SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
" ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG ĐỔI MỚI
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG DÂN
TỘC NỘI TRÚ"
1
A/ PHẦN MỞ ĐẦU :
1. Bối cảnh của đề tài:
Hiện nay, cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật công nghệ phát triển ngày càng
nhanh và đang được ứng dụng vào nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội của thế giới nói chung
và nước ta nói riêng. Đặc biệt đã và đang ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực giáo dục và
đào tạo. Một trong những phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển trong giai đoạn
mới của nước ta là tiếp tục nâng cao chất lượng toàn diện, đổi mới nội dung và phương
pháp dạy và học, thực hiện “chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa” giáo dục. Cùng với xu
hướng phát triển của đất nước, ngành giáo dục đang đẩy mạnh việc đổi mới phương pháp
dạy học bằng ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học.
2. Lí do chọn đề tài:
Môn ngữ Văn có vị trí đặc biệt quan trọng góp phần hình thành những con người có
trình độ học vấn phổ thông cơ sở…Đó là những con người có ý thức tự tu dưỡng, biết
yêu thương, quý trọng gia đình, bạn bè, có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, biết
hướng tới những tư tưởng, tình cảm cao đẹp như lòng nhân ái, tinh thần tôn trọng lẽ phải,
sự công bằng, lòng căm ghét cái xấu, cái ác. Đó là những con người biết rèn luyện để có
tính tự lập, có tư duy sáng tạo, bước đầu có năng lực cảm thụ các giá trị chân, thiện, mỹ
trong nghệ thuật trước hết trong văn học, có năng lực thực hành và năng lực sử dụng
tiếng Việt như một công cụ để tư duy và giao tiếp. Đó cũng là những người có ham muốn
đem tài trí của mình cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc.
Trước tình hình và yêu cầu cấp bách đặt ra đòi hỏi mỗi một người giáo viên cần phải
3
- Giúp học sinh Dân tộc Nội trú tham gia tích cực trong học tập. Tạo cho học sinh tính
năng động, chủ động , tự tin trong học tập.
- Giúp học sinh không chỉ góp phần tích hợp nhuần nhuyễn giữa phân môn ngữ Văn mà
tạo cơ hội để môn ngữ Văn tích hợp được với các môn khác như Âm Nhạc, Mĩ Thuật,
Tin Học, Địa Lí… trong nhà trường.
- Giúp môn học hấp dẫn hơn, sinh động hơn, học sinh thêm yêu thích giờ học văn. Nhằm
phát triển tư duy độc lập, khả năng suy ngẫm của người học.
5. Sơ lược những điểm mới cơ bản nhất trong kết quả nghiên cứu
- Điểm mới trong kết quả nghiên cứu là: Ứng dụng công nghệ thông tin, bản đồ tư duy
trong dạy và học.
- Vận dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy ngữ Văn rất thuận lợi vì nó cung cấp một
kho tàng kiến thức khổng lồ, cập nhật tin tức nhanh chóng, cung cấp tư liệu về tác giả, tác
phẩm chính xác, đầy đủ, những hình ảnh, thước phim sinh động, hấp dẫn. Từ đó học sinh
tích cực, hào hứng, trong tiết học và đặc biệt người học đã phát huy được tính tích cực,
chủ động, sáng tạo trong học tập.
6. Tính sáng tạo về khoa học và thực tiễn của vấn đề
- Trước đây khi chưa áp dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy thì giáo viên dạy một
chiều, học sinh không hào hứng, không sôi nổi, không có sự sáng tạo, chưa tích cực trong
học tập. Giáo viên thường dạy chay, nếu có sử dụng đồ dùng dạy học chỉ là những hình
ảnh tĩnh.
- Khi áp dụng công nghệ thông tin như hiện nay thì tính sáng tạo thể hiện rất rõ: Học
sinh hào hứng, sôi nổi, say mê, sáng tạo tìm hiểu vấn đề trong giờ học. Học sinh hiểu bài
và nắm kiến thức bài học tốt hơn. Những hình ảnh hỗ trợ cho bài học thực tế, sống động,
4
quả tối đa qua một quá trình học đa giác quan.
Trong môi trường công nghệ thông tin người học phát huy được tất cả các kĩ năng về
nhìn, nghe, nói, đọc, viết. Quá trình hợp tác, tư vấn, đối thoại trở nên quan trọng. Giáo
viên đóng vai trò là người cố vấn, giúp đỡ học sinh tự tìm kiếm để nghiên cứu, tự biến
đổi thông tin thành tri thức, kĩ năng. Học sinh thực sự được chủ động, biết tự thích nghi,
tự kiểm soát và tự điều chỉnh.
Sự hoà nhập giữa công nghệ thông tin và truyền thông hình thành những mạng máy
tính, đặc biệt là Internet cung cấp những kho thông tin và tri thức khổng lồ, tạo điều kiện
để mọi người có thể giao lưu với nhau không bị hạn chế bởi thời gian và không gian.
Những thí nghiệm, tài liệu được cung cấp bằng nhiều kênh (hình, chữ, âm thanh sống
động) làm cho học sinh dễ thấy, dễ tiếp thu và bằng suy luận có lý, học sinh có thể có
những dự đoán về các tính chất, quy luật mới. Đây là một công dụng lớn của công nghệ
thông tin và truyền thông trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học. Có thể khẳng
định rằng, môi trường công nghệ thông tin và truyền thông chắc chắn sẽ có tác động tích
cực tới sự phát triển trí tuệ của học sinh và điều này làm nảy sinh những lý thuyết học tập
mới.
Quá trình dạy học là quá trình song song giữa hoạt động dạy của thầy và hoạt động học
của trò. Hiện nay, phương pháp dạy học Văn trong nhà trường phải đi theo con đường tôn
trọng và phát huy vai trò chủ thể tiếp nhận của học sinh, phải chuyển từ phương pháp
6
thầy diễn giảng, trò tiếp nhận thụ động sang phương pháp gợi tìm. Thầy tổ chức, hướng
dẫn, trò chủ động tích cực trong quá trình tìm hiểu nội dung bài học. Các hoạt động này
luôn hướng vào học sinh, lấy học sinh làm trung tâm, thầy tổ chức bài học theo hướng đa
dạng hóa các biện pháp và hình thức dạy học. Hoạt động này phải luôn nhịp nhàng với
hoạt động học để tiến tới mục tiêu bài học đã đặt ra cả về kiến thức, kĩ năng , thái độ. Bởi
vì, mục tiêu của quá trình dạy học hướng vào người học cho nên người dạy phải tìm mọi
cách để phát huy tính tích cực, chủ động của người học. Có như thế mới giúp người học
những dự đoán về các tính chất, quy luật mới. Đây là một công dụng lớn của công nghệ
thông tin và truyền thông trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học. Có thể khẳng
định rằng, môi trường công nghệ thông tin và truyền thông chắc chắn sẽ có tác động tích
cực tới sự phát triển trí tuệ của học sinh và điều này làm nảy sinh những lý thuyết học tập
mới.
- Một số học sinh đã biết sử dụng công nghệ thông tin qua mạng, học tiếng Anh, tìm
kiếm, tra cứu tài liệu mạng, trao đổi thông tin,…
2. Khó khăn:
* Về phía học sinh:
- Năng lực tự học, tự tìm tòi, nghiên cứu bài của học sinh còn nhiều hạn chế.
- Các em có chuẩn bị bài trước khi đến lớp, song sự chuẩn bị đôi khi còn đối phó.
8
- Hầu hết các em là con em đồng bào dân tộc Khmer, sống ở các xã vùng sâu, vùng xa ít
giao tiếp. Vì vậy các em còn nhút nhát, khả năng diễn đạt và trình bày một vấn đề còn
khó khăn lúng túng. Một số em chưa thành thạo tiếng Việt nên việc đọc, tìm hiểu, phân
tích, cảm thụ tác phẩm còn khó khăn, phát âm sai do lỗi phát âm địa phương.
- Một số em ít có khả năng độc lập suy nghĩ nên gặp khó khăn khi trả lời các câu hỏi có
tính suy luận hoặc bộc lộ cảm nhận của mình.
- Trước những vấn đề cần bộc lộ quan điểm, các em thường dựa vào cách hiểu, cách cảm,
cách đánh giá do giáo viên cung cấp.
- Một số em chưa có ý thức tự giác trong học tập, còn mải chơi và không có hứng thú khi
học môn Văn.
- Một số bộ phận học sinh chưa quen với phương pháp dạy học mới, do đó khả năng tập
trung chưa cao, phần nào ảnh hưởng đến chất lượng học tập của học sinh.
- Do các em chưa làm quen được với việc tự tìm tòi, nghiên cứu về những vấn đề trong
văn học, các thiết bị hiện đại.
* Về phía giáo viên:
kiến thức, kĩ năng gần gũi, bức thiết đối với cuộc sống trước mắt của con người và cộng
đồng, góp phần nâng cao hiệu quả giờ dạy Văn, để học sinh yêu thích giờ học Văn.
III. Giải pháp tình hình:
10
Thật ra, chúng ta đang sống giữa thời đại công nghệ và kĩ thuật số. Người học của
chúng ta bị bao vây bởi thế giới công nghệ. Nếu giáo viên dạy Văn hoàn toàn không biết
và không ứng dụng nó thì hoá ra chúng ta đang xa rời với thực tại chung. Công nghệ
thông tin không hề làm mất đi cảm xúc mà ngược lại còn tác động làm cho cảm xúc được
tăng thêm. Khi người học hứng thú với môn học thì giáo viên mới thật sự có cảm xúc.
Ví dụ: Khi dạy về truyện “Những ngôi sao xa xôi”, giáo viên có thể đưa học trò đến
với hình ảnh, thước phim chiến tranh ác liệt trên Internet để học sinh có thể quan sát, cảm
nhận và thấy được cuộc sống chiến đấu gian khổ của dân tộc ta, tạo hứng thú để việc cảm
thụ tác phẩm này được hiệu quả. Hoặc khi dạy bài thơ “Mây và Sóng” của Ta- go chúng
ta cho học sinh đến với những hình ảnh về tác giả và đất nước Ấn Độ thông qua Internet
để người học mở rộng hiểu biết.
Vậy cách thức ứng dụng như thế nào. Có rất nhiều cách để ứng dụng công nghệ thông
tin trong dạy văn. Trước hết, chúng ta có thể khai thác và sử dụng trang google để tìm
kiếm thông tin, hình ảnh và cho học sinh thấy trực tiếp trong quá trình giảng. Hay nói
cách khác lúc này máy tính và Internet sẽ trở thành đồ dùng trực quan sinh động và tự
động hiện đại nhất. Giáo viên không phải mất công làm đồ dùng dạy học như kiểu truyền
thống nữa. Kiểu truyền thống là sưu tầm tranh ảnh rồi đưa cho học trò xem. Cách này rất
mất công và không có nhiều. Hạnh phúc thay khi giáo viên và người học chỉ cần click
chuột là cả một thế giới sinh động hiện ra, vượt ra khỏi sự hạn chế về không gian và thời
gian. Chúng ta không phải tốn thời gian cho việc làm đồ dùng dạy học này.
Bên cạnh đó, chúng ta có thể dùng phần mềm powerpoint để thiết kế bài giảng và các
trò chơi khởi động gây hứng thú trước mỗi giờ dạy. Ở loại bài giới thiệu tác giả -tác
phẩm văn học nước ngoài như văn bản “Mây và sóng” của Ra-bin-đra-nát Ta -go, việc
Đồng thời giáo viên có thể cho học sinh nghe đọc thơ và xem một đoạn phim tư liệu
về tác giả từ máy tính.
Tổ chức ngoại khóa văn học Việt Nam, văn học nước ngoài, giáo viên có thể sử dụng
phần mềm potatoes để làm trò chơi ô chữ.
Trên đây là những ưu điểm của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
văn, tuy nhiên trong quá trình ứng dụng có thể có những trục trặc về mặt kĩ thuật. Nhiều
giáo viên thời gian đầu khi sử dụng phần mềm powerpoint để giảng dạy có tâm sự rằng
thay vì đọc chép là chiếu chép. Với kinh nghiệm của một người đã sử dụng, tôi thấy rằng,
để khắc phục điều này, giáo viên phải nắm thật kĩ nội dung bài dạy, không phải kiến thức
nào cũng chiếu hết lên. Chỉ chiếu lên những nội dung mang ý chính của bài. Kết hợp với
việc giảng của giáo viên, phải mở rộng ý ra, phát triển sâu hơn. Lúc đó cái tài của người
giáo viên sẽ hiển lộ. Vì công nghệ thông tin chỉ là phương tiện chứ không thể thay thế
được vai trò của người thầy. Đồng thời, để học sinh không thụ động trong quá trình học,
giáo viên cần giao nhiệm vụ, hoặc các chủ đề để học sinh làm việc nhóm, chuẩn bị trước
ở nhà.
Nói tóm lại, việc ứng dụng công nghệ thông tin khiến dạy văn học có rất nhiều ưu
điểm như nâng cao hiệu quả tiếp nhận, tạo hứng thú cho người học, tiết kiệm được thời
gian. Như vậy máy tính, Internet không phải là những công cụ vô hồn, nếu chúng ta biết
cách ứng dụng thì chúng sẽ hỗ trợ rất đắc lực cho việc dạy môn Văn vốn rất đặc trưng.
Chính vì thế giáo viên cần phải nâng cao trình độ sử dụng công nghệ thông tin để đáp
ứng yêu cầu của thời đại.
Sau đây là: Việc thiết kế giáo án điện tử trong giờ dạy Văn
13
* Việc thiết kế giáo án điện tử được chuẩn bị như sau:
- Bước 1: Để tiến hành soạn giáo án điện tử, trước hết giáo viên cần soạn kỹ giáo án
truyền thống để thực thi trên lớp theo đúng mẫu qui định của tổ chuyên môn và sự thống
nhất chung của Sở giáo dục và đào tạo.
Hình ảnh Bác Hồ
Phần đọc tác phẩm, có thể vận dụng băng tư liệu, băng ngâm thơ, băng hình minh họa…
Nhân vật Ro Bin Xơn
Truyện Lục Vân Tiên
- Slide 4 đến các slide tiếp theo:
Là các nội dung tương ứng với từng phần trong nội dung bài dạy và tương ứng với
từng phần trong thiết kế giảng dạy của giáo án. Trong các slide này, giáo viên có thể chèn
các hình ảnh, câu hỏi, bài tập để học sinh thảo luận nhóm rút ra nội dung được bài học.
16
Hình ảnh đầu
Hình ảnh hàng tre
súng trăng treo trong bài thơ Hình ảnh hàng tre trước lăng Bác
“ĐồngChí”
Học sinh nhìn vào các hình ảnh này để tóm tắt truyện ngắn “Chiếc Lược Ngà” của
Nguyễn Quang Sáng
- Slide ở phần củng cố bài:
17
Qua hình ảnh học sinh nêu cảm nhận về tình cảm mẹ con trong bài thơ “ Mây và
Sóng” của Ta go.
+ Hệ thống bài luyện tập …
- Slide trò chơi.
- Slide củng cố bài.
TRẢ LỜI CÁC CÂU HỎI SAU
Học sinh chọn hình để trả lời câu hỏi
Ghép tác giả với tác phẩm
- Slide dặn dò.
Bước 2.2: Tiến hành soạn nội dung bài vào các slide và chọn cách trình chiếu thích hợp.
Bước 2.3: Yêu cầu chung cho việc chuẩn bị giáo án điện tử bằng các slide:
a. Yêu cầu chung:
20
- Vận dụng công nghệ thông tin phải đúng lúc, đúng chỗ, bảo đảm đặc trưng bộ môn
nhằm tạo hiệu quả cao cho giờ học.
- Giáo án điện tử không thể thay thế giáo án truyền thống mà đó chỉ là phương tiện hỗ trợ
cho giáo viên trong việc thực hiện các phương pháp dạy học theo hướng đổi mới phương
pháp, các khâu của quá trình dạy học.
- Giáo án điện tử giúp giáo viên tiết kiệm thời gian ghi bảng, góp phần thể hiện đồ dùng
dạy học, thay thế hệ thống bảng phụ cồng kềnh cho giáo viên, trình chiếu các tư liệu dạy
giữa giáo viên và học sinh qua hệ thống bài tập, câu hỏi nêu vấn đề... cũng như giữa học
sinh – học sinh khi thảo luận nhóm. Đặc biệt, giáo viên phải lưu ý đến mối quan hệ mật
thiết giữa nội dung trình chiếu với giáo án văn bản nhằm bảo đảm tính trực quan mà vẫn
phát huy được tính tích cực của học sinh và kế hoạch lên lớp của tiết dạy.
- Tránh tình trạng biến giờ ngữ Văn thành giờ trình chiếu phim ảnh, tư liệu. Đặc biệt,
đối với giờ đọc - hiểu nếu sử dụng phim ảnh quá lạm dụng sẽ làm học sinh có ấn tượng
về nhân vật trong phim mà không tự hình dung, tưởng tượng về nhân vật văn học.
- Việc giảng dạy bằng giáo án điện tử phải thật sự «ăn khớp» giữa lời giảng của giáo
viên và nội dung trình chiếu trên các slide, tránh tình trạng lời giáo viên một đằng, nội
dung bài chạy ra một nẻo.
- Đặc biệt, giáo án điện tử phải là sản phẩm của chính mình, tự mình thiết kế, không sử
dụng các giáo án có sẵn trên mạng.
22
Với một tiết đọc – hiểu văn học Việt Nam hiện đại cần thận trọng trong việc vận dụng
công nghệ thông tin. Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học cần kết hợp được
một cách hài hòa giữa ý tưởng thiết kế nội dung và kĩ thuật vi tính. Một mặt phải bảo
đảm đặc trưng bộ môn, chuyển tải được các đơn vị kiến thức cơ bản cần thiết, mặt khác
cần bảo đảm tính thẩm mĩ, khoa học và thuận tiện trong việc sử dụng. Đối với bộ môn
ngữ Văn, việc ứng dụng công nghệ thông tin cần nghiên cứu một cách kĩ lưỡng hơn. Cần
đặt ra nhiều câu hỏi để trả lời trước khi vận dụng: Ứng dụng những gì? Ứng dụng vào bài
nào? Khi nào? Và bằng cách nào? …
- Khi thiết kế bài giảng PowerPoint cần bảo đảm được tính hệ thống, tính mạch lạc, tính
chính xác và hướng đến các hoạt động phát huy tính tích cực của học sinh, nên làm cho
học sinh được bộc lộ suy nghĩ của mình qua giờ học..Sự trình diễn đừng quá cầu kì phô
diễn mà phải chú ý mục tiêu đặt ra từ bài học.
Tuy nhiên, không phải bài nào ta cũng dạy qua máy, cần có sự chọn, không nên chạy
theo phong trào mà không nghĩ đến tính hiệu quả. Khâu chuẩn bị bài cũng phải chu đáo
39 %
41 %
14 %
2010 - 2011 8 %
37,5 %
41,4 %
13,1 %
2009 - 2010 9,6 %
45,2 %
35,7 %
9,5%
2010 - 2011 11,6 %
37,2 %
49,2 %
2%
bình
2009 - 2010 8 %
29,6 %
48,9 %
13,5 %
2010 - 2011 9 %
25.4 %
54 %
11.6 %
Sau khi áp dụng
2009 - 2010
11,6 %
37,2 %
49,2 %
2%
2010 - 2011
các nghệ sĩ ngâm thơ, bình thơ… hầu hết các em đều rất thích thú say mê học văn, giờ
học nhẹ nhàng hơn, sinh động hơn, lôi cuốn hơn. Từ đó nâng cao chất lượng bộ môn.
* Bài học kinh nghiệm:
25