví dụ: Chuyên đề làm quen với Toán: “Nhận biết ý nghĩa của các con số
được sử dụng trong cuộc sống hằng ngày” hay “Gọi đúng tên các ngày trong tuần”.
Đây là đề tài mà nhiều giáo viên ngại không chọn để thực hiện trong quá trình dạy
vì cho rằng đề tài này nếu dạy không khéo sẽ dễ nhầm lẫn với khám phá khoa học
nên trước khi đi dự giờ giáo viên cần nắm bắt được đề tài của chuyên đề và phải tự
chuẩn bị trước cho bản thân những dự kiến của hoạt động để khi dự giờ sẽ có nhìn
nhận vấn đề nhanh chóng và hiệu quả hơn....
Hoặc chuyên đề khám phá khoa học “ Bé tìm hiểu về hiện tượng lũ lụt” là
chuyên đề giáo dục trẻ ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng, chống thảm họa
thiên tai trong trường mầm non, trước khi đi dự giờ giáo viên phải tìm hiểu các nội
dung liên quan thông qua các tài liệu đã được cung cấp vào đầu năm học để trong
quá trình dự giờ nắm bắt được cách giáo viên vận dụng, lồng ghép nội dung như
thế nào?...
Đối với việc tổ chức chuyên đề là các hoạt động học cần chú ý chuẩn bị lớp
chu đáo, có đủ chỗ ngồi cho giáo viên dự. Tránh tình trạng giáo viên ngồi chen
nhau, ngồi bên ngoài lớp học, không quan sát hết trình tự tiết dạy.
5.4. Thảo luận :
Đây là khâu cuối cùng trong dự giờ, nhận xét, rút kinh nghiệm việc tổ chức
dụng hiệu ứng bằng cách thiết kế một đoạn video minh họa cho bài nghe hát đã
được phát huy tác dụng không?
Ngoài ra để phát huy tính tự giác và tích cực tìm hiểu nội dung của các
chuyên đề cần khuyến khích các giáo viên đưa ra những luận điểm chứng minh
những phương pháp và hình thức của chuyên đề hợp lí hoặc chưa hợp lý, có những
phân tích để bảo vệ những nội dung mình cho là đúng. Có như vậy buổi thảo luận
mới đi đến một thống nhất cao hơn. Tránh tình trạng giáo viên cả nể, ngại khi đưa
ra ý kiến đối với người tổ chức mà không dám chỉ ra cái sai, cái chưa hợp lí của
chuyên đề.
Phải hiểu rằng việc xây dựng và tổ chức chuyên đề là để cùng nhau học tập,
tháo gỡ những vấn đề còn khó khăn, vướng mắc hoặc chia sẻ những kinh nghiệm
trong quá trình tổ chức chứ không phải để chỉ trích, phê bình. Với tinh thần đó, tôi
luôn muốn giáo viên khi tham gia thảo luận cần khách quan, dân chủ trong việc
nêu ý kiến cá nhân. Tránh tình trạng khi giáo viên chỉ ra cái không hợp lí của
chuyên đề thì tổ chuyên môn đổ lỗi cho giáo viên thực hiện không thể hiện đúng ý
định của chuyên đề đã xây dựng hoặc nói nước đôi.
Ví dụ: Qua chuyên đề: “Bé vui cùng chú bộ đội” do khối Mẫu giáo Bé –
Nhà trẻ tổ chức, tôi muốn giáo viên thảo luận về cách tổ chức như vậy đã phù hợp
chưa? Có điểm nào cần lưu ý trong quá trình tổ chức? Nếu là các cô hoặc tổ của
các cô thì có ý kiến gì để làm mới hoặc phong phú thêm cho nội dung chuyên đề.
Với những gợi ý đó tôi cũng như mọi người tham dự thảo luận được nghe những ý
kiến rất thẳng thắn của những người nhận xét chẳng hạn như: kịch bản của chuyên
đề tương đối tốt nhưng trong quá trình tổ chức cách bố trí các tiết mục văn nghệ
lên xuống sân khấu hơi lộn xộn, người dẫn chương trình chưa có sự giao lưu nhiều
đối với trẻ là khán giả bên dưới hoặc trong quá trình tổ chức giáo viên các lớp cần
chú ý quán xuyến trẻ lớp mình tốt hơn để không làm ồn, ảnh hưởng đến việc tổ
chức trên sân khấu. Ngoài ra, còn có ý kiến đề xuất nên bỏ nội dung trang trí mâm
quả trong chuỗi các trò chơi trong chuyên đề chỉ giữ lại hoạt động gắn hoa đào,
hoa mai và làm bánh chưng, bánh tét vừa phù hợp với lứa tuổi vừa tiết kiệm thời
gian. Như vậy, việc tạo cơ hội để các giáo viên nêu ý kiến cá nhân sẽ giúp cho tổ,
trong thực tế những “nội dung đưa ra trong chuyên đề đúng hay sai – tổ chức
chuyên đề - thảo luận - định hướng cho chuyên đề” tất cả những nội dung đó đều là
lí thuyết. Phần thực hành chính để đánh giá chuyên đề có hiệu quả hay không, là
phần giáo viên áp dụng những nội dung đó vào thực tế tổ chức hoạt động. Khi áp
dụng chuyên đề trong giảng dạy cần lưu ý giáo viên phải biết linh hoạt, sáng tạo
biết tự điều chỉnh sao cho phù hợp với từng đối tượng trẻ trong lớp. Tránh áp dụng
một cách máy móc sẽ không mang lại hiệu quả tích cực. Và đặc biệt trong quá
trình áp dụng, giáo viên thấy khó khăn cần có ý kiến với tổ, khối chuyên môn để
cùng bàn bạc tháo gỡ.
Việc kiểm tra chuyên đề bắt đầu từ khi lập kế hoạch và được thực hiện
thường xuyên trong suốt quá trình triển khai và áp dụng. Qua mỗi lần kiểm tra,
người được kiểm tra sẽ nhận được những lời nhận xét, góp ý của đồng nghiệp để
rút kinh nghiệm, thực hiện áp dụng tốt hơn. Và phần kiểm tra chủ yếu của một
chuyên đề là khi đưa nội dung chuyên đề vào thực tế giảng dạy. Chúng ta có thể tổ
chức kiểm tra bằng những cách sau:
Giáo viên tự đánh giá việc thực hiện và áp dụng chuyên đề của bản thân.
Giáo viên kiểm tra chéo lẫn nhau.
Ban giám hiệu nhà trường, các tổ trưởng chuyên môn tăng cường dự giờ
kiểm tra, đánh giá rút kinh nghiệm đối với các thành viên trong nhà trường. Qua
9
dự giờ mới có thể nhận thấy những ưu điểm và tồn tại của chuyên đề, hay phát sinh
thêm những vấn đề mới. Từ đó đưa ra những giải pháp bổ sung để thực hiện, tháo
gỡ vướng mắc khó khăn mới nảy sinh để kịp thời điều chỉnh.
5.6. Tổng kết chuyên đề :
Khi dự giờ kiểm tra ứng dụng chuyên đề trên thực tế và thu thập ý kiến giáo
viên. Ban giám hiệu cần tổng kết đánh giá và định hướng tiếp theo cho chuyên đề.
Tổng kết chuyên đề là đánh giá lại cả quá trình của chuyên đề, kết quả thực hiện
của chuyên đề, đánh giá lại những điểm không hợp lí, những vấn đề phát sinh, khả
10
Từ chất lượng đội ngũ được nâng lên dẫn đến chất lượng học sinh cũng được
nâng lên.
Trẻ ngày càng trở nên tự tin, phát huy vai trò chủ động sáng tạo trong hoạt
động. Trẻ được thực hành trải nghiệm và có cơ hội bộc lộ khả năng của bản thân
do được tham gia nhiều hoạt động chuyên đề. Cách học của trẻ thông qua các hoạt
động trải nghiệm, sử dụng các giác quan, trẻ dần được rèn luyện kỹ năng hoạt động
nhóm.
Đối với các chuyên đề tổ chức kịch bản, số lượng trẻ tham gia và thể hiện
năng khiếu cá nhân nhiều là điều kiện để giáo viên phát hiện và rèn luyện nhằm
phát huy những khả năng của trẻ, tạo tiền đề tốt để trẻ tham gia các hoạt động sau
này.
Từ kết quả trên đã chứng minh những thay đổi trong biện pháp chỉ đạo tổ
chức các chuyên đề trong nhà trường nhằm nâng cao tay nghề cho đội ngũ giáo
viên mà tôi đưa ra có tính khả thi trong thực tiễn, nó góp phần nâng cao chất lượng
chăm sóc giáo dục trong nhà trường.
7. Kết luận
Mục tiêu cuối cùng của giáo dục mầm non là giúp trẻ phát triển toàn diện.
Muốn đạt được mục tiêu này không có con đường nào khác là phải bồi dưỡng,
nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, chất lượng dạy học. Giáo viên phải thường
xuyên học hỏi, cập nhật thông tin, nâng cao trình độ để có thể đáp ứng được nhu
cầu chăm sóc giáo dục cũng như nhu cầu nâng cao chất lượng giáo dục, thực hiện
tốt nhiệm vụ năm học và nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội đối với địa phương
Một trong những con đường đưa đến thành công đó chính là việc nâng cao
chất lượng chuyên đề trong nhà trường đây là cơ hội để giáo viên có thể trao đổi
kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau. Song việc tổ chức chuyên đề cần có điểm mới,
mang tính khoa học, hiệu quả cao.
Tay nghề của giáo viên được nâng lên đồng nghĩa với chất lượng giảng dạy
chuyên đề không cao đồng thời có sự chỉ đạo sâu sát đến việc nâng cao tay nghề
cho đội ngũ thông qua con đường tổ chức hoạt động chuyên đề.
Trong công tác chuyên đề cần kết hợp chặt chẽ nội dung lí thuyết với phần
thực hành. Phải biết đúc kết kinh nghiệm trên thực tế giảng dạy của giáo viên,
tránh nặng về lí thuyết bỏ qua thực tế.
Rút kinh nghiệm chuyên đề là khâu không thể thiếu trong quá trình thực
hiện. Khi rút kinh nghiệm cần chỉ rõ những ưu điểm của chuyên đề để tiếp tục phát
huy và tìm những nhược điểm của chuyên đề để khắc phục kịp thời. Chuyên đề
được đánh giá tốt khi chuyên đề đó giải quyết được vấn đề khó, vướng mắc và góp
phần nâng cao chất lượng dạy học.
Xuyên suốt đề tài là các biện pháp chỉ đạo tổ chức chuyên đề trong nhà
trường một cách có hiệu quả. Việc nghiên cứu, vận dụng và phát triển thêm nhiều
biện pháp hay trong quá trình chỉ đạo thực hiện các chuyên đề tại nhà trường là
việc nên làm. Bản thân tôi sẽ cố gắng học hỏi, hoàn chỉnh với sự trợ giúp của các
đồng nghiệp trong công tác quản lý để triển khai nội dung này đạt hiệu quả hơn.
8. Kiến nghị:
Tăng cường tổ chức các đợt tập huấn chuyên đề tập trung để tất cả giáo viên
tham gia nắm bắt trực tiếp, thuận lợi hơn.
Tăng cường tổ chức các đợt hội thảo chuyên đề để tất cả CBGV được thảo
luận, rút kinh nghiệm, tháo gỡ vướng mắc trong quá trình thực hiện.
Nhân rộng những sáng kiến hay về công tác quản lý, tổ chức chuyên đề tại
các trường mầm non, mẫu giáo để cùng nhau xây dựng chất lượng của bậc học
ngày càng đạt nhiều kết quả, đem đến sự tin tưởng đối với phụ huynh và xã hội về
chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trong nhà trường đạt hiệu quả cao hơn.
12
PHỤ LỤC
CÁC CHUYÊN ĐỀ HOẠT ĐỘNG HỌC
Hình 11. Trẻ tham gia hoạt động làm quen chữ cái
Hình 14. Giáo viên tổ chức hoạt động làm quen với toán cho trẻ mẫu giáo Bé
18
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Chương trình Giáo dục Mầm non – NXB Giáo dục Việt Nam – 2009.
Các văn bản, kế hoạch chỉ đạo của Sở GD&ĐT Quảng Nam, Phòng Giáo
dục và Đào tạo thành phố Tam Kỳ.
Chương trình bồi dưỡng hè 2013- 2014, 2014 – 2015.
Hướng dẫn tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục trong trường mầm non
theo chủ đề các độ tuổi.
Hướng dẫn xây dựng và thực hiện kế hoạch giáo dục theo chủ đề các độ tuổi.
Tài liệu bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục mầm non năm 2010.
Luật giáo dục - Nhà xuất bản chính trị quốc gia.
Chương trình bồi dưỡng thường xuyên trên trang http://tailieu.moet.gov.vn.
19
MỤC LỤC
1.Tên đề tài: MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN CÓ HIỆU QUẢ
VIỆC TỔ CHỨC CHUYÊN ĐỀ TRONG TRƯỜNG MẦM NON. ........................ 1
2. Đặt vấn đề:............................................................................................................. 1
3. Cơ sở lý luận ......................................................................................................... 1
4. Cơ sở thực tiễn ...................................................................................................... 2
5. Nội dung nghiên cứu ............................................................................................. 3