Luận văn thạc sĩ quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn việt nam – chi nhánh đà nẵng - Pdf 39

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

PHAN THỊ THẢO UYÊN

QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG
NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
VIỆT NAM - CHI NHÁNH TP ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60.34.02.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS HOÀNG TÙNG

Đà Nẵng - Năm 2016


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ...........................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài.......................................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu ............................................................................2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .......................................................2
4. Phương pháp nghiên cứu .....................................................................2
5. Bố cục đề tài.........................................................................................3
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu .............................................................3
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ
RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ........................6
1.1. RỦI RO TÍN DỤNG TRONG NHTM .......................................................6
1.1.1. Khái niệm và phân loại rủi ro trong hoạt động của NHTM ..........6

NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM – CHI
NHÁNH ĐÀ NẴNG ........................................................................................70
2.4.1. Những kết quả đạt được...............................................................70
2.4.2. Tồn tại và hạn chế........................................................................72
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2.................................................................................74
CHƯƠNG 3. HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN
DỤNG TẠINGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG
THÔN VIỆT NAM CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG ............................................75
3.1. ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN
DỤNG TẠI AGRIBANK CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG .....................................75
3.2. GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN TRỊ RRTD TẠI AGRIBANK CHI
NHÁNH ĐÀ NẴNG ........................................................................................76
3.2.1. Xây dựng và thực hiện chính sách tín dụng thích hợp ................76
3.2.2. Hoàn thiện và tuân thủ nghiêm ngặt quy trình cho vay...............78


3.2.3. Giải pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng..........................................82
3.2.4. Giải pháp về nhân sự ...................................................................86
3.2.5. Giải pháp bù đắp tổn thất khi rủi ro xảy ra..................................87
3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ..............................................................................88
3.3.1. Kiến nghị với chính phủ ..............................................................88
3.3.2. Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước ............................................89
3.3.3. Kiến nghị với NHNo&PTNT Việt Nam......................................91
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3.................................................................................94
KẾT LUẬN .....................................................................................................95
TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)


DANH MỤC CÁC BẢNG


2.2. Tình hình dư nợ tại Agribank CN Đà Nẵng

48

2.3. Kết quả tài chính

50

2.4. Phân loại nợ theo xếp hạng tín dụng

56

2.5. Cấp tín dụng và giám sát sau khi cho vay với các nhóm

58

khách hàng doanh nghiệp
2.6. Cấp tín dụng với các hạng khách hàng

60

2.7. Tình hình trích lập dự phòng và XLRRTD của Agribank

63

CN Đà Nẵng từ 2013-2015
2.8. Tình hình nợ xấu của Agribank CN Đà Nẵng 2013- 2015

66

ngân hàng thương mại. Thông qua hoạt động cho vay của mình, các ngân
hàng đã góp phần cung ứng vốn cho các doanh nghiệp, giúp hệ tuần hoàn của
nền kinh tế hoạt động một cách nhuần nhuyễn và hiệu quả… Mặc dù vậy,
cùng với việc đem lại thu nhập đáng kể cho ngân hàng thì lĩnh vực tín dụng
cũng mang trong mình rủi ro rất lớn bởi các quy luật kinh tế đã chứng minh
rằng, lợi nhuận càng cao thì rủi ro càng lớn. Rủi ro tín dụng không chỉ khiến
các ngân hàng phải gia tăng chi phí, chậm thu lãi thậm chí là thất thoát vốn
vay, làm xấu đi tình hình tài chính, làm tổn hại đến uy tín và vị thế, thậm chí
ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của chính họ, mà nó còn tác động ảnh
hưởng lớn đến cả hệ thống ngân hàng và toàn bộ nền kinh tế. Tuy nhiên, đây
lại là rủi ro tất yếu trong hoạt động tín dụng, chúng ta không thể loại bỏ hoàn
toàn mà chỉ có thể áp dụng các biện pháp để phòng ngừa hoặc giảm thiểu thiệt
hại tối đa khi rủi ro tín dụng xảy ra.Vì vậy việc quản trị rủi ro tín dụng là rất
cần thiết.Qua thời gian công tác tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển


2
Nông thôn (Agribank), em chọn đề tài “Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Đà
Nẵng” để nghiên cứu cho chuyên đề của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa lại những vấn đề mang tính lý luận về rủi ro tín dụng
của ngân hàng và phòng ngừa hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng.
- Nghiên cứu thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng.
- Đề tài đề xuất những giải pháp và những kiến nghị nhằm hạn chế rủi
ro trong hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng

Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng
Chương 3: Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng.
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Trên thực tế rủi ro tín dụng là rủi ro đặc trưng của loại hình kinh doanh
này. Và chỉ có thể đề phòng, hạn chế chứ không thể loại trừ. Do vậy, việc tìm
ra các giải pháp nhằm hạn chể rủi ro luôn trở thành mang tính sống còn, là
mối qua tâm hàng đầu ở bất kỳ ngân hàng nào.
Xuất phát từ những lý do trên đã có nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu và
đưa ra những giải pháp nhằm hạn chế RRTD với mục đích nâng cao chất
lượng tín dụng nhằm hạn chế rủi ro đến mức thấp nhất.


4
Qua thu thập về nội dung nghiên cứu các luận văn trước đây có liên
quan đến đề tài này tôi đã tham khảo một số đề tài nghiên cứu khoa học liên
quan về hạn chế RRTD và hạn chế nợ xấu như:
- Luận văn Thạc sĩ – Đại học Đà nẵng của tác giả Nguyễn Thị Kim
Sơn: “Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp
vừa và nhỏ tại chi nhánh BIDV Đà nẵng.” Đối với luận văn này, trong
chương 1 tác giả đã làm rõ được khái niệm RRTD của NHTM, nguyên nhân
RRTD, các tiêu chí đo lường RRTD. Những đặc điểm của DN để thấy được
rủi ro khi cho vay đối với khách hàng này và đề cập đến vấn đề hạn chế
RRTD trong cho vay DN. Qua đó, tôi có thể tham khảo sâu hơn những vấn đề
trên. Tuy nhiên, đề tài chưa làm rõ được nội dung hạn chế RRTD, chưa nêu
được các tiêu chí đánh giá kết quả hạn chế RRTD cũng như các nhân tố ảnh
hưởng đến hạn chế RRTD trong cho vay doanh nghiệp của các NHTM.
Bên cạnh đó, đề tài còn tham khảo một số luận văn khác có liên quan
như luận văn cao học – Đại học Đà nẵng của tác giả: Võ Lê Anh Huy với đề

RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. RỦI RO TÍN DỤNG TRONG NHTM
1.1.1. Khái niệm và phân loại rủi ro trong hoạt động của NHTM
a. Khái niệm
- Theo quan điểm truyền thống: Rủi ro là những thiệt hại, mất mát,
nguy hiểm, hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều
không chắc chắn có thể xảy ra cho con người
- Theo quan điểm trung hòa: Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được.
Rủi ro có tính hai mặt: vừa có tính tích cực vừa có tính tiêu cực. Rủi ro có thể
gây ra những tổn thất, mất mát, nguy hiểm, nhưng cũng chính rủi ro có thể
mang đến cho con người những cơ hội. Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, nhận
dạng đo lường rủi ro, quản trị rủi ro, người ta không chỉ tìm ra được những
biện pháp phòng ngừa, hạn chế tiêu cực và tận dụng phát huy mặt tích cực do
rủi ro mang tới.
b. Phân loại rủi ro
Rủi ro tồn tại trong hoạt động kinh doanh dưới các hình thức khác
nhau. Do đặc điểm đặc thù của hoạt động Ngân hàng làm cho hoạt động này
có độ rủi ro lớn. Có các loại rủi ro chủ yếu sau trong hoạt động của ngân hàng
thương mại.
- Rủi ro tín dụng: tín dụng là hoạt động chủ yếu của ngân hàng
thương mại. Nguồn thu từ hoạt động tín dụng luôn chiếm một tỷ lệ lớn trong
tổng thu nghiệp vụ ngân hàng và đem lại phần lớn lợi nhuận cho Ngân hàng.
Tuy nhiên, hoạt động tín dụng lại làhoạt động có nhiều rủi ro nhất và phức tạp
nhất. Hoạt động tín dụng liên quan chặt chẽ đến mọi lĩnh vực của nền kinh tế.


7
Mỗi rui ro trong các lĩnh vực này đều tiềm ẩn rủi ro trong hoạt động tín dụng
của ngân hàng thương mại. Trong hoạt động tín dụng, ngân hàng thương mại
luôn đặt ra mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, đồng thời tối thiểu hoá rủi ro. Để đạt

hạn trong khi nhu cầu vay vốn trung dài hạn lại ở mức cao. Điều này đã làm
cho Ngân hàng mất cơ hội đầu tư vào những dự án an toàn và có thể đem lại
lợi nhuận cao.
-

Rủi ro hối đoái: là loại rủi ro do sự biến động của tỷ giá hối đoái.

Nếu tỷ giá hối đoái bán ra lớn hơn tỷ giá mua vào thì nhà kinh doanh có lãi,
ngược lại thì bị lỗ. Sự thay đổi tỷ giá dẫn đến sự thay đổi về giá trị ngoại hối,
cụ thể: + Nếu ngân hàng có dư dật về ngoại tệ (vị thế thường - net long
position): Nếu ngoại tệ đó lên giá thì ngân hàng sẽ có lãi khi đánh giá lại và
ngược lại ngân hàng sẽ lỗ khi ngoại tệ đó xuống giá. + Nếu ngân hàng ở vị thế
đoản (net short position) về loại ngoại tệ nào đó, khi ngoại tệ đó lên giá, ngân
hàng sẽ lỗ và ngược lại ngân hàng sẽ có lãi khi ngoại tệ đó xuống giá. Một
trạng thái ngoại hối dù ở thế trường hay thế đoản đều có nguy cơ gây ra tổn
thất cho ngân hàng. Dư dật về ngoại tệ(vị thế trường) càng lớn thì rủi ro càng
cao khi tỷ giá giảm, ngược lại, đoản về ngoại tệ nào đó càng mạnh thì rủi ro
cũng không ít khi tỷ lệ tăng. Khi phân biệt tình hình lãi lỗ ngoại hối theo vị
thế ngoại hối, người ta so sánh lỗ, lãi thực tế xảy ra so với mức lãi, lỗ dự kiến,
qua đó đánh giá chất lượng quản lý rủi ro so với mức lãi, lỗ dự kiến, qua đó
đánh giá chất lượng quản lý rủi ro tỷ giá hối đoái của một ngân hàng.
- Rủi ro trong thanh toán: một ngân hàng hoạt động bình thường phải
đảm bảo được khả năng thanh toán. Khả năng thanh toán tưc là đáp ứng được
các nhu cầu thanh toán hiện đại, đột xuất khi có vấn đề nảy sinh và đáp ứng
được khả năng thanh toán trong tương lai. Khi ngân hàng thiếu khả năng
thanh toán, nếu không được giải quyết một cách kịp thời có thể dẫn đến mất
khả năng thanh toán. Khi ngân hàng thừa khả năng thanh toán sẽ dẫn đến ứ


9

thoát đối với một ngân hàng là sự vỡ nợ của người giao ước trong hợp đồng,
trong đó sự vỡ nợ được xác định là bất kỳ sự vi phạm nghiêm trọng nào đối
với nghĩa vụ hợp đồng khi hoàn trả nợ và lãi
- Theo Quyết đinh 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22 tháng 04 năm 2005
của Thống đốc ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì: “rủi ro tín dụng trong hoạt
động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xẩy ra tổn thất trong hoạt
động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc
không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.
b. Phân loại rủi ro tín dụng
RRTD được chia thành 2 loại:
- Rủi ro giao dịch: là hình thức RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do
những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách
hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm:
· Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân
tích tín dụng, phương án vay vốn để đưa ra quyết định tài trợ của ngân hàng.
· Rủi ro bảo đảm: là rủi ro có liên quan đến các tiêu chuẩn đảm bảo của
khoản vay như mức cho vay, loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo…
· Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay
và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và
kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề.
- Rủi ro danh mục: là RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những
hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, và được phân thành:
· Rủi ro nội tại: là RRTD xuất phát từ đặc điểm hoạt động và sử dụng
vốn của khách hàng vay vốn, lĩnh vực hoạt động kinh tế.
· Rủi ro tập trung: là rủi ro do ngân hàng tập trung cho vay quá nhiều
vào một số khách hàng, một ngành kinh tế hoặc trong cùng một vùng địa lý
nhất định hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao


11

chấp giữa các đảng phái… thì việc triển khai các dự án đầu tư của doanh
nghiệp chắc chắn sẽ gặp khó khăn và ảnh hưởng đến khả năng trả nợ. Cơ chế
chính sách của nhà nước tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh
và môi trường đầu tư vốn của các ngân hàng. Khi có sự thay đổi, điều chỉnh
Pháp luật, chính sách, chế độ của nhà nước hoặc thay đổi địa giới hành chính
của các địa phương, sự sát nhập hay chia cách của một cơ quan, bộ ngành…sẽ
tác động trực tiếp đến mọi các nhân, tổ chức kinh tế - các khách hàng của
ngân hàng, từ đó có thể mang đến rủi ro cho ngân hàng.
· Hiện nay ở Việt Nam chưa có cơ chế công bố thông tin đầy đủ về
doanh nghiệp và ngân hàng. Trung tâm thông tin tín dụng (CIC) bước đầu đã
cung cấp thông tin khá kịp thời về tình hình hoạt động tín dụng. Tuy nhiên,
thông tin cung cấp còn đơn điệu, thiếu cập nhập. Đó cũng là thách thức cho
hệ thống ngân hàng trong việc mở rộng và kiểm soát tín dụng trong điều kiện
thiếu một hệ thống thông tin tương xứng. Nếu các ngân hàng cố gắng chạy
theo thành tích, mở rộng tín dụng với những thông tin không đầy đủ thì sẽ gia
tăng nguy cơ nợ xấu cho hệ thống ngân hàng.
· Môi trường quốc tế:Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, tín dụng
trong nước có mối quan hệ chặt chẽ với tín dụng quốc tế, các dòng vốn luôn


13
vận hành theo quy luật thị trường. Khủng hoảng tài chính làm cho mối quan
hệ thương mại quốc tế giữa Việt Nam và các nước bị thay đổi, tạm ngưng trệ
hoặc cắt đứt, làm giảm sút sức mua, hàng hóa bị ứa đọng khó tiêu thụ sẽ ảnh
hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng vay vốn ngân hàng, tất yếu phát
sinh RRTD.
· Ngoài ra, quá trình tự do hóa tài chính và hội nhập quốc tế có thể làm
cho nợ xấu ra tăng bởi sự cạnh tranh gay gắt và quy luật chọn lọc, đào thải
khắc nghiệt của thị trường khiến cho các khách hàng thường xuyên của ngân
hàng đối mặt với nguy cơ thua lỗ hoặc phá sản. Bên cạnh đó, bản thân ngân

· Do sự thay đổi về đội ngũ cán bộ chủ chốt của doanh nghiệp, bộ
máy quản lý không đồng bộ, điều hành kém, hiệu quả sản xuất không cao,
giảm số lượng và chất lượng sản phẩm.
· Do tình trạng tham nhũng diễn ra trong nội bộ doanh nghiệp, đặc
biệt là các doanh nghiệp nhà nước, làm thất thoát tài chính, ảnh hưởng
đến khả năng trả nợ.
- Nguyên nhân từ phía ngân hàng
Nguyên nhân rủi ro xuất phát từ phía ngân hàng hết sức quan trọng do
ngân hàng là chủ thể của hoạt động tín dụng, cụ thể có một số nguyên nhân
sau:
· Chính sách tín dụng của ngân hành: thể hiện chiến lược và đường lối
của NHTM trong hoạt động tín dụng. Xây dựng chính sách tín dụng thiếu
khoa học sẽ tạo sự chồng chéo giữa các bộ phận trong ngân hàng, ảnh hưởng
tới thời gian ra quyết định đối với một khoản vay, đồng thời có thể tạo ra sự
thiếu chặt chẽ, kiểm tra giám sát, phối hợp công việc giữa các khâu…dẫn đến
rủi ro khó lường.
· Cán bộ thẩm định, xét duyệt cho vay: thiếu thông tin hoặc có thông
tin nhưng không đầy đủ chính xác nên không phân tích, đánh giá khách quan,


15
chính xác về khách hàng; do chủ quan, tin tưởng vào khách hàng mà coi nhẹ
khâu kiểm tra, thẩm định các chỉ tiêu tài chính, phi tài chính, khả năng thanh
toán hiện tại và tương lai, nguồn trả nợ… Không am hiểu ngành nghề, lĩnh
vực, thị trường mà mình đang tài trợ, dẫn đến việc xác định sai hiệu quả của
dự án xin vay. Hoặc do trình độ quản lý, năng lực chuyên môn của cán bộ
ngân hàng chưa bắt kịp với cơ chế thị trường luôn biến động, dẫn đến hạn chế
trong quản lý các khoản vay.
· Phẩm chất, đạo đức của cán bộ: một số cán bộ, nhân viên ngân hàng
trong đó có CBTD suy thoái đạo đức nghề nghiệp, cố tình làm sai nguyên tắc,

- Ảnh hưởng của RRTD đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng
+ Đối với ngân hàng bị rủi ro:
Khi RRTD xảy ra, ngân hàng không thu được nợ trong khi đó vẫn phải
trả gốc và lãi cho nguồn tiền huy động khi đến hạn. Điều này sẽ làm cho ngân
hàng mất cân đối trong việc thu chi, vòng quay vốn tín dụng giảm khiến cho
hiệu quả kinh doanh của ngân hàng giảm, chi phí của ngân hàng tăng cao so
với dự kiến.
Nếu một khoản vay nào đó bị mất khả năng thu hồi thì ngân hàng phải
sử dụng vốn của mình để trả cho người gửi tiền, đến một chừng mực nào đó
ngân hàng không có đủ nguồn vốn để trả cho người gửi tiền thì ngân hàng sẽ
rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán. Điều này rất dễ đẩy ngân hàng
đến thua lỗ hoặc bên bờ vực phá sản nếu không có biện pháp xử lý, khắc phục
kịp thời.
+ Đối với hệ thống ngân hàng:
Các ngân hàng và các tổ chức tín dụng trong một quốc gia có mối liên
hệ rất chặt chẽ với nhau và với các tổ chức kinh tế, xã hội và các cá nhân
trong nền kinh tế. Do vậy, nếu một ngân hàng có kết quả hoạt động xấu, đặc
biệt trong trường hợp mất khả năng thanh toán và phá sản sẽ có những tác


17
động dây chuyền ảnh hưởng xấu đến toàn bộ hệ thống ngân hàng và các bộ
phân kinh tế khác.
- Ảnh hưởng của RRTD đến nền kinh tế - xã hội
Bắt nguồn từ bản chất và chức năng của ngân hàng là một tổ chức trung
gian tài chính huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để cho vay đối với các
tổ chức, các doanh nghiệp và cá nhân có nhu cầu vay lại. Do vậy, thực chất
quyền sở hữu những khoản vay là quyền sở hữu của người gửi tiền vào ngân
hàng. Bởi vậy, khi RRTD xảy ra thì không những ngân hàng chịu thiệt hại mà
quyền lợi của khách hàng cũng bị ảnh hưởng.

đó rủi ro túi dụng là rủi ro lớn nhất và thường xuyên trong hoạt động túi dụng.
Vì vậy, quản trị rủi ro túi dụng tốt, có hiệu quả là mục tiêu là sự sống còn của
các ngân hàng.
Chi phí cho việc trích lập, dự phòng và xử lý các khoản rủi ro túi dụng
là rất lớn.Theo quy đinh của Quyết đinh số 493/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005
yêu cầu các ngân hàng phải trích lập đủ dự phòng cho các khoản rủi ro, điều
này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến lợi nhuận của ngân hàng.
- Thứ hai, quản trị rủi ro tốt góp phần tạo điều kiện làm lanh manh tình

hình tài chính, ngăn ngừa nguy cơ vỡ nợ của các ngân hàng, cũng như gia
tăng năng lực tài chính của các ngân hàng trong quá trình thực hiện các cam
kết về việc gia nhập WTO trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, cũng như đáp
ứng được các yêu cầu của đề án tái cơ cấu các NHTMNN mà đã được NHNN
đề ra trong, cũng như đẩy nhanh quá hình cổ phần hoá các NHTMNN.
- Thứ ba, quản trị rủi ro tốt góp phần ổn đinh tình hình kinh tế xã hội
của đất nước, khu vực. Thúc đẩy tăng trưỏng, phát triển kinh tế ổn dinh và
bền vững, tạo lòng tin vững chắc từ công chúng và khách hàng của các ngân
hàng cũng như tạo niềm tin và gia tăng mức độ tín nhiệm đối vói cộng đồng,
các tổ chức Quốc tế


19
1.2.3. Nguyên tắc trong quản trị RRTD
Quản trị rủi ro tín dụng ngân hàng dựa trên hàng loạt các nguyên tắc,
sau đây là một số nguyên tắc cơ bản.
- Chấp nhận rủi ro: bản thân hoạt động ngân hàng luôn chứa đựng rủi

ro, vì vậy một trong những nguyên tắc của ngân hàng là chấp nhận rủi ro. Rủi
ro là sự hiện hữu khách quan trong hoạt động tín dụng ngân hàng, ngân hàng
phải biết chấp nhận rủi ro cho phép nếu như mong muốn một mức thu nhập


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status