Sáng kiến kinh nghiệm SKKN giáo dục dinh dưỡng cho trẻ mẫu giáo 4 5 tuổi trong hoạt động hướng dẫn trẻ làm quen với môi trường xung quanh - Pdf 39

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:
“GIÁO DỤC DINH DƯỠNG CHO TRẺ MẪU GIÁO 4 – 5 TUỔI
TRONG HOẠT ĐỘNG HƯỚNG DẪN TRẺ LÀM QUEN VỚI MÔI
TRƯỜNG XUNG QUANH”


LỜI NÓI ĐẦU
Như chúng ta đã biết Bác Hồ đã nói :
“Trẻ em như búp trên cành.
Biết ăn, biết ngủ học hành là ngoan”.
Quả đúng là như vậy trẻ em như búp non trên cành nếu được chăm sóc cẩn thận thì
chồi non đó sẽ phát triển. Cũng như con người nếu được chăm sóc ngay từ khi mới sinh
của người mẹ và gia đình cho đến khi đứa trẻ đó được tới trường, tới lớp được sự chăm
sóc chu đáo của cô giáo mầm non thì đứa trẻ đó sẽ phát triển toàn diện về “ Đức, trí, lao,
thể, mỹ”. Muốn đứa trẻ phát triển toàn diện thì điều đầu tiên chúng ta nhắc đến đó là “
sức khoẻ” do đó dinh dưỡng là nhu cầu sống hàng ngày của mỗi con người. Trẻ em cần
dinh dưỡng để phát triển về thể lực và trí tuệ và góp phần phát triển toàn diện nhân cách
cho trẻ, người lớn cần dinh dưỡng để duy trì sự sống và làm việc.
Dinh dưỡng học nghiên cứu mối quan hệ thiết yếu giữa thức ăn và cơ thể con người,
tất cả chúng ta đều thấy rõ tầm quan trọng của việc ăn uống là một nhu cầu hằng ngày,
một nhu cầu cấp bách bức thiết không thể không có. Tuy vậy hiện nay trong nền kinh tế
thị trường các vấn đề nảy sinh do chế độ dinh dưỡng không đầy đủ và không hợp lý vẫn
là điều mọi người phải quan tâm xem xét. Chúng ta biết rằng tình trạng dinh dưỡng tốt
của mọi người nói chung, trẻ em nói riêng phụ thuộc vào khẩu phần dinh dưỡng thích
hợp, việc được chăm sóc sức khoẻ đầy đủ có môi trường sống hợp vệ sinh.
Trên cơ sở nhận thức được tầm quan trọng của giá trị dinh dưỡng và điều kiện kinh tế
hiện nay, là một giáo viên mầm non tôi cần giáo dục dinh dưỡng cho mọi người, nhất là
đối với trẻ ngay ở độ tuổi mầm non.
Giáo dục dinh dưỡng là một quá trình tác động có tác động có mục đích, có kế hoạch

triển kinh tế xã hội” Giáo dục là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và toàn dân.
Mục đích của nền giáo dục XHCN Việt Nam là đào tạo ra những con người có kiến
thức văn hoá, có sức khoẻ, có kỹ năng nghề nghiệp, lao động tự chủ sáng tạo và có kỷ
luật, giàu lòng nhân ái, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, có cuộc sống lành mạnh đáp ứng
nhu cầu phát triển của đất nước.
Các cơ sở giáo dục mầm non có nhiệm vụ tạo điều kiện tốt nhất để trẻ phát triển hài hoà
thể chất và tinh thần, phối kết hợp giữa gia đình và nhà trường, gia đình - xã hội để chăm
sóc giáo dục trẻ từ 0-6 tuổi phát triển một cách toàn diện, đặt nền tảng đầu tiên cho sự
hình thành những phẩm chất con người mới XHCN :


Khoẻ mạnh, nhanh nhẹn cơ thể phát triển hoàn hảo cân đối.


Giàu lòng yêu thương, biết quan tâm, nhường nhịn giúp đỡ những người gần gũi,
thật thà, lễ phép, mạnh dạn, hồn nhiên.

Yêu thích cái đẹp, biết giữ gìn cái đẹp và mong muốn tạo ra những cái đẹp xung
quanh.



Thông minh, ham hiểu biết, thích khám phá tìm tòi, có một số kỹ năng sơ đẳng
( quan sát, so sánh, phát triển tổng hợp, suy luận ) cần thiết để lên lớp lớn và tiếp tục và
trường phổ thông, thích đi học.
Như chúng ta đã thấy vấn đề dinh dưỡng chiếm một vị trí rất quan trọng. Có ảnh hưởng
quyết định đến sự sinh trưởng và phát triển cơ thể trẻ. Vì vậy chương trình lồng ghép
giáo dục nội dung dinh dưỡng vào giảng dạy cho trẻ mẫu giáo nhằm giúp trẻ hiểu và
nhận biết về lợi ích của vấn đề dinh dưỡng đối với cơ thể con người và tạo ra sự liên
thông về giáo dục dinh dưỡng liên tục từ lứa tuổi mẫu giáo đến lứa tuổi học đường, tiến

Khách thể nghiên cứu : Biện pháp giáo dục dinh dưỡng cho trẻ.

2Đối tượng nghiên cứu : Biện pháp giáo dục dinh dưỡng cho trẻ 4 – 5 tuổi trường
mầm non Quang Trung.
3-

Phạm vi nghiên cứu : Lớp mẫu giáo nhỡ trường mầm non Quang Trung.

IV. Các giả thiết nghiên cứu:
Nếu chúng ta tìm ra được một số biện pháp giáo dục dinh dưỡng cho trẻ mẫu giáo 45 tuổi trường mầm non Quang Trung trong quá trình hướng dẫn trẻ làm quen với môi
trường xung quanh một cách phù hợp sẽ hạ thấp dần tỷ lệ suy dinh dưỡng tới mức thấp
nhất hoặc không còn.
V. Nhiệm vụ nghiên cứu :
1Nghiên cứu cơ sở lý luận về vấn đề dinh dưỡng và giáo dục dinh dưỡng cho trẻ
mẫu giáo.
2Đề xuất một số biện pháp giáo dục dinh dưỡng cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi trường
mầm non Quang Trung năm học 2008 – 2009.
VI. Phương pháp nghiên cứu:
1-

Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:

Tôi đã tìm ra được các tài liệu sau có liên quan tới để hoàn thành đề tài:
-

Giáo dục học trẻ em.

-

Tâm lý học trẻ em.


3-

Phương pháp đàm thoại trò chuyện.

Là phương pháp trò chuyện giữa giáo viên với các đồng nghiệp, phụ huynh của trẻ
và với trẻ để tìm hiểu sự hiểu biết của trẻ về thức ăn giúp trẻ nắm được những tri thức
mới về dinh dưỡng, tìm hiểu sự hiểu biết của đồng nghiệp và của phụ huynh về dinh
dưỡng thế nào ?
4-

Phương pháp điều tra:

Tôi đã tiến hành điều tra những vấn đề sau:
4.1 Điều tra sức khoẻ của trẻ
stt

Họ
tên

Ngày
sinh

mẹ
Tên

Kênh
Nghề A
nghiệp


là mới nhưng cũng không hoàn toàn cũ.
Từ những năm trước đây, vấn đề này đã được rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu, các
chuyên gia về dinh dưỡng đã được rất nhiều thành công, họ đã tìm ra rất nhiều phương
pháp hữu hiệu để phòng chống suy dinh dưỡng. Những phương pháp đó không phải nơi
nào cũng áp dụng có hiệu quả vì còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, phong tục tập quán,
hoàn cảnh sống, điều kiện của địa phương, của từng gia đình khác nhau.
Nhận thấy đây là vấn đề rất quan trọng và cấp thiết nên tôi đã mạnh dạn nghiên cứu
vấn đề “ Giáo dục dinh dưỡng cho trẻ mẫu giáo nhỡ 4-5 tuổi trong quá trình hướng dẫn
trẻ môi trường xung quanh” trường mầm non Quang Trung.
VIII. Kế hoạch thời gian thực hiện:
-

Thời gian đăng ký đề tài : 15/10/2008.

-

Thời gian làm đề cương sơ lược : 20/10 – 30/10/2008.

-

Thời gian làm đề cương chi tiết : 01/11 – 15/11/2008.

-

Duyệt đề cương : 20/11/2007.

-

Thời gian viết nháp bản thảo : 20/11 – 30/12/2008.


Con người cần có dinh dưỡng để duy trì sự sống và làm việc, dinh dưỡng là nhu cầu
bức thiết không thể không có của sinh vật.
Giáo dục trẻ mầm non những kiến thức sơ đẳng về lương thực, thực phẩm và giá trị
dinh dưỡng của những loại thức ăn đó. Từ đó trẻ sẽ ăn hết các loại thức ăn mà mẹ và cô
giáo nấu, không kén chọn thức ăn là biện pháp tốt nhất nâng cao sức khoẻ góp phần từng
bước hạ thấp tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em.
Đưa vấn đề giáo dục dinh dưỡng sức khoẻ vào bài giảng sẽ tạo ra cho trẻ sự hứng thú,
thoải mái trong học tập cũng như trong vui chơi.
Giáo dục dinh dưỡng, sức khoẻ góp phần quan trọng trong chiến lược con người tạo ra
một lớp người mới có sự hiểu biết đầy đủ về vấn đề dinh dưỡng - sức khoẻ, biết chọn
thức ăn một cách thông minh và tự giác ăn uống để đảm bảo sức khoẻ cho mình.


Tạo ra một sự liên thông về giáo dục dinh dưỡng liên tục từ tuổi mẫu giáo đến tuổi học
đường.
Dinh dưỡng và giáo dục dinh dưỡng luôn chiếm một vị trí quan trọng trong giáo dục
mầm non, là nền tảng cho tương lai của trẻ sau này.
2. Nội dung giáo dục dinh dưỡng.
a. Cơ sở lý luận.
- Giúp trẻ hiểu giá trị dinh dưỡng của thực phẩm, lợi ích của lương thực thực phẩm.
Giá trị dinh dưỡng không chỉ phụ thuộc vào thành phần hoá học của các loại lương
thực thực phẩm mà còn phụ thuộc vào một số yếu tố khác như: cách bảo quản, chế biến,
Thực tế trong mỗi loại lương thực thực phẩm đều có chất dinh dưỡng khác nhau. Vì vậy
chúng ta nên phối hợp các loại lương thực thực phẩm khác nhau để có đầy đủ và cân đối
các chất dinh dưỡng là một nhu cầu cấp bách nhất của xã hội đối với trẻ em, nó chiếm
một vị trí đặc biệt quan trọng, có ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cơ thể
trẻ. Để nuôi dưỡng tốt về dinh dưỡng cần phải có khẩu phần ăn đảm bảo về số lượng,
chất lượng các loại lương thực thực phẩm để đảm bảo cho giáo dục dinh dưỡng tốt ta cần
giáo dục cho trẻ hiểu biết về giá trị dinh dưỡng của các loại lương thực thực phẩm thông
qua trò chơi, bữa ăn hàng ngày, qua các buổi dạo chơi tham quan.

các món ăn trẻ sẽ được ăn hôm nay, sau đó giới thiệu luôn giá trị dinh dưỡng của các
món ăn đó như : Hôm nay cô cho các con ăn món thịt sốt cà chua, trong thịt có rất nhiều
chất đạm và prôtêin, lipit, giúp cơ thể các con phát triển, thông minh, nhanh lớn, trong cà
chua có nhiều vitamin A rất tốt cho mắt, ăn vào các con có làn da hồng hào, mắt sáng
long lanh rất đẹp đấy. Và hôm nay các con còn được ăn món canh rau cải nấu với thịt có
nhiều vitamin A,C và nhiều đạm giúp các con chóng lớn, thông minh và bài tiết tốt. Vậy
các con phải ăn hết suất của mình, ăn tất cả thức ăn trong bát của mình thì cơ thể mới
khoẻ mạnh và thông minh đấy.
- Ngoài việc giáo dục cho trẻ ăn uống đủ chất vẫn chưa đủ mà chúng ta còn phải giáo
dục vệ sinh cho trẻ, phải rửa tay, rửa mặt trước khi ăn và trước khi đi ngủ, vào bàn ăn
phải ngồi ngay ngắn, ngồi đúng nơi quy định, đúng chỗ của mình ngồi. Chuẩn bị khăn ăn
lau tay, phải có đĩa đựng cơm rơi vãi, phải biết mời cô mời bạn trứơc khi ăn, trong khi ăn
không đựơc nói chuyện, xúc cơm cẩn thận không được rơi vãi ra ngoài, phải nhai kỹ, khi
ho phải che miệng hoặc quay ra ngoài, khi ăn xong phải lau miệng, lau tay, không uống
nước lã.
Giáo dục trẻ không ăn quả xanh, không uống nứơc lã dễ bị vi khuẩn xâm nhập làm đau
bụng, giáo dục trẻ ăn uống từ tốn có nề nếp.
Ví dụ : Trước giờ ăn trưa, cô giáo dạy trẻ nề nếp vệ sinh: Hỏi trẻ trước khi ăn các con
phải làm gì ? ( rửa tay, rửa mặt ạ )


Cô nhắc lại : Đúng rồi các con ạ ! phải rửa tay rửa mặt trước khi ăn vì sau mỗi buổi học
và buổi chơi tay cầm vào đồ chơi, đồ dùng nên bị nhiều vi trùng bám vào xong lại bôi lên
mặt lên tay rất bẩn. Chính vì thế phải rửa tay, rửa mặt trứơc khi ăn nếu không rất dễ bị
nhiễm bệnh đấy các con ạ!
+ Cho trẻ thực hiện thao tác rửa tay, rửa mặt đúng khoa học.
+ Cho trẻ ngồi vào bàn ăn ngay ngắn đúng quy định.
Vào giờ ăn trưa cô giáo giới thiệu món ăn, giá trị dinh dưỡng của từng món ăn. Giáo dục
trẻ ăn hết xuất, ăn ngon, có ý thức, không được nói chuyện cười đùa, trong khi ăn phải
nhai kỹ và nuốt nhanh, khi ho hoặc hắt hơi phải che miệng.

trên lớp nên trẻ đã có những hiểu biết nhất định về dinh dưỡng.
2.Kết quả điều tra thu được trong đầu năm học tháng 9/2008:
* Điều tra đối với giáo viên:
Mức độ
Hình thức

Thường xuyên

ít sử dụng

Tiết học

x

Dạo chơi

x

sinh hoạt hàng
ngày

không sử dụng

x

3. Tình trạng sức khoẻ của trẻ.
Nhà trường có bếp một chiều đã được bố trí hợp lý khoa học sạch sẽ thoáng mát.
Nhờ sự kết hợp giữa giáo dục trên lớp và sự chế biến khéo léo từ cách nấu các món ăn
ngon, hợp vệ sinh có sự thay đổi các món ăn theo thực đơn của nhà bếp mà tình trạng sức
khoẻ của trẻ đã được cải thiện hơn

Cấp
dương

x

3

Vũ ngọc Huyền

2004

Nguyễn T.Nga

CN

x

4

Nguyễn
Cương

Vũ Thị Mái

CN

x

5


bán Hàng x

9

Tô Việt Hà

2004

Tô Thế Nguyên

Phón viên x

10

Nguyễn Tuyết Nhi

2004

Hà Thị Quỳnh

Nội Trợ

x

11

Trần Minh Đức

2004


14

Tô Phương Anh

2004

Tô Văn Nguyên

buôn bán

x

15

Trương Thuý Hằng

2004

Nguyễn Thị Nga

LĐTD

16

Nguyễn
Minh

ST
T



Nguyễn Hải

Ytế

18

Đặng Việt Hà

2004

Đặng văn Lương

Kế toán

19

Vũ Hồng Anh

2004

Vũ Hồng Đảm

Nội trợ

20

Trần Ngọc Anh

2004


Nguyễn Khắc Đạt

2004

Nguyễn
Lương

Bá Nội trợ

x

25

Bùi Thuý Hiền

2004

Nguyễn
Huyền

Thị Nội Trợ

x

26

Vũ Đức Thắng

2004

Nội trợ

30

Lê Minh Trang

2004

Trần Linh Tâm

Giáo viên x

31

Lê Ngọc Linh

2004

Trần Thị Thuý

CN

x

32

Nguyễn Bá Hoàng

2004



x
x
x
x

Nguyễn thị Hằmg nội Trợ

kế toán

CN

x
x

x
x

x


35

Phạm Huyền Linh

36

Nguyễn
Linh



2004

Hà Thị Huệ

CN

x

39

Đặng Đức Huy

2004

Nguyễn Thị Lan

CN

x

40

Phạm Hà Phương

2004

Phạm Thị Hoa

CN


NguyễnThanh
Tiến

Giáo viên x

44

Hoàng Trung Chiến 2004

Nguyễn Thị Đào

CN

45

Nguyễn
Anh

Bùi Thị Mai

Giáo viên x

46

Vũ Ngọc Anh

Trần Thị Tiến

Kinh


x

Cao Khánh Linh

2004

Bùi Thị Nga

CN

x

50

Bùi Phương Thảo

2004

Phạm Thị Duyên

Thợ may

x

51

Vũ ý Nhân

2004


54

Lê Thành Đạt

2004

Trần Thị Nhung

CN

x

55

Lê Việt Đức

2004

Nguyễn Thị Lan

CN

x

56

Trần Hồng ánh

2004


59

Đậu Thuỳ Trang

2004

Đậu Thi Nga

Kinh
doanh

x

60

Phạm Minh Huyền

2004

Phạm thị Vĩnh

Kinh
doanh

x

* Nhận xét:
- Đánh giá sự phát triển của trẻ :
Kênh A: 56/60 = 93%

CHƯƠNG III:
BIỆN PHÁP GIÁO DỤC DINH DƯỠNG CHO TRẺ.
“ Giáo dục dinh dưỡng cho trẻ mầm non (mẫu giáo 4 - 5 tuổi) trong quá trình hướng dẫn
trẻ làm quen với môi trường xung quanh” muốn thực hiện một cách đầy đủ và toàn diện
thì chúng ta phải giáo dục trẻ mọi lúc mọi nơi. Trong quá trình giáo dục, giáo viên sử
dụng chủ yếu hai hình thức sau, hình thức tiết học và hình thức ngoài tiết học.
I. Nâng cao chất lượng giáo dục dinh dưỡng cho trẻ thông qua bộ môn MTXQ với
các hình thức trong tiết học :
- Thông qua hình thức tiết học củng cố, hệ thống hoá, chính xác hoá những kiến thức về
dinh dưỡng mà trẻ đã làm quen ở mọi lúc mọi lơi, phát triển trí tuệ cho trẻ.
- Dạy trẻ biết tên gọi đặc điểm cấu tạo của đối tượng trẻ biết được thành phần các chất và
giá trị dinh dưỡng của đối tượng đó đối với cơ thể con người.
- Trẻ biết được tác dụng của các chất Prôtít, Lipít, Gluxít, Các loại Vitamin và muối
khoáng với cơ thể con người.
- Khi sử dụng các hình thức này cần đạt các yêu cầu sau:


+ Phát huy tính tự giác, chủ động của trẻ, đảm bảo không khí vui tươi thoải mái nhẹ
nhàng, không gò bó áp đặt.
+ Giờ học phải có trọng tâm, tránh dàn trải, lan man, cần biết phối hợp các phương pháp
một cách linh hoạt, hợp lý.
* VD: “Bài một số con vật nuôi trong gia đình có 4 chân đẻ con”
(Lớp mẫu giáo 4 - 5 tuổi )
a. Mục đích - yêu cầu:
- Kiến thức: Trẻ biết gọi tên và nhận xét được những điểm rõ nét của một số con vật
nuôi trong gia đình có 4 chân, đẻ con ( Mèo, bò, lợn, thỏ....)
Trẻ biết so sánh nhận xét được điểm giống nhau là động vật nuôi trong gia đình có 4
chân, đẻ con)Và khác nhau ( Tiếng kêu, cấu tạo, thức ăn, vận động ích lợi...)
- Kĩ năng: luyện nói lưu loát , rõ ràng
Phát triển khả năng nhạy cảm của giác quan, khả năng chú ý và ghi nhớ có chủ định

- Trò chuyện về chủ đề một số con vật nuôi trong gia - Trẻ kể tên các
convật
đình
2. Giới thiệu bài:
- Đến với khu vườn tri thức hôm nay với hội thi “Bé
và các con vật thân yêu” với chủ đề ‘ Tìm hiểu một
số con vật nuôi trong gia đình có 4 chân, đẻ con.
3. Giảng bài:
- Đến tham gia hội thi hôm nay với sự có mặt của 2 - Trẻ vẫy tay chào
đội
khi cô nhắc tên.
Đội “ Thỏ con và Đội Mèo con”
- Xin mời 2 đội giới thiệu về mình

- Trẻ thực hiện

+ Đội mèo con: “ Meo meo meo, chúng tôi là đội
mèo con xin chào các bạn, đội mèo con của chúng
tôi, có đôi tai rất thính, đôi mắt tinh và có tài bắt
chuột đội chúng tôi đến với hội thi hôm nay với - Cả đội nói học tập
thông điệp “Học tập và vui chơi”
và vui chơi
+ Đội Thỏ con ; Đội Thỏ con chúng tôi xin chào các
bạn, đến với hội thi hôm nay đội chúng tôi mang tới
thông điệp là “chiến thắng”2
- Cả đội nói chiến
- Vừa rồi cô thấy 2 đội đã có phần chào hỏi rất hay thắng.
và hấp dẫn.
* Hoạt động 1: Cung cấp kiến thức ( quan sát và


- VD: con bò có màu gỉ? nó có phần gì đây? cô chỉ
vào phần đầu mình chân đuôi?.

- Trên đầu bò có gì? Bò là động vật nuôi ở đâu? nó
có mấy chân. Bò đẻ con hay đẻ trứng? Bò kêu như - Trẻ trả lời theo ý
thế nào? ( Cho trẻ bắt chiếc tiếng kêu của con bò. hiểu của trẻ,
nuôi bò để làm gì?.
=> Cô khái quát lại:
Bò là động vật nuôi trong gia đình có 4 chân đẻ con,
bò có màu vàng, trên đầu có đôi sừng, có đôi mắt có
mõm, đuôi bò dài , bò thường hay ăn cỏ, nuôi bò để
kéo xe lấy thịt lấy sữa, thịt bò có nhiều chất đạm ăn


vào rất tốt cho cơ thể con người . sưã bò có nhiều
can xi và các Vtamin các loại sữa tươi sữa hộp mà ở - Trẻ chọn ô cửa mà
nhà cũng như đến lớp các con được bố mẹ cô giáo trẻ thích.
cho uống hàng ngày đều được pha chế từ sữa bò. các
con nhớ chịu khó uống sữa sẽ giúp cho cơ thể khoẻ
mạnh thông minh chóng lớn
- Con lợn
- Xin mời đội Mèo con chọn ô cửa số mấy
VD: Ô cửa số 1 cô mở ô cửa số 1 hỏi trẻ ô cửa chứa Trẻ chọn hộp quà có
con gì?.
màu trẻ thích.
- Không biết trong 3 hộp quà còn lại chú lợn con
nằm trong hộp quà nào xin mời đội Mèo con các con
hãy chọn hộp quà màu nào ?.
- VD; Trẻ chọn hộp quà màu xanh ( Cô mở hộp quà
và đọc câu đố .

- 1 trẻ nghe đoán
con vật qua tiếng
- Xin mời ô cửa số 4 mở ra đó là hình ảnh con gì? kêu.
Cho trẻ chọn hộp quà.
- Xin mời đội thỏ con chọn tiếp ô cửa số mấy

- Cô và trẻ cùng khám phá mở hộp quà tìm con vật .

- Trẻ trả lời

- Cô đưa hộp qua cho trẻ nghe và đoán xem bên
trong là con gì?.
(Cô gợi ý con có nghe thấy tiếng con gì kêu không)
- Cô đưa con mèo ra cho trẻ quan sát và đưa ra nhận
xét về nó.

- Trẻ đoán.

+ Con Mèo: Có bộ lông màu trắng, có đầu mình và
đuôi.
Mèo có đôi tai nhỏ, thính, mắt màu
xanh và rất tinh, Mèo kêu meo meo.
- Trẻ trả lời câu hỏi
Mèo có râu , chân có đệm, có móng, đuôi dài của cô.
Mèo biết bắt chuột, biết leo trèo và chạy
nhanh
Mèo là động vật sống trong gia đình có 4 chân
đẻ con được xếp vào nhóm gia xúc
Mèo rất thích ăn cá..
- Cô Khái quát lại đặc điểm của mèo, mở rộng mèo

Gọi đội rung chuông trước trả lời.
Giống nhau: Mèo và Thỏ chúng đều là động vật
sống trong gia đình, đều có 4 chân đẻ con, đều được
xếp vào nhóm gia súc. Mèo và thỏ đều có bộ lông
trắng tinh và có râu.
- Câu 2: So sánh con Mèo và con Thỏ có điểm gì
khác nhau.(Gọi đội rung chuông nhanh nhất)
- Khác nhau: Con mèo tai ngắn, đuôi dài, mắt xanh
Con thỏ tai dài, đuôi ngắn, mắt màu

-Trẻ trả lời.


hồng
Con mèo thích ăn cá, ăn thịt mỡ
Con thỏ thích ăn cà rốt, rau xanh
Con mèo biết bắt chuột.
Con thỏ không biết bắt chuột
Con mèo kêu meo meo...
=> Cô khái quát lại đặc điểm giống và khác nhau rõ
nét của 2 con vật trên.
- Phần thi hiểu biết đã khép lại, cả 2 đội đều xứng
đáng được tặng quà
- Đội Mèo con được thưởng 01 con cá
- Đội Thỏ con được thưởng 1 củ càc rốt
* Mở rộng Kiến thức cho trẻ xem màn hình về các
con vật nuôi trong gia đình.giáo dục dinh dưỡng
cho trẻ.
* Hoạt động 3: Luyện tập
- Vừa rồi trong phần thi thứ nhất các con đã được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status