ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ THỊ MAI TRANG
NHU CẦU VÀ MỨC ĐỘ TIẾP CẬN CÁC DỊCH VỤ
HỖ TRỢ CỦA NGƢỜI ĐỒNG TÍNH NỮ Ở HÀ NỘI
TỪ GÓC NHÌN CÔNG TÁC XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI
Chuyên nghành: Công tác xã hô ̣i
Mã số: 60900101
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN TUẤN ANH
Hà Nội, 2014
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các
tài liệu, số liệu trích dẫn trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng. Những
kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình
nào khác.
Hà Nội, ngày 12 tháng 11 năm 2014
Tác giả
Lê Thị Mai Trang
2
3
MỤC LỤC
Danh mục chữ viết tắt
7
Danh mục hệ thống bảng – biểu
8
MỞ ĐẦU
9
1. Lý do chọn đề tài
9
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
11
3. Ý nghĩa của nghiên cứu
17
4. Mục đích và mục tiêu nghiên cứu
1.1 Khái niệm công cụ
22
1.1.1 Nhu cầu
22
1.1.2 Tiếp cận
24
1.1.3 Dịch vụ hỗ trợ
24
1.1.4 Người đồng tính nữ
25
1.1.5 Các nhóm thiểu số tính dục
26
1.1.6 Các khái niệm có liên quan khác
28
1.2 Lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu
42
Chƣơng 2: Thực trạng nhu cầu và mức độ tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ
của ngƣời đồng tính nữ ở Hà Nội
43
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
43
2.2 Nhu cầu về các dịch vụ hỗ trợ của người đồng tính nữ
43
2.2.1. Nâng cao năng lực
46
2.2.2. Tư vấn tâm lý
48
2.2.3 Tư vấn – Hỗ trợ pháp lý
49
2.2.4 Chăm sóc y tế
2.3.2 Thực trạng mức độ tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ hiện có của người đồng
tính nữ
2.4 Các yếu tố tác động tới khả năng tiếp cận dịch vụ hỗ trợ của người đồng
tính nữ
63
67
74
Tiểu kết chương 2
5
Chƣơng 3: Đánh giá tính chuyên nghiệp trong việc cung cấp các dịch vụ
hỗ trợ ngƣời đồng tính nữ ở Hà Nội từ góc nhìn Công tác xã hội
75
3.1 Tính chuyên nghiệp trong hình thức tổ chức, thực hiện các dịch vụ hỗ trợ
75
3.1.1 Dịch vụ hỗ trợ ở cấp độ vi mô
76
3.1.2 Dịch vụ hỗ trợ ở cấp độ trung mô
3.2.6 Đảm bảo tính cá biệt hóa trường hợp
100
Tiểu kết chương 3
100
KẾT LUẬN
101
KHUYẾN NGHỊ
103
Danh mục tài liệu tham khảo
105
Phụ lục 1: Phiếu khảo sát online
110
Phụ lục 2: Trích phỏng vấn sâu người sử dụng dịch vụ
116
Phụ lục 3: Trích phỏng vấn sâu người cung cấp dịch vụ
: Trung tâm Nghiên cứu - Ứng dụng khoa học về Giới – Gia
đình – Phụ nữ và Vị thành niên
ICS
: Tổ chức bảo vệ và thúc đẩy quyền của người đồng tính, song
tính và chuyển giới
ISEE
: Viện Kinh tế - Xã hội và Môi trường
6+
: Trung tâm phát triển cộng đồng LGBT
CCIHP
: Trung tâm Sáng kiến, Sức khỏe và Dân số
PFLAG
: Hội phụ huynh và người thân của người đồng tính, song tính và
chuyển giới Việt Nam
ĐTN
: Đồng tính nữ
Những khó khăn thường gặp của người đồng tính nữ
Bảng 2.2
Mức độ cần thiết của các dịch vụ hỗ trợ người đồng tính nữ
Bảng 2.3
Hình thức bạo lực – phân biệt đối xử trong trường học với
nhóm thiểu số tình dục
Bảng 2.4
Những khó khăn khác mà người đồng tính nữ gặp phải
Bảng 2.5
Chương trình tư vấn online về chủ đề đồng tính nữ trên kênh
VOV giao thông trong năm 2013
Bảng 2.6
Mức độ biết và sử dụng dịch vụ hỗ trợ của người đồng tính nữ
ở Hà Nội
Bảng 2.7
Lý do người đồng tính nữ không sử dụng dịch vụ hỗ trợ
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Người đồng tính, song tính và chuyển giới (LGBT) nói chung và vấn đề tình
dục đồng giới nói riêng vẫn là vấn đề còn nhạy cảm không chỉ ở Việt Nam mà còn
trên toàn thế giới. Mặc dù đây không còn là chủ đề mới mẻ, song thái độ của người
dân với người đồng tính, song tính và chuyển giới phần nhiều vẫn còn kỳ thị. Tính
đến tháng 8/2013, trên thế giới, mới chỉ có 16 quốc gia (đa phần là ở khu vực châu
Âu và châu Mỹ) công nhận hôn nhân đồng giới [70]. Ở các quốc gia còn lại, hành vi
tình dục đồng giới bị cấm hoặc nhận được thái độ bàng quan, trung lập. Tại Nga,
Brunei, Algeria và Ai Cập, hành vi âu yếm đồng giới nơi công cộng bị phạt tù từ 2
năm trở lên. Tại quốc gia Buma, người đồng tính khi bị phát hiện có thể bị bỏ tù từ
10 năm cho đến chung thân. Thậm chí, tại Iran, Nigeria, Ả rập Saudi và Sudan, hành
vi tình dục đồng giới còn bị xử tử hình [55]. Một số quốc gia khác như Hàn Quốc,
Paraguay, Việt Nam, thể hiện thái độ trung lập khi đề cập đến vấn đề đồng tính.
Chính phủ các nước này không cấm nhưng cũng không ủng hộ [50]. Điều này gián
tiếp không thừa nhận sự tồn tại của nhóm thiểu số tình dục, đẩy họ ra ngoài rìa xã
hội và trở thành đối tượng dễ bị tổn thương.
Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng người đồng tính, song tính và
chuyển giới nói chung đã và đang gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình nhận diện,
chấp nhận bản thân và hòa nhập với xã hội. Đặc biệt, người đồng tính được xem là
đối tượng thường xuyên phải hứng chịu sự kỳ thị, phân biệt đối xử nếu xu hướng
tình dục của họ bị phát hiện [44]. Hành vi bạo lực mà người LGBT là nạn nhân diễn
ra không chỉ ở khu vực công cộng, trường học, nơi công sở mà còn ngay ở trong gia
đình và bởi chính người thân của họ. Đấu tranh đòi quyền bình đẳng cho người
đồng tính, song tính và chuyển giới đang trở thành một phong trào nhân quyền
mạnh mẽ diễn ra trên khắp thế giới, thu hút nhiều sự quan tâm của xã hội trong
những năm gần đây.
Ở Việt Nam, theo ước tính của Viện Kinh tế - Môi trường và Xã hội, số
lượng người đồng tính và song tính trong độ tuổi 15-59 rơi vào khoảng 1,65 triệu
thể ảnh hưởng tới kết quả học tập của người đồng tính nữ, làm họ mất hứng thú học
tập, không thể tập trung vào bài vở, điểm số sa sút, thậm chí là ngừng học [18].
Trong các nghiên cứu về người đồng tính nữ do trung tâm CSAGA và ISEE triển
10
khai thực hiện năm 2009 cũng đã đề cập đến một số trường hợp người đồng tính nữ
từng có ý định tử tử vì không chịu được áp lực do bị kỳ thị và phân biệt đối xử.
Điều này đặt ra yêu cầu đối với những người làm CTXH là phải xây dựng hệ
thống dịch vụ hỗ trợ phù hợp nhằm đáp ứng nhu cầu của nhóm đối tượng yếu thế
này. Ở Việt Nam hiện nay, đã có một số cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ hỗ trợ
dành cho người đồng tính nữ. Tuy nhiên, các dịch vụ hỗ trợ này phần lớn được xây
dựng dựa trên sự đánh giá chủ quan của nhân viên CTXH về nhu cầu của người
đồng tính nữ; chưa có một nghiên cứu cụ thể nào đi sâu tìm hiểu về nhu cầu của họ
đối với các dịch vụ hỗ trợ. Mặt khác, việc đánh giá mới chỉ dừng ở nhóm đối tượng
nhỏ là những người hưởng lợi trực tiếp từ dự án, chưa có các nghiên cứu chuyên sâu
để đánh giá toàn diện về chất lượng dịch vụ CTXH hiện có đối với người đồng tính
nữ.
Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, tác giả đã chọn đề tài: “Nhu
cầu và mức độ tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ của người đồng tính nữ ở Hà Nội từ
góc nhìn Công tác xã hội” làm luận văn thạc sĩ Công tác xã hội của mình.
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Số lượng các nghiên cứu về người đồng tính – song tính và chuyển giới nói
chung và người đồng tính nữ nói riêng nhìn chung vẫn còn ít. Tuy nhiên, trong
những năm gần đây, khi mà phong trào đấu tranh cho quyền của người LGBT trở
nên mạnh mẽ, số lượng các nghiên cứu có xu hướng tăng và ngày càng đi sâu khai
thác nhiều khía cạnh cuộc sống của nhóm thiểu số tình dục này.
a. Những nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, cho đến cuối năm 2009, vẫn còn rất ít các nghiên cứu về người
đồng tính – song tính và chuyển giới. Đối tượng LGBT hầu hết chỉ được nhắc đến
Nghiên cứu Ứng dụng Khoa học về Giới – Gia đình – Phụ nữ và Vị thành niên thực
hiện năm 2009. Đây là một nghiên cứu định tính, triển khai phỏng vấn sâu với 23
người đồng tính nữ sống tại Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định và Thái Nguyên. Mục
đích của nghiên cứu là nhằm tìm hiểu về đời sống của người đồng tính nữ cũng như
những khó khăn mà họ đang gặp phải trong quá trình lộ diện bản thân. Nghiên cứu
chỉ ra rằng: ở Hà Nội, nhiều người đồng tính nữ cảm thấy môi trường cộng đồng nói
chung còn quá nhiều sự kỳ thị và phân biệt đối xử. Họ thường gặp phải những lời
nói dèm pha, xì xào, bàn tán, ánh mắt thiếu thiện cảm, dò xét, nghi ngờ, cho rằng họ
12
đồng tính bởi lối sống đua đòi. Kì thị từ phía gia đình là dữ dội hơn cả, các bậc cha
mẹ thường ngăn cấm con cái với mối quan hệ đồng tính bằng nhiều biện pháp, từ
nói ngọt nhạt cho đến mắng mỏ, dọa tự tử, đòi từ con... Kì thị nơi làm việc cũng là
điều mà nhiều người đồng tính nữ trong nghiên cứu đề cập tới. Không chỉ bị dò xét,
nghi kị bởi đồng nghiệp, họ còn phải trải qua sự bất công trong việc trả lương. Còn
ở trường học, kiểu kì thị mà người đồng tính nữ phải trải qua đến từ những người
bạn hoặc thầy cô giáo. Khi thấy người đồng tính nữ có biểu hiện của xu hướng tình
dục đồng giới, họ lập tức loan báo ngay tới nhiều người mà không tìm hiểu hỏi han.
Điểm đáng chú ý là nghiên cứu đã chỉ ra một số trường hợp người đồng tính nữ bị
bạo hành bởi chính đối tác tình cảm cùng giới với mình. Đây là một phát hiện mới
và rất đáng lưu tâm, bởi lẽ, khái niệm bạo lực gia đình từ trước tới nay chủ yếu ám
chỉ bạo lực gây ra bởi các thành viên trong gia đình hoặc đối tác tình cảm khác giới
(nam – nữ). Bạo lực trong các cặp đôi đồng giới là chủ đề hầu như chưa hề được
khai phá [15].
Để đối phó với sự kì thị, người đồng tính nữ phải che dấu, thận trọng với
hành động của mình, có người chọn cách sống hai mặt (giả vờ yêu người dị tính, lấy
chồng), giấu kín xu hướng tình dục của mình. Tuy nhiên, họ thường không mấy hài
lòng với cách sống như vậy.
Về nhu cầu, nghiên cứu đã chỉ ra một số nhu cầu của người đồng tính như
biết của người cung cấp dịch vụ. Quan trọng là người cung cấp dịch vụ không cố
gắng thay đổi khách hàng của mình thành người dị tính [21].
Một điểm đáng chú ý khác là nghiên cứu đề cập tới nhu cầu hỗ trợ tâm lý –
xã hội cho nhóm cha mẹ của người đồng tính nữ. Cũng như những người con, cha
mẹ cũng phải đối phó với những khó khăn riêng và rất cần đến sự hỗ trợ của CTXH.
Nghiên cứu gợi ý một số dịch vụ như cung cấp thông tin, tham vấn tâm lý, sinh hoạt
nhóm cha mẹ…
Luận án tiến sỹ “Mô hình kinh tế chính trị của ngƣời đồng tính nữ: Giới,
không gian và sự chuyển giao chính trị của cộng đồng đồng tính nữ ở Sài Gòn”
do nghiên cứu sinh người Mỹ gốc Việt – Natalie Nancy Newton thực hiện tại Việt
Nam năm 2012. Tác giả cũng chính là một người đồng tính nữ. Đây là một nghiên
cứu nhân chủng học nhằm tìm hiểu mối tương quan giữa phong trào đấu tranh vì
quyền của LGBT với các nhóm đồng tính nữ. Tác giả nhấn mạnh sự tham gia của
cộng đồng đồng tính nữ vào phong trào đấu tranh đòi nhân quyền cho LGBT bằng
14
một hình thức mới – thông qua các mô hình tổ chức chính trị – kinh tế dành riêng
cho cộng đồng đồng tính nữ: ví dụ như những quán cà phê, quán bar dành cho đồng
tính nữ, các giải thể thao dành riêng cho nhóm đồng tính nữ và các sự kiện từ thiện
do người đồng tính nữ tổ chức tại Sài Gòn. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng: các dự án
xã hội dành cho cộng đồng LGBT ở Việt Nam hiện nay vẫn còn thiên nhiều về
người đồng tính nam và người chuyển giới, có rất ít dịch vụ hỗ trợ dành cho người
đồng tính nữ [54].
Nhìn chung, có thể thấy là các nghiên cứu về đề tài LGBT chưa nhiều, nếu có
thì lại tập trung chủ yếu vào nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới hoặc nghiên cứu
chung cho cả cộng đồng, không có sự phân tách riêng cho từng nhóm đối tượng.
Trong khi, dù đều thuộc nhóm thiểu số về tình dục, nhưng những người đồng tính
nam, đồng tính nữ, song tính và chuyển giới đều có những đặc thù riêng và mối
quan tâm riêng. Do đó, rất cần những nghiên cứu chuyên sâu cho từng nhóm đối
đối phó với chứng sợ người đồng tính của người dị tính (ám chỉ sự kì thị đối với
nhóm thiểu số tình dục) và chính sự kì thị này hạn chế họ tiếp cận các dịch vụ hỗ
trợ, đặc biệt là các dịch vụ y tế. Người đồng tính cao tuổi thể hiện sự không tin
tưởng hoặc sợ hãi khi tiếp cận các dịch vụ mà ở đó, người cung cấp dịch vụ là người
dị tính. Những người cung cấp dịch vụ y tế có xu hướng đối xử “như nhau” với mọi
khách hàng, và vì đó là những khách hàng lớn tuổi, nên người cung cấp dịch vụ
thường lờ đi vấn đề “người đó có đồng tính hay không?”. Điều này vô tình khiến
cho nhóm thiểu số tình dục gặp khó khăn trong quá trình tiếp cận dịch vụ hỗ trợ, do
họ có những đặc thù riêng, mối quan tâm và nhu cầu riêng. Nguyên nhân là do
những người cung cấp dịch vụ chưa được đào tạo về vấn đề này, và họ cũng cho
rằng việc đào tạo là “không cần thiết” [35].
Nghiên cứu: Tìm hiểu nhu cầu dịch vụ hỗ trợ cho nhóm LGBT là nạn nhân của
bạo lực gia đình thực hiện năm 2012 bởi Marianne Hester và cộng sự. Nghiên cứu
này tiếp cận một hướng khá mới khi cho rằng: vấn đề bạo lực gia đình vốn được cho
là chỉ xảy ra giữa các cặp đôi dị tính, với nạn nhân là người vợ/phụ nữ và người gây
bạo lực là chồng/người yêu của họ. Trong khi, thực tế là tồn tại vấn đề bạo lực giữa
các cặp đôi đồng tính nhưng vấn đề này không được thừa nhận. Nghiên cứu đã ghi
nhận được nhiều trường hợp người đồng tính nữ bị bạo hành bởi chính người yêu
đồng tính của mình, và trong khi người đồng tính nam có xu hướng bị bạo hành về
thể xác và tình dục, người đồng tính nữ lại thường bị bạo hành về tinh thần nhiều
16
hơn (tỷ lệ bị bạo hành về tình dục cũng khá cao). Người đồng tính nữ trong nghiên
cứu cho biết họ thường hoảng sợ và hay gặp ác mộng sau khi bị bạo hành, một số
người thậm chí muốn tìm tới cái chết. Một dạng bạo hành khác với người đồng tính
nữ mà nghiên cứu có đề cập tới là “bị ép buộc kết hôn khác giới”, sau đó bị đánh
đập – bạo hành bởi chồng của họ [48].
Do vấn đề bạo hành giữa các cặp đôi đồng tính không được thừa nhận, các
dịch vụ hỗ trợ hiện nay đa phần chỉ dành cho nạn nhân BLGĐ là người dị tính, rất ít
độ tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ của người đống tính nữ, từ đó, đánh giá được tính
hiệu quả của các dịch vụ hiện có dưới góc nhìn của CTXH. Kết quả nghiên cứu
được hi vọng sẽ là thông tin nền, giúp người cung cấp dịch vụ có cơ sở để cải thiện
chất lượng dịch vụ hỗ trợ, nâng cao hiệu quả sử dụng dịch vụ cho người đồng tính
nữ.
Thông qua nghiên cứu, tác giả cũng đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao
khả năng tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ của người đồng tính nữ. Nghiên cứu được hi
vọng sẽ cung cấp thông tin cần thiết cho các nhà hoạch định để xây dựng và triển
khai các dịch vụ hỗ trợ phù hợp, đáp ứng được nhu cầu của nhóm đối tượng đặc thù
này trong tương lai.
4. Mục đích và mục tiêu nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện với mục đích nhằm tìm hiểu nhu cầu và mức độ
tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ của người đồng tính nữ ở Hà Nội và đánh giá các dịch vụ
này dưới góc nhìn CTXH.
Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm đạt được các mục tiêu sau đây:
- Tìm hiểu nhu cầu về dịch vụ hỗ trợ của người đồng tính nữ ở Hà Nội.
- Tìm hiểu thực trạng mức độ tiếp cận với các dịch vụ hỗ trợ của người đồng
tính nữ ở vùng nghiên cứu.
- Tìm hiểu thực trạng cung cấp dịch vụ CTXH dành cho người đồng tính nữ
ở Hà Nội và đánh giá các dịch vụ hỗ trợ người đồng tính nữ hiện có dưới góc nhìn
của công tác xã hội.
18
5. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu: Nhu cầu và mức độ tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ của người
đồng tính nữ ở Hà Nội
đánh giá dự án có liên quan tới việc cung cấp dịch vụ hỗ trợ dành cho người đồng
tính nữ; các bài viết, tham luận về nội dung bình đẳng giới, đa dạng tính dục, bạo
lực gia đình trên cơ sở xu hướng tình dục, người đồng tính nữ và các dịch vụ hỗ trợ;
9.2. Phỏng vấn sâu
Phỏng vấn sâu được thực hiện với 3 nhóm. Thứ nhất là nhóm người đồng
tính nữ. Có 5 người đồng tính nữ từ nhiều độ tuổi, địa vị xã hội khác nhau đã được
phỏng vấn. Nhóm đối tượng này được lựa chọn thông qua sự giới thiệu của một số
cán bộ tư vấn tâm lý của đường dây tư vấn dành cho đồng tính nữ. Thứ hai là nhóm
người thân của người đồng tính nữ. Có 2 người thân của người đồng tính nữ đã
được phỏng vấn. Tác giả tiếp cận 2 người này này thông qua một chương trình tọa
đàm dành cha mẹ người đồng tính do tổ chức Kết nối và Hỗ trợ sức khỏe cộng đồng
(6+) tổ chức vào cuối tháng 8/2014. Thứ ba là nhóm người cung cấp dịch vụ. Có 5
nhân viên CTXH đang làm việc trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ hỗ trợ liên quan đến
tham vấn, y tế, pháp luật, hỗ trợ việc làm… dành cho người đồng tính nữ ở Hà Nội
đã được phỏng vấn.
9.2. Khảo sát online
Về nội dung phiếu khảo sát, phiếu khảo sát gồm 3 nội dung chính. Phần 1:
Nhu cầu của người đồng tính nữ về các dịch vụ hỗ trợ; Phần 2: Mức độ tiếp cận các
dịch vụ hỗ trợ dành cho người đồng tính nữ; Phần 3: Mong đợi của người đồng tính
nữ về các dịch vụ hỗ trợ. Hình thức bảng hỏi online được sử dụng để phù hợp với
đặc thù của người đồng tính nữ vốn ít lộ diện, không thấy thoải mái và an toàn khi
đề cập các vấn đề liên đến chủ đề đồng tính với người lạ nên họ đặc biệt chú trọng
tính khuyết danh.
20
Về dung lượng mẫu, 109 phiếu khảo sát online với người đồng tính nữ hiện
đang sống tại Hà Nội. Về quy trình chọn mẫu, để có đủ số lượng mẫu đại diện cho
các nghành nghề và độ tuổi, tác giả sử dụng phương pháp “Quả bóng tuyết”. Mỗi
30,3
Từ 20 – dưới 25 tuổi
41
37,6
Từ 25 – dưới 30 tuổi
22
20,2
Từ 30 – dưới 40 tuổi
13
11,9
THCS
2
1,82
THPT
31
Nhân viên văn phòng
21
19,27
Buôn bán – kinh doanh
7
6,42
Công nhân
2
1,83
Lao động tự do
17
15,6
Thất nghiệp
10
9,17
Quan điểm của triết học
Trong tác phẩm Paris Manuscripts xuất bản năm 1844, Karl Marx đã định
nghĩa con người là các sinh vật “sinh ra bởi nhu cầu” [71], có nghĩa là con người
thông qua quá trình học tập và làm việc để đáp ứng nhu cầu của chính bản thân họ.
Những nhu cầu của con người bao gồm nhu cầu vật chất và tinh thần. Theo Marx,
sự phát triển của con người được đặc trưng bởi việc đáp ứng nhu cầu, và thông qua
quá trình đáp ứng các nhu cầu vốn có, con người phát triển những nhu cầu mới.
Điều này khá tương thích với quan điểm của Mashlow khi cho rằng: chỉ khi đáp ứng
22
được các nhu cầu ở bậc cơ bản thì con người mới hướng tới việc thỏa mãn các nhu
cầu ở bậc cao hơn.
Quan điểm của Công tác xã hội
Nhu cầu của con người được đánh giá là một trong những yếu tố nền tảng
của công tác xã hội, ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình thực hành nghề. Công tác xã
hội tiếp cận nhu cầu dưới góc độ đạo đức và nhân văn, gắn liền nhu cầu con người
với các yêu tố nhân quyền và công bằng xã hội.
Điểm đáng chú ý là “nhu cầu” trong CTXH thường gắn với cụm từ “con
người”, tạo thành một tổng thể “nhu cầu con người” (human needs). Điều này được
lý giải là vì CTXH muốn tách biệt các nhu cầu vật lý cơ bản (ăn, đói, khát…) mà
loài động vật nào cũng có với các nhu cầu đặc trưng chỉ có ở con người như các nhu
cầu ở bậc cao, gắn với sự phát triển và an sinh xã hội.
Theo quan điểm của CTXH, cá nhân có nhu cầu là do họ đang thiếu hụt một
nguồn lực, một chức năng nào đó. Quan điểm này lý giải cách nhìn nhận của
Edward Devine khi cho rằng trọng tâm của CTXH nên là các nhu cầu dịch vụ của
con người, thay vì chỉ nói tới các nhu cầu chung chung [56, pg.399]. Ông cho rằng
các nhu cầu của con người có thể được đáp ứng thông qua các dịch vụ hỗ trợ, đặc
biệt là các dịch vụ của CTXH. Hội đồng quốc tế các trường giáo dục về CTXH
nói chung và đến hành vi con người nói riêng.
1.1.2 Tiếp cận
“Tiếp cận” (accessibility) là thuật ngữ dùng để miêu tả mức độ và số lượng
nhiều người nhất có thể sử dụng một dịch vụ nào đó [65].
Trước đây, sự tiếp cận thường được dùng chủ yếu đối với nhóm người
khuyết tật. Tuy nhiên, thuật ngữ này đang được mở rộng nội hàm ý nghĩa, và được
sử dụng chung cho tất cả các nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội. Trong nghiên
cứu này, thuật ngữ tiếp cận được phân tích dưới góc độ là khả năng hưởng lợi từ
các dịch vụ hỗ trợ của nhóm thân chủ yếu thế. Theo cách hiểu này, khả năng tiếp
cận có hai mức độ:
- Biết về các dịch vụ hỗ trợ: Thân chủ biết thông tin về các dịch vụ, nhận
thức được sự tồn tại của các dịch vụ dù họ có thể sử dụng hoặc không sử dụng dịch
vụ.
- Sử dụng các dịch vụ hỗ trợ: Thân chủ được tham gia vào các dịch vụ hỗ trợ,
sử dụng và (có thể có hoặc không) hưởng lợi từ các dịch vụ đó.
1.1.3 Dịch vụ hỗ trợ
Theo Từ điển Tiếng Việt, dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những
nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công [9, tr.256].
Định nghĩa này trùng với quan điểm của kinh tế học, cho rằng bản chất của
dịch vụ là để đáp ứng nhu cầu của con người và mang lại lợi nhuận [41]. Như vậy,
24
khái niệm dịch vụ theo quan điểm chung đều gắn với lợi nhuận, đồng nghĩa với việc
người sử dụng dịch vụ phải trả chi phí cho các dịch vụ mà người đó thụ hưởng.
Khác với các quan điểm của các nhà kinh tế học về dịch vụ, trong nghành
CTXH, phạm trù dịch vụ gắn liền với an sinh và phát triển xã hội, và được gọi tên là
dịch vụ xã hội (hoặc dịch vụ CTXH – dịch vụ hỗ trợ). Do đó, khái niệm dịch vụ hỗ