PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của xã hội ngành
chăn nuôi cũng phát triển mạnh mẽ, là một ngành kinh tế mũi nhọn trong
chiến lược phát triển kinh tế của đất nước. Ở nước ta hiện nay, chăn nuôi
lợn trở thành ngành kinh tế quan trọng.
Vài chục năm trở lại đây, chăn nuôi lợn theo hướng công nghiệp tập
trung đã và đang phát triển mạnh mẽ về số lượng trang trại, quy mô đầu
lợn, chất lượng con giống và sản phẩm thịt không ngừng tăng lên. Theo
cục chăn nuôi năm 2010 cả nước có 8.500 trang trại chăn nuôi lợn với sản
lượng thịt lợn của trang trại chiếm 45%, của nông hộ chiếm 55%. Theo
FAO (2009), đàn lợn của Việt Nam là 27,6 triệu con, xếp vị trí thứ tư trên
thế giới về số đầu lợn.
Bên cạnh những thuận lợi đạt được, chăn nuôi lợn ở nước ta cũng gặp
rất nhiều khó khăn và trở ngại lớn. Một trong những trở ngại lớn nhất
trong chăn nuôi lợn là dịch bệnh xảy ra còn phổ biến và phức tạp, gây thiệt
hại cho đàn lợn nuôi tập trung cũng như đàn lợn nuôi ở hộ gia đình. Trong
đó, tiêu chảy lợn con là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tổn
thất cho ngành chăn nuôi lợn, vì nó làm giảm khả năng tăng trưởng, trọng
lượng cai sữa thấp, tỷ lệ còi cọc tăng, ...từ đó làm giảm hiệu quả kinh tế,
ảnh hưởng sự phát triển của ngành chăn nuôi lợn.
Trong thực tế có nhiều đề tài đã và đang nghiên cứu về cách phòng và
trị tiêu chảy ở lợn con nhằm tìm ra nguyên nhân gây bệnh, cũng như đề ra
giải pháp tối ưu trong cách phòng và trị sao cho có hiệu quả nhất góp phần
không nhỏ trong việc hạn chế những thiệt hại do tiêu chảy gây ra ở lợn con
theo mẹ. Tuy nhiên sự phức tạp của cơ chế gây bệnh, những tác động phối
hợp của các nguyên nhân, đặc điểm cơ thể gia súc non… đã ảnh hưởng
không nhỏ đến việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu. Vì thế các giải pháp
đưa ra chưa thực sự đem lại kết quả mong muốn. Tiêu chảy ở lợn con theo
mẹ vẫn là nguyên nhân gây thiệt hại lớn cho các cơ sở chăn nuôi lợn.
Xuất phát từ vấn đề trên, đồng thời qua thời gian tham gia học tập, em đã
2.1. GIỚI THIỆU VỀ TRẠI CHĂN NUÔI LỢN NAM HÀ
2.1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Trại Nam Hà thuộc quyền quản lý của công ty cổ phần chăn nuôi
CP Việt Nam, nằm ở xã Tân Hà, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận. Cách
quốc lộ 1A về phía đông chừng 10km. Là tỉnh nằm trong khu vực nhiệt đới
gió mùa, một năm chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa
bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4
năm sau. Bình Thuận nằm trong khu vực khô hạn nhất cả nước, có nhiều
nắng, gió. Nhiệt độ trung bình hằng năm từ 26- 270 C, lượng mưa trung
bình hằng năm từ 800- 1150mm, số giờ nắng rất cao, trung bình hằng năm
khoảng 2459 giờ. Độ ẩm bình quân cả năm 79%. Và Hàm Tân là một
huyện cực nam của tỉnh Bình Thuận.
Về vị trí địa lý: phía đông của huyện giáp biển đông, phía nam
giáp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, phía bắc giáp với huyện Hàm Thuận Nam
của tỉnh Bình Thuận. Huyện có diện tích 738,809 km 2, dân số 72.553
người, mật độ 98 người/km 2. Huyện Hàm Tân gồm: thị trấn Tân Nghĩa, thị
trấn Tân Minh và 8 xã: Tân Thắng, Sơn Mỹ, Tân Hà, Tân Xuân, Tân
Nghĩa, Sông Phan, Tân Đức và Tân Phúc.
2.1.2. Tổng quan của trại
Trại lợn nái Nam Hà được thành lập vào năm 2009, với quy mô 2400
lợn nái được xây dựng tại xã Tân Hà, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận.
Quy mô trại chăn nuôi có tổng diện tích: 7,5 ha. Bao gồm khu chăn nuôi
(khu sạch) và khu sinh hoạt của cán bộ, công nhân (khu dơ). Hai khu này tách
biệt nhau bởi hệ thống nhà sát trùng đảm bảo cho công tác phòng dịch.
Khu chăn nuôi bao gồm có trại cách ly, trại mang thai, trại đẻ và trại nọc.
Trại cách ly có 1 nhà gồm 2 bộ. Mỗi bộ có 4 ô chuồng, mỗi ô có diện
tích 25m2 chứa 25 nái. Giữa 2 ô chuồng có 1 ô nhỏ, diện tích 4m2 để nhốt
lợn nái già làm autovaccine.
Có 4 trại mang thai, mỗi trại gồm 8 dãy. Bao gồm 7 ô rộng và 539 ô
nhỏ.Trại đực giống gồm 40 ô rộng nhốt lợn đực giống, 2 ô để lấy tinh, một
2.1.3. Nhiệm vụ
Trại có nhiệm vụ cung cấp lợn giống nuôi thịt thương phẩm cho
công ty và gia công với công ty cổ phần chăn nuôi CP số lượng trung bình
hàng tháng 4400 lợn con.
Ngoài ra trại còn cung cấp lợn giống nuôi thịt thương phẩm chất
lượng cao cho các cơ sở chăn nuôi trong tỉnh và các vùng lân cận.
2.1.4. Cơ cấu tổ chức của trại
Cơ cấu tổ chức của trại có quy mô 2400 với 40 công nhân
4
Giám đốc Trại
KT Trại Bầu
KT Trại Đẻ
Pigpro
Văn Phòng
Thợ điện
Quản lý 25
công nhân
Quản lý trại
bằng chương
trình máy tính
Tỷ Lệ %
1
Hậu bị
274
10.72
2
Lứa 1
245
9.58
3
Lứa 2
215
8.41
4
Lứa 3
Lứa 7
296
11.58
2557
100%
Tổng
2.1.6. Qui trình chăm sóc nuôi dưỡng và công tác thú y
2.1.6.1. Thức ăn
Thức ăn được sử dụng cho lợn hoàn toàn là thức ăn công nghiệp với
các loại cám dành riêng cho heo ở các giai đoạn khác nhau.
5
Bảng 2. Thành phần dinh dưỡng của các loại cám dùng trong trại
550S
(Lợn con tập ăn
và cai sữa đan)
566S
(nái mang thai)
567SF
(nái nuôi con
0,9 – 1
NaCl (%)
0,4 – 0,8
0,4 – 0,6
0,4 – 0,6
P tối thiểu (%)
0,6
0,8
0,7
Độ ẩm (%)
14
14
14
Colistine tối đa (mg/kg)
Chlotetracyline tối đa
(mg/kg)
4
1-3
Ngày đẻ
1
1
0,5
0,5
0,5
0,5
0,5
0,5
1
0,7
0,5
0,5
2,5
2,2
1,5
1,5
1
2
3
4
5
>=6
Sau đẻ
(ngày)
2.1.6.2. Qui trình chăm sóc lợn nái
Trước khi sinh 5 - 7 ngày nái được đưa lên chuồng đẻ, lợn nái được
cho ăn cám 567SF cho nái đẻ, trung bình lợn nái ăn khoảng 2 - 2,5
kg/con/ngày được chia ra làm 3 lần. Trước khi sinh 3 ngày lợn nái được
6
cho ăn với khẩu phần hạn chế nhằm giúp cho lợn nái đẻ con được dễ dàng
và hạn chế bệnh viêm vú sau khi sinh.
Lợn nái đến ngày sinh được theo dõi kỹ và cho đẻ tự nhiên (chỉ
can thiệp đối với nái đẻ rất chậm). Tùy vào sức rặn của nái mà người chăm
sóc có quyết định tiêm hay không tiêm thuốc oxytoxin (2ml/nái). Khi nái
có biểu hiện sắp đẻ tiêm Vetri - Amox liều lượng 1ml/10kg thể trọng,
nhằm kháng viêm cho lợn nái sau khi sinh. Sau khi nái đẻ xong tiêm
Oxytocin liều lượng 5ml/nái.
Trong quá trình nuôi con, nếu thấy nái có hiện tượng chảy dịch viêm
và sốt thì kịp thời tiêm 1 liều Vetrimoxin 1ml/10 kg thể trọng + Oxytocin
2ml/nái và vitamin C với liều 20ml/nái (kết hợp Calci trong trường hợp
nái yếu hay run chân).
Đối với nái đẻ nên hạn chế tắm, chỉ tắm cho nái trước đẻ 2 ngày kết hợp
với xịt sát trùng và xịt ghẻ. Hàng ngày chỉ vệ sinh gầm chuồng, sàn chuồng lợn
mẹ và lợn con bằng vôi bột, cạo và lau sạch máng ăn cho lợn mẹ, lợn con sau
mỗi bửa ăn, tránh làm ướt và làm lạnh lợn con gây tiêu chảy.
2.1.6.3. Qui trình chăm sóc lợn con theo mẹ
Chăm sóc lợn con theo mẹ có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao
năng suất chăn nuôi vì không chỉ ảnh hưởng đối với lợn con mà còn rất quan
trọng đối với cả lợn mẹ và lợn thịt sau này. Vì vậy cần có những kỹ thuật chăm
+ Tránh sự cắn xé bầu vú lợn mẹ, hạn chế bệnh viêm vú.
+ Có điều kiện để cai sữa sớm cho lợn con, tăng hệ số quay vòng lứa
đẻ/nái/năm.
- Phương pháp tập ăn sớm:
Khi lợn con 4 - 5 ngày tuổi, tiến hành cho lợn con nhận biết và làm quen
với thức ăn. Thức ăn tập ăn phải đảm bảo có tính thèm ăn cao. Cần lựa chọn
loại thức ăn, cũng như phương pháp chế biến sao cho kích thích sự thu nhận
thức ăn của lợn con. Lợn con thường rất thích ăn thức dạng viên hay bột nhỏ
khô có mùi thơm. Phải cho lợn con làm quen với nguồn glucid, lipid, protid của
các loại thức ăn để hệ tiêu hóa của lợn con sớm bài tiết các enzyme tiêu hóa
thích hợp.
2.1.6.4. Nước uống
Do hệ thống nước thiếu nên trại sử dụng nước lấy từ suối dùng cho
chăn nuôi. Nước lấy từ suối được cho vào hồ chứa để xử lý bằng hóa chất
Chlorine. Với tỉ lệ 3-5g Chlorine /1000 lít nước trong thời gian 8-12h ( Có
điều kiện xử lý càng lâu càng tốt). Nước xử lý xong theo hệ thống 1 đến
từng ô chuồng cho lợn uống. Dùng máy bơm, bơm nước từ bồn chứa vào hệ
thống ống cho đến từng ô chuồng để tắm lợn và rửa chuồng. Trung bình mỗi
ngày trại sử dụng 320 m3 nước.
8
2.1.6.5. Vệ sinh phòng dịch
Trại áp dụng phương pháp phòng bệnh trừ dịch tổng hợp với công tác vệ
sinh thú y nghiêm ngặt. Cổng trước và sau của trại có hệ thống phun sát trùng
người và phương tiện ra vào trại. Khu sinh hoạt của cán bộ và công nhân được
xây dựng nơi tách biệt xa trại, cách nhau 50m. Nhân viên mới vào trại, phải ở
cách ly 3 ngày trước khi vào làm việc trong khu chăn nuôi. Nhân viên vào làm
việc trong khu chăn nuôi phải tắm sát trùng và mặc quần áo đồng phục lao động
1:3200
Sát trùng người, chuồng có lợn,
Hố giàn lạnh khi có dịch
Omnicide
Rải lối đi trong và ngoài trại,
chà chuồng, sát trùng ủng
2
Vôi bột
3
Iodine
1:400
4
Cholorine
3-5g/1000l nước
Lau vú
Xử lý nước lợn uống
Công tác phòng bệnh trong trại được thực hiện bằng việc tiêm vaccine
6
Parvo + AD
2ml/con
Bảng 6. Vaccine cho lợn nái mang thai
Loại Vaccin
Tuần mang thai
10
SFV (Coglapest)
12
FMD
E.COLI 1
14
E.COLI 2
Liều lượng
2ml/con
+
2ml/con
2ml/con
Thức ăn do công ty cung cấp, giá bán lợn thịt cao nên chăn nuôi có
lãi tạo nguồn vốn để tiếp tục đẩy mạnh phát triển về số lượng và chất
lượng đàn lợn
Được sự quan tâm đầu tư của công ty như vốn, kỹ thuật có trình độ
cao, các thiết bị khoa học kỹ thuật hiện đại nên đảm bảo năng suất và chất
lượng sản phẩm hiệu quả chăn nuôi ngày một cao.
Trại luôn được tiếp cận với khoa học kỹ thuật mới, áp dụng kỹ
thuật tiên tiến vào chăn nuôi, đưa một số con giống mới có năng suất
phẩm chất tốt vào chăn nuôi có hiệu quả cao.
Luôn chủ động tích cực trong công tác phòng ngừa dịch bệnh do đó
tình hình dịch bệnh đã được khống chế không có dịch bệnh xảy ra.
2.1.7.2. Khó khăn
Trại tuy đã đầu tư khá lớn về cơ sở vật chất, kỹ thuật nhưng bên cạnh
những điều kiện thuận lợi vẫn còn một số khó khăn hiện nay của trại như:
nguồn điện , nguồn nước cung cấp cho hoạt động của trại còn thiếu, đây là khó
khăn gây trở gại lớn cho sản xuất hoạt động chăn nuôi của trại.
Tay nghề của một số công nhân chưa cao, hầu hết đây là nguồn lao động
phổ thông chưa có kiến thức cơ bản cũng như kỹ thuật chăn nuôi lợn, phải mất
một thời gian tập huấn hướng nghiệp mới thích nghi với công việc của mình.
Hơn nữa công nhân trong trại luôn bị xáo trộn và không ổn định.
Chăn nuôi công nghiệp là chăn nuôi ở trình độ kỹ thuật cao trên đối
tượng vật nuôi cho năng suất sản lượng cao nhưng lại dễ xảy ra dịch bệnh nếu
công tác chăm sóc trực tiếp của công nhân không tốt.
11
2. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
2.1. Một vài đặc điểm sinh lý lợn con
Theo Nguyễn Quang Linh, (2005) lợn con từ lúc sơ sinh đến lúc cai
12
toàn không có HCl tự do, vì lượng axit tiết ra ít và nó nhanh chóng liên kết
với các niêm dịch. Ngoài sự thiếu HCl tự do còn có sự giảm axit trong
dịch vị thức ăn với HCl làm cho hàm lượng HCl tự do rất ít hoặc hoàn
toàn không có trong dạ dày của lợn con bú sữa. Vì thiếu HCl tự do trong
dạ dày nên hệ vi sinh vật dễ lên men gây hiện tượng ỉa chảy ở lợn con.
Cơ năng điều tiết nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh nên thân nhiệt
lợn con chưa ổn định, nghĩa là sự sinh nhiệt và thải nhiệt chưa cân bằng.
Khả năng điều tiết nhiệt của lợn con còn kém do nhiều nguyên nhân: Lớp
mỡ dưới còn mỏng, lượng mỡ dự trữ trong cơ thể lợn còn thấp. Hệ thần
kinh điều khiển cân bằng nhiệt chưa hoàn chỉnh. Diện tích bề mặt cơ thể
lợn còn cao, lợn con mất nhiệt lớn.
Do những đặc điểm trên mà khả năng điều tiết nhiệt của lợn dưới 3
tuần tuổi còn rất kém, nhất là trong tuần đầu mới đẻ ra cho nên nếu nuôi
lợn trong chuồng có nhiệt độ thấp và ẩm độ cao thì thân nhiệt lợn con hạ
xuống rất nhanh. Mức độ hạ thân nhiệt nhiều hay ít nhanh hay chậm chủ
yếu phụ thuộc vào nhiệt đọ của chuồng nuôi và tuổi của lợn con. Nhiệt độ
của chuồng nuôi càng thấp thân nhiệt lợn con hạ xuống càng nhanh, ngày
tuổi của lợn con càng ít thì thân nhiệt hạ xuống càng nhiều.
Trong giai đoạn này lợn con sinh trưởng rất nhanh, tầm vóc và thể
trọng tăng dần theo tuổi. Từ lúc sơ sinh đến lúc cai sữa trọng lượng của
lợn con tăng từ 10 đến 12 lần. Các cơ quan trong cơ thể cũng thay đổi và
tăng lên nhanh chóng. Hàm lượng nước giảm dần theo tuổi, vật chất khô
tăng dần, các thành phần hóa học trong cơ thể của lợn thay đổi nhanh
chóng.
Sau khi sinh, lợn con phải tự thích ứng hàng loạt với các điều kiện
khác với môi trường trong bụng mẹ. Nên lợn con rất dễ bị stress do nhiều
mất chất điện giải, máu cô đặc làm con vật gầy nhanh dẫn đến chết (Phùng
Ứng Lân, 1985).
Trong lịch sử nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy, nhiều tác giả đã
dày công nghiên cứu, tìm hiểu nguyên nhân gây ra bệnh tiêu chảy kết quả
cho thấy nguyên nhân gây ra bệnh tiêu chảy rất phức tạp. Tuy nhiên tiêu
chảy là hiện tượng bệnh lý ở đường tiêu hóa, có liên quan rất nhiều yếu tố,
có yếu tố là nguyên nhân nguyên phát, có yếu tố là nguyên nhân thứ phát.
Song cho dù bất cứ nguyên nhân nào dẫn đến tiêu chảy thì hậu quả của nó
cũng gây ra viêm nhiễm, tổn thương thực thể đường tiêu hóa và cuối cùng
là nhiễm trùng. Một số nguyên nhân dẫn đến lợn con bị tiêu chảy phổ biến
thường gặp:
Do bản thân gia súc non
Do đặc điểm sinh lý của lợn con trong những ngày đầu chưa kịp thích
nghi với môi trường mới. Bộ máy tiêu hóa chưa hoàn thiện về chức năng và
cấu trúc, các men tiêu hóa còn nghèo về số lượng và chất lượng, HCl phân tiết
ít làm cho pH trong dịch đường tiêu hóa cao tạo điều kiện thuận lợi cho vi
khuẩn độc hại đường tiêu hóa phát triển và gây bệnh
14
Đặc điểm của bộ máy tiêu hoá như dạ dày và ruột của lợn con trong 3
tuần tuổi đầu chưa có khả năng tiết dịch vị, thức ăn kích thích trực tiếp vào niêm
mạc mà tiết dịch vị, trong dịch vị có axit HCl hàm lượng và hoạt tính của men
Pepxin cũng rất ít.
Lượng HCl chỉ đủ để hoạt hoá men pepxinogen thành men pepxin. HCl
không đủ làm trương nở protein nên pepxin tác dụng kém hiệu quả. Không đủ
làm tăng độ toan dạ dày nên tạo điều kiện cho vi khuẩn bất lợi xâm nhập và phát
triển ở ruột non.
Sự phân tiết enzym ở dạ dày và ruột kém. Nếu ăn thức ăn kém chất lượng,
lợn con không tiêu hoá tốt dẫn đến tiêu chảy
phải tăng lên cho phù hợp, sự thiếu sắt sẽ làm ngưng trệ quá trình thành
lập hemoglobine của hồng cầu, dẫn đến thiếu máu sẽ làm giảm sức đề
kháng, nên lợn con dễ bị tiêu chảy.
Theo Niconxki (1983), trong quá trình phát triển lợn con chỉ tổng
hợp được vitamin A từ 20 ngày tuổi trở đi. Trong khi đó dạ dày thường
xuyên có sự thay đổi đều đặn các tế bào biểu bì, nên khi thiếu vitamin A
biểu mô niêm mạc xảy ra quá trình loạn dưỡng như rối loạn chức năng nhu
động, phân tiết và hấp thu của dạ dày ruột. Thiếu vitamin A làm giảm khả
năng tạo kháng thể trong máu. Do sừng hóa màng niêm mạc biểu mô nên
giảm khả năng tiết dịch của các tuyến, giảm tiết dịch tiêu hóa làm rối loạn
khả năng hấp thụ các chất dinh dưỡng trong ruột, thức ăn ứ đọng tạo điều
kiện thuận lợi cho vi khuẩn có hại phát triển, sinh hiện tượng loạn khuẩn.
Theo Phùng Ứng Lân (1986), do khả năng điều tiết thân nhiệt chưa
hoàn chỉnh nên lợn con rất nhạy cảm với sự thay đổi đột ngột của thời tiết,
nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp, ẩm độ chuồng nuôi cao sẽ dẫn đến tiêu chảy.
Ở lợn con sơ sinh lớp mỡ dưới da rất ít và thiếu mỡ nâu nên khả năng
sản sinh nhiệt kém. Mặt khác, diện tích bề mặt lớn hơn so với trọng lượng cơ
thể nên lợn con dễ bị mất nhiệt và rất nhạy cảm với lạnh. Khi stress lạnh kéo
dài, lợn con dễ bị rối loạn tiêu hóa dẫn đến tiêu chảy (Trần Thị Dân, 2003)
Do đặc tính lợn con hay liếm láp nước đọng nên dễ nhiễm vi khuẩn
gây bệnh vào đường ruột hay do lợn con ăn thức ăn của mẹ, bộ máy tiêu
hóa khó tiêu dẫn đến rối loạn tiêu hóa và tiêu chảy.
Theo Võ Văn Ninh (1985), thời kỳ lợn con mọc răng cũng gây tiêu
chảy cho lợn con. Hai giai đoạn lợn sốt và lợn con tiêu chảy là lúc 1 0 đến
17 ngày tuổi và 23 đến 29 ngày tuổi ứng với thời gian mọc răng sữa tiền
hàm số 3 hàm dưới và răng tiền hàm số 4 hàm trên.
Do lợn mẹ:
Sữa mẹ là nguồn thức ăn chính và quan trọng nhất đối với lợn con
theo mẹ. Vì sữa mẹ là nguồn thức ăn có đầy đủ chất dinh dưỡng không có
loại thức ăn nào có thể thay thế được. Do đó sự chăm sóc nuôi dưỡng lợn
không nhận được kháng thể thụ động truyền qua sữa đầu, dẫn đến nguy cơ
nhiễm vi sinh vật và dẫn đến bệnh tiêu chảy ở lợn con.
Theo Võ Văn Ninh (1995), ở những đàn có lợn mẹ tốt sữa, sữa mẹ
nhiều và giàu chất dinh dưỡng, lợn con bú nhiều sữa không tiêu hóa kịp và
có nhiều dinh dưỡng khó tiêu bị đẩy xuống ruột già là môi trường thuận
lợi cho vi sinh vật có hại gây bệnh tiêu chảy cho lợn con theo mẹ. Lợn nái
đẻ lứa đầu có thể nhiều con không có sữa ( vú lép, tuyến sữa không phát
triển hoặc kém phát triển, không có vú hoặc núm vú không có lỗ tia). Lợn
mẹ bị nhiễm bệnh trước khi sinh mặc dù đã điều trị và khỏi triệu chứng
nhưng vẫn còn mang mầm bệnh như thương hàn, xoắn khuẩn,...khi mang thai
vi trùng xâm nhập qua màng nhau, gây sẩy thai hoặc lợn con đẻ ra có thể bị
nhiễm các vi trùng này.
17
Do thành phần của sữa mẹ có nhiều chất khô, mỡ khó tiêu nên lợn
con bú vào bị tích thực. Từ đó Ecoli tác động phân hủy sữa thành acid gây
viêm dạ dày ruột dẫn đến tiêu chảy.
Do điều kiện môi trường và ngoại cảnh:
Điều kiện môi trường và ngoại cảnh ảnh hưởng rất lớn đến nền chăn
nuôi và tạo mọi nguyên nhân dẫn đến bệnh tật. Yếu tố môi trường như
nhiệt độ, ẩm độ quá cao, quá lạnh, mưa tạt, gió lùa, vệ sinh chăm sóc kém,
nhốt lợn quá chật, kém vận động, không áp dụng đúng qui trình đỡ đẻ, ổ
úm dơ, đèn úm thiếu cũng là nguyên nhân gây tiêu chảy lợn con.
Khi mới sinh ra khả năng thích nghi và bảo vệ của lợn con rất kém,
lợn con nhạy cảm với thay đổi đột ngột của điều kiện ngoại cảnh. Chăm
sóc nuôi dưỡng không đúng kỹ thuật là tiền đề cho vi sinh vật phụ nhiễm
dẫn đến viêm nhiễm. Thiếu sót đầu tiên là lợn con không được bú sữa đầu
đầy đủ. Sữa đầu ngoài thành phần dinh dưỡng cao, còn chứa kháng thể mẹ
truyền qua giúp lợn con phòng chống bệnh trong 3 - 4 tuần lễ đầu.
giảm do kháng sinh, hoá chất và nấm mốc độc hại có trong sữa mẹ và
trong thức ăn cũng như do các bất lợi về môi trường khác như nóng ẩm,
khí thải chuồng nuôi...
Vi sinh vật là nguyên nhân luôn hiện diện trong mọi trường hợp của
bệnh tiêu chảy trên lợn con, có thể nói đây là tác nhân chủ yếu của bệnh
tiêu chảy lợn con. Sự nhiễm trùng đường ruột thường xảy với các loại
mầm bệnh trong chuồng trại, do mầm bệnh từ lợn mẹ truyền sang hoặc
mầm bệnh có trong thức ăn, nước uống. Bình thường các vi khuẩn đường
ruột luôn luôn ở thế quân bình đảm bảo sự tiêu hóa bình thường cho cơ thể
vật chủ, thế quân bình của vật chủ dựa vào 2 cơ chế:
+ Tranh giành nhau một chất chuyển hóa cân bằng cho sự phát triển.
+ Tiết ra Teriocin có tính chất kháng sinh đối với vi khuẩn khác
nhưng không có tác dụng đối với vi khuẩn tiết ra nó.
Theo Nguyễn Như Pho (1995), hệ vi khuẩn đường ruột được biểu thị
qua sơ đồ:
Vi sinh vật có lợi:
Lactobacillus
Acidophillus
Nấm men
Saccharomyces
Tiết chất có tính kháng sinh
Vi sinh vật có hại
Các vi sinh vật gây bệnh
Tiết độc tố
Sơ đồ 2.1. Hệ vi khuẩn đường ruột của lợn
Vi khuẩn
Clostridium perfringens type A
Tràng độc huyết
Clostridium perfringens type C
Viêm ruột hoại tử
E.coli
Tiêu chảy do E.coli
Salmonella
Phó thương hàn
Treponema hyodysenteriae
Hồng lỵ
Campylobacter coli
Tiêu chảy do Campylobacter
Nguyên sinh động vật
Isospora suis
Cầu trùng
nhân do ký sinh trùng, 7 trường hợp ngộ độc và 15 trường hợp bắt nguồn từ
các bệnh nội khoa.
2.2.1.3. Cơ chế sinh bệnh tiêu chảy ở lợn con
Tiêu chảy là phản ứng có lợi cho cơ thể, nhằm loại thải nhanh những chất
độc hại ra khỏi đường tiêu hóa của thú. Tuy nhiên, với đặc điểm là tăng nhu động
ruột, tăng tiết dịch ở ruột sẽ làm giảm sự hấp thu các dưỡng chất.
Nguyên nhân không do vi sinh vật
Stress
giảm
sức đề
kháng
Nhiễm
trùng
đường
tiêu
hóa
Độc tố vi sinh vật
tấn công niêm
mạc ruột
Viêm ruột
Kích
thích nhu
động ruột
Ức chế thần kinh
giao cảm
Theo Nguyễn Như Pho (1995), cơ chế sinh bệnh được trình bày qua
sơ đồ 2.3
2.2.3. Đặc điểm của một số bệnh gây tiêu chảy trên lợn con theo mẹ
2.2.3.1. Bệnh viêm dạ dày ruột (Transmissible Gastroenteritis - TGE)
Trên thế giới, năm 1956, sau khi nghiên cứu bệnh viêm dạ dày - ruột ở
lợn con, Niconxki đã chính thức công bố nhóm virus Corona hướng biểu bì
đường ruột là nguyên nhân gây bệnh viêm dạ dày - ruột (Phùng Ứng Lân, 1985)
TGE do một virus thuộc nhóm Coronavirus họ Coronaviridae gây ra.
Virus được phủ lớp bọc dễ bị phá hủy bởi các chất sát trùng, nhiệt độ cao và ánh
sáng mặt trời. Virus kháng acid, nên có thể đi qua dạ dày và gây nhiễm vào ruột,
sống được lâu dài trong môi trường lạnh và ẩm.
Khi Virus TGE vào trong tế bào, hàng ngàn phần tử virus được giải phóng
và nhiễm sang các tế bào khác. Sau 4 - 5 chu kỳ nhân lên của virus, hầu hết tế
bào ở niêm mạc đường tiêu hóa lợn sơ sinh đều hoại tử.
Virus tạo nên cho cơ thể thú đáp ứng miễn dịch, miễn dịch cơ thể đạt mức
tối đa vào khoảng 2 - 3 tuần sau khi sinh nhiễm bệnh. Đồng thời cũng tạo ra một
đáp ứng miễn dịch cục bộ trong dịch ruột với 2 loại kháng thể có hoạt động khác
nhau. Một xuất hiện ngay lúc virus định vị vào tế bào ruột và loại thứ hai xuất
hiện trễ hơn ở heo mắc bệnh.
Điều cần lưu ý là có 3 loại Coronavirus gây ra bệnh dạ dày - ruột trên lợn :
- Virus gây ngưng kết huyết và viêm não tủy gây ói mữa và gầy còm trên
heo bú mẹ. Đây là trạng thái trung gian giữa cảm nhiễm hệ thống thần kinh
ngoại biên và trung ương.
- TGE Coronavirus gây viêm dạ dày ruột truyền nhiễm và Coronavirus 777
gây bệnh dịch tiêu chảy heo con. Cả hai đều gây hội chứng tiêu chảy cấp ở mọi
lứa tuổi, gây tiêu chảy mãn tính và còi trên heo cai sữa. Tuy nhiên, TGE
Coronavirus là nguyên nhân chủ yếu gây tiêu chảy cấp trên heo sơ sinh.
22
cho thấy 41,90% số mẫu dương tính với PEDV. Không phát hiện được mẫu
dương tính với TGEV. Kết quả chẩn đoán cho thấy tỉ lệ mẫu dương tính với
PEDV ở ruột (58,14%) cao hơn mẫu phân (16,96%). (Tạp chí KHKT Thú y số
5 năm 2012)
23
16 chủng virut PED thu thập từ các ổ dịch tiêu chảy cấp trên heo được
khuếch đại bằng kỹ thuật nested RT-PCR và giải trình tự để tìm hiểu đặc trưng
kiểu gien và mối liên hệ dịch tễ phân tử của virut gây bệnh giữa các nước. Các
chủng PEDV ở Việt Nam có sự tương đồng gien rất cao với các chủng phân lập
từ các nước láng giềng như Trung Quốc (JS-2004-2) và Thái Lan
(07np01, Ku01cb08) với sự khác biệt rất nhỏ, lần lượt là 0,56 – 2,86%, 0,00 –
1,71%. Do đó, có thể dự đoán nguồn gốc PEDV gây dịch tiêu chảy ở Việt Nam
là từ các nước láng riềng có mối quan hệ gần về mặt địa lý. Các chủng virut
PED ở Việt Nam bắt đầu hình thành sự đa đạng (đột biến điểm) ở các địa
phương khác nhau như Bình Dương, Đồng Nai và Tp.HCM. ( Tạp chí KHKT
Thú y số 7 năm 2012)
Theo trung tâm ứng dụng kĩ thuật Đồng Nai nghiên cứu thì đối với
bệnh tiêu chảy cấp, các tác nhân gây bệnh rất đa dạng bao gồm virus, vi khuẩn
và nguyên sinh động vật, trong đó virus là tác nhân gây hại lớn nhất. Nhìn
chung. Clostridium perfringens được phát hiện 48 %, E. coli 20 %, C.
difficile 10 %, rotavirus 9 % trong các trường hợp tiêu chảy cấp. Trong số các
virus, nhóm rotavirus và hai coronavirus là PEDV (Porcine Epidemic Diarrhea
Virus) và TGEV (Transmissible Gastroenteritis Virus) là nguy hiểm nhất với tỷ
lệ gây chết có thể lên đến đến 100% đối với heo con duới 7 ngày tuổi.
Thời gian nung bệnh 1- 3 ngày, tập trung trên lợn con theo mẹ và
giai đoạn cai sữa, với đặc điểm tử số thấp, tiêu chảy nặng, lây lan nhanh ,
phân vàng nhiều nước, ói mửa là triệu chứng điển hình, lợn con mất nước
chết.
Bệnh tích trên lợn con: thành dạ dày chứa nhiều chất nhầy, viêm
ruột, xuất huyết nhiều nơi, màng treo ruột sưng và xuất huyết, lách xung
huyết và rất dai, phổi có khi viêm, xuất huyết.
2.2.3.5. Tiêu chảy do E.coli
Thời gian nung bệnh không xác định được, lợn con theo mẹ và lợn
con cai sữa mắc bệnh cao hơn lứa tuổi khác, khi bệnh nhẹ lợn con bú ít, ăn
ít, sốt nhẹ 39,5 - 400C. Khi nặng lợn con bỏ bú, bỏ ăn hoàn toàn, sốt đến
410C. Lợn con bị bệnh trở nên uể oải, lông xù, mắt sâu, niêm mạc mũi,
mắt trắng bệch, đôi khi có sắc thái vàng, lợn con gầy còm, giảm trọng
lượng hằng ngày so với những con khác.
Lợn con tiêu chảy ở 0 - 4 ngày tuổi có phân màu vàng kem hoặc hơi
xanh với rất nhiều nước, ở 4 - 21 ngày tuổi có phân màu trắng hoặc xám
trắng. Trong trường hợp nặng lợn con mất phản ứng rõ rệt với các kích
thích, run cơ, co giật, có thể chết. Mổ xác thấy trên lớp niêm mạc có
những vết loét điểm hay vết loét mảng, lợn mắc bệnh có thể kèm theo
viêm ruột cata, tụ huyết hay xuất huyết, vi nhung bị bất triển, số lượng
bạch cầu, đại thực bào tăng, đi tản ra xoang. Chẩn đoán dựa vào triệu
chứng lâm sàng, chẩn đoán trong phòng thí nghiệm.
25