Quản lí hoạt động dạy học ở trường đại học sân khấu điện ảnh hà nội trong đào tạo theo học chế tín chỉ - Pdf 39

Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2

TRẦN THỊ TUYẾT HỒNG

QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC SAN KHẤU - ĐIỆN ẢNH HÀ NỘI
TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHÉ TÍN CHỈ

LUẬN YẢN THẠC sĩ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI, 2016


TRẦN THỊ TUYẾT HỒNG

QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
Ở TRƯỜNG ĐAI HOC SÂN KHẤU - ĐIÊN ẢNH HÀ NÔI
• • • •

TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ
Chuyên ngành: Quản lí giáo dục
Mã số: 60140114

LUẬN VĂN THẠC sĩ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Nguyễn Thị Tình
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ và hỗ trợ của các thầy cô giáo,
bạn bè đồng nghiệp và các em sinh viên.
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới giảng viên hướng dẫn - PGS.TS. Nguyễn Thị Tình. Cô là người hiểu biết
sâu sắc về khoa học cũng như là kinh nghiệm trong công tác quản lí đã tạo mọi điều kiện hướng dẫn, động viên và giúp đỡ tôi


3.1.1......................................................................................................................


3.1.
Các

nguyên

tắc

đề

xuất

biện

pháp

73
74

......................................................................................................................... .
3.2.........................................................................................................................Mộ
t số biện pháp cụ thể...................................................................................... .
3.3.1. Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lí, giảng viên và sinh viên về mục

PHULUC



sv
đăng

các
môn
học
(và tự chọn) theo CTĐT
Giảng viên
GV
6.
Bảng 2.6. Thực tíạng hoạt động kiểm tra - đánh
giá kết quả của sv
Giảng viên chủ nhiệm
GVCN
7.
Bảng 2.7. Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ dạy học
Giáo dục và đào tạo
GD&ĐT
8.
Bảng 2.8. Thực trạng quản lí việc xây dựng và thực hiện ĐCMH
Hoạt động dạy học
HĐDH
9.
Bảng 2.9. Thực trạng quản lí đổi mới nội dung, phương pháp dạy học
Học chế tín chỉ
HCTC
10. Bảng 2.10. Thực trạng quản lí học tập của sv theo HCTC
Kiểm tía - đánh giá
KT-ĐG
11.

16.

Bảng 3.2. Tính khả thi của những biện pháp quản lí HĐDH trong đào tạo
theo HCTC

17.

Bảng 3.3. Tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp

II.

Danh mục biểu đồ

1.

2.
3.

Biểu đồ 3.1. Tính cần thiết của những biện pháp quản lí HĐDH trong đào tạo
theo HCTC
Biểu đồ 3.2. Tính khả thi của những biện pháp quản lí HĐDH trong đào tạo
theo HCTC
Biểu đồ 3.3. Tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi giữa các biện
pháp

m.

Danh mục Stf đồ

1.

8

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1.

về mặt thực tiễn
Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội được thành lập năm 1980.
Trong công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, ngành giáo dục

đang đứng trước nhiều khó khăn thách thức. Những thách thức đó lại càng lớn hơn,
bởi Trường là cơ sở đào tạo nghệ thuật bậc đại học đầu tiên, là một trường trọng điểm
đào tạo nguồn nhân lực chuyên sâu hoạt động trong các lĩnh vực sân khấu, điện ảnh,
nhiếp ảnh, múa, và truyền hình cho cả nước.
Để tạo điều kiện cho sinh viên tự học, tự nghiên cứu, được phép chọn cho
mình một ngành học phù hợp với năng khiếu của bản thân, liên thông, nâng cao trình
độ được thuận lợi thì Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội từ năm 2014 đến
nay đã có cơ chế chuyển đổi từ phương thức đào tạo từ niên chế học phần sang
phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ. Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc chuyển
đổi này còn gặp nhiều khó khăn tíong quản lí hoạt động dạy học như: Giảng viên và
sinh viên chưa thay đổi kịp với phương thức đào tạo mới, đề cương môn học còn bất
cập, cơ sở vật chất - trang thiết bị, kỹ thuật phục vụ cho đào tạo theo học chế tín chỉ
còn chưa đáp ứng yêu cầu.... Vì vậy, cần có nguồn tài chính để đáp ứng đủ cơ sở vật
chất - trang thiết bị, kỹ thuật, điều chỉnh lại đề cương môn học để phù họp với đào
tạo tín chỉ, tạo điều kiện về thời gian để giảng viên, cán bộ, cố vấn học tập nâng cao
nhận thức, kiến thức và thay đổi phương pháp khi bước sang đào tạo tín chỉ để sinh
viên được trang bị đầy đủ kiến thức, vững bước góp phần tích cực vào sự nghiệp giữ
gìn, kế thừa và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

về mặt lí luận

quy theo hệ thống tín chỉ ban hành kèm theo Quyết định sổ 43/2007/QĐ-BGDĐT
ngày 15 tháng 8 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo”
Quyết định số 17/VBHN-BGDĐT ngày 15/5/2014 của Bộ giáo dục và Đào tạo
về ban hành quy chế đào tạo đại học và cao đẳng chính quy theo hệ thống tín chỉ.
Các trường đại học trong cả nước từng bước chuyển sang phương thức đào tạo
theo học chế tín chỉ, điều này đòi hỏi một sự thay đổi lớn về công tác quản lí đào tạo
của Nhà trường mà trong đó quản lí hoạt động dạy học là một nhiệm vụ quan trọng
không thể thiếu trong quá trình đào tạo ở bất kì một trường đại học nào. Quản lí hoạt
động dạy học là quản lí kế hoạch dạy học quy định nội dung, phương pháp, hình thức
tổ chức giảng dạy, thời lượng dạy học từng môn, định hướng, điều khiển, phối hợp
các lực lượng quản lí và giáo dục cũng như sử dụng các nguồn lực khác để đạt được
mục tiêu đào tạo.
Đã có một số công trình nghiên cứu về quản lí hoạt động dạy học trong ĐT
theo HCTC ở giáo dục đại học tuy nhiên nghiên cứu về quản lí hoạt động dạy học


10

trong ĐT theo HCTC ở các Trường thuộc khối nghệ thuật nói chung và Trường Đại
học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội nói riêng thì chưa thấy có. Quản lí hoạt động dạy
học theo HCTC ở các trường khối nghệ thuật có những đặc thù riêng khác so với
quản lí hoạt động dạy học ở các trường khác. Do đó, khi Trường chuyển đổi sang
phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ cũng cần có biện pháp quản lí hoạt động
dạy học phù hợp, góp phần đào tạo sinh viên ra trường đáp ứng được yêu cầu xã hội
và có đóng góp tích cực vào sự phát triển văn hóa nghệ thuật của đất nước.
Xuất phát từ thực tiễn và lí luận đó, tôi lựa chọn đề tài: "Quản lí hoạt động
dạy học ở Trường Đại học Sân khẩu - Điện ảnh Hà Nội trong đào tạo theo học
chế tín chp’ làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu lý luận và thực trạng quản lí hoạt động dạy học trong đào tạo theo


Phạm vi nghiên cứu

về nội dung nghiên cứu


11

Đe tài tập trung nghiên cứu thực trạng quản lí hoạt động dạy học ở Trường
Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội trong đào tạo theo học chế tín chỉ. Riêng với
hoạt động học tập của sinh viên, đề tài nghiên cứu nội dung quản lí hoạt động học
của sinh viên được qui định theo thời khóa biểu.
-

về khách thể điều tra
+ Căn cứ mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả lựa chọn 3 nhóm khách

thể khảo sát như sau:
Nhóm 1: Giảng viên tham gia giảng dạy với số lượng 55 giảng viên Nhóm 2: Sinh viên
năm thứ 2 đang học ở Trường với số lượng 110 sinh viên Nhóm 3: Cán bộ quản lí với số
lượng 19 cán bộ.
Điều fra về tính cần thiết và khả thi của các biện pháp tác giả xin ý kiến của 45 Cán
bộ quản lí và giảng viên.
+ Khảo sát về hoạt động dạy học và quản lí hoạt động dạy học trong đào tạo
theo học chế tín chỉ tác giả xin ý kiến đánh giá với 4 mức độ. Tốt: 4 điểm, khá: 3
điểm, trung bình: 2 điểm, yếu: 1 điểm.
5. Giả thuyết khoa học
Trong giai đoạn chuyển đổi từ phương thức đào tạo theo niên chế sang
phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ, việc quản lí hoạt động dạy học ở Trường
Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội chưa thay đổi kịp với phương thức đào tạo mới,


-

Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: dựa vào một số kế hoạch về quản lí
hoạt động dạy học, kết quả kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của

s V thông qua

bộ phận quản lí điểm để thu thập thêm những thông tin cần thiết liên quan đến vấn
đề nghiên cứu.
-

Phương pháp phỏng vấn: hỏi trực tiếp giảng viên, sinh viên và những người có
liên quan đến hoạt động dạy học theo học chế tín chỉ của Trường Đại học Sân
khấu - Điện ảnh Hà Nội nhằm thu thập, bổ sung, kiểm tra và làm rõ hơn những
thông tin đã thu được từ khảo sát thực tiễn.

-

Phương pháp chuyên gia (hỏi ý kiến chuyên gia, các đồng nghiệp, các nhà quản lí)
tác giả tranh thủ sự góp ý, định hướng của các nhà khoa học, các chuyên gia
nghiên cứu trên các lĩnh vực có liên quan về hướng triển khai đề tài, những
phương pháp nghiên cứu lý luận, khảo sát thực tế và tiến hành khảo sát kết quả
nghiên cứu của đề tài.

-

Phương pháp khảo nghiệm, dùng để kiểm chứng tính cần thiết và khả thi của các
biện pháp đã đề xuất.
6.3.

bộ trưởng đặc trách giáo dục đại học ở các nước trong Liên minh châu Âu đã ký
Tuyên ngôn Boglona nhằm hình thành không gian Giáo dục đại học Châu Âu
(European Higher Education Area) thống nhất vào năm 2010, một trong các nội dung
quan trọng của Tuyên ngôn đó là triển khai áp dụng HCTC (European Credit
Transfer System-ECTS) trong toàn hệ thống giáo dục đại học để tạo thuận lợi cho
việc cơ động hóa, liên thông hoạt động học tập của sv trong khu vực châu Âu và ưên
thế giói. Như vậy, có thể nói từ cuối thế kỉ XIX, hệ thống CTĐT theo HCTC đã được
nghiên cứu cho đến đầu thế kỉ XX thì được phát triển rộng ở châu Âu và một số nước
châu Á.
1.1.2. Ở Việt Nam
Trước năm 1975, một số trường đại học đã áp dụng phương thức đào tạo theo
HCTC như Viện Đại học cần Thơ, Viện Đại học Thủ Đức ....
Năm 1993-1994, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã khuyến khích các trường đại học
như Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Đà Lạt, Đại học Dân
lập Thăng Long, Đại học Xây dựng Hà Nội...........thí điểm đào tạo theo HCTC và
bước đầu đã thu được những kết quả nhất định.


14

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nhận thấy được vai trò và hiệu quả của cách thức
đào tạo này và chỉ thị yêu cầu các trường đại học triển khai đào tạo theo HCTC và
phải hoàn thành vào năm 2010. Đen nay, các trường đại học đã áp dụng phương thức
đào tạo theo hệ thống tín chỉ nhưng vẫn đang gặp nhiều khó khăn, vướng mắc đặc
biệt là các trường thuộc khối nghệ thuật.
Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội đã bắt đầu thực hiện phương
thức đào tạo theo học chế tín chỉ từ năm 2014, đây là một bước đi đã tác động và làm
thay đổi nhiều khâu, nhiều bộ phận trong hoạt động đào tạo của trường. Những thay
đổi đó mặc dù mới chỉ là những bước đầu tiên và mới chỉ dừng lại ở hình thức với
nhiều hạn chế, bất cập, song về cơ bản là đúng hướng.

môi trường bên ngoài nó. Theo đó, quản lí bao gồm 3 chức năng chính là: Quản lí
doanh nghiệp, quản lí giám đốc, quản lí công việc và nhân công” [30].
-

Ở Việt Nam:
+ Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lí là tác động có mục đích, có kế

hoạch của chủ thể quản lí đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể
quản lí) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [24].
+ Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ định nghĩa: “Quản lí là một quá
trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lí có hệ thống là quá trình tác động đến
hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng
cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lí mong muốn” [13]
Từ những khái niệm nói trên, khái niệm quản lí có thể diễn đạt như sau:
“Quản lí là quá trình tiến hành những hoạt động khai thác, lựa chọn, tổ chức và thực
hiện các nguồn lực, các tác động của chủ thể quản lí theo kế hoạch chủ động và phù
hợp với quy luật khách quan để gây ảnh hưởng đến đối tượng quản lí nhằm tạo ra sự
thay đổi hay tạo ra hiệu quả cần thiết vì sự tồn tại (duy trì), ổn định và phát triển của
tổ chức trong một môi trường luôn biến động”.
Quản lí có chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra. Để quản lí
tốt, có rất nhiểu biện pháp quản lí như biện pháp thuyết phục, biện pháp tổ chức hành chính, biện pháp kinh tế, biện pháp tâm lý giáo dục.
1.2.1.2. Quản lí giáo dục
Giống như khái niệm quản lí, khái niệm quản lí giáo dục cũng được biểu đạt
một cách rất đa dạng tùy theo những phương diện nghiên cứu và tiếp cận của nhà
nghiên cứu về quản lí giáo dục. Điều này được thể hiện bởi một số quan niệm về
quản lí giáo dục sau:
Theo tác giả Phạm Minh Hạc:
"Quản lí giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật
của chủ thể quản lí, nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối nguyên lý của
Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa điểm hội tụ là quá

chức các hoạt động của giảng viên và sinh viên, các lực lượng hỗ ữợ giáo dục khác,
đồng thời phát huy hết khả năng của các nguồn lực giáo dục để đạt được chất lượng
cao trong đào tạo của nhà trường.
1.2.2. Hoạt động dạy học

về

phương diện triết học, hoạt động là phương thức tồn tại của con người

trong thế giới, về phương diện tâm lý học, hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại
giữa con người và thế giới (khách thể để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới và cả về
phía con người.
HĐDH theo quan điểm hiện đại là hoạt động được tạo ra bởi sự tương tác trực
tiếp giữa thầy và ữò, giữa những người học với nhau, giữa dạy học với môi trường sư
phạm nói riêng và môi trường xã hội nói chung, là sự thống nhất chặt chẽ giữa hoạt


1
8

động dạy và hoạt động học.
1.2.3. Hoat đông day hoc đai hoc
Dạy học được tồn tại trong lịch sử như là một hiện tượng xã hội đặc biệt, là
quá trình phối hợp giữa người dạy và người học dẫn đến người học có thể làm phong
phú thêm vốn học vấn của mình dưới tác động hướng dẫn, chỉ đạo của người thầy
thông qua quá trình dạy học.
Các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều khái niệm về HĐDH đại học như sau:
-

Theo quan điểm tiếp cận hoạt động thì dạy học ở đại học là quá trình hoạt động

gắn với nghề nghiệp tương lai của

khoa học, lí tưởng, ước mơ, hoài bão nghề nghiệp, đạo đức, tác phong của người cán
bộ khoa học kỹ thuật, người chủ thực sự của đất nước mai sau.


19

Dạy học ở đại học, sv còn phải tập trung nghiên cứu khoa học, khám phá bản
chất các hiện tượng khách quan để tìm ra các qui luật khoa học.
Như vậy có thể nói quá trình dạy học ở đại học, về bản chất là quá trình nhận
thức độc đáo có tính chất nghiên cứu của

sv

được tiến hành dưới vai

ưò tổ chức,

điều khiển của giảng viên nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học ở đại học.
*Bản chất của hoạt động dạy
Trong quá trình dạy học nói chung, ở đại học nói riêng người dạy là chủ thể
của hoạt động dạy, giữ vai trò chủ đạo với chức năng tổ chức, điều khiển, lãnh đạo
hoạt động học của sv đảm bảo cho sv thực hiện đầy đủ và có chất lượng cao những
yêu cầu đã qui định phù họp mục đích dạy học ở đại học. Vai trò chủ đạo của GV
được thể hiện thông qua việc lựa chọn nội dung dạy học, lựa chọn phương pháp, lựa
chọn cách thức tổ chức lớp học trong quá trình đào tạo. Cách thức

sv


Năng lực tự học của


sv chính là nội lực, quyết định sự phát triển bản thân họ

sv vừa là chủ thể, vừa là sản phẩm của quá trình dạy học, tự biến những tri thức

của nhân loại thành tri thức của chính mình bằng con đường tự học và tư duy của bản
thân.
Mục đích của học: là tiếp thu có chọn lọc hệ thống tri thức nhân loại để
chuyển hóa thành trí tuệ, nhân cách của bản thân và ưở thành người có đức và tài.
Nội dung của học: là tìm tòi, thấu hiểu, nắm vững, ghi nhớ và vận dụng kiến


2
0

thức một cách khoa học vào đời sống xã hội.
Phương pháp học: là phương pháp chiếm lĩnh, nhận thức tri thức nhân loại và
biến kho tàng tri thức đó thành học vấn của bản thân và cũng là phương pháp rèn
luyện để hình thành kỹ năng, kỹ xảo.
* Mối quan hệ giữa HDD và HĐH ở trường đại học
Quá trình dạy học là quá trình hoạt động phối hợp giữa người dạy và người
học. Hoạt động tích cực của hai nhân vật này quyết định đến chất lượng giáo dục và
đào tạo trong nhà trường. Hoạt động dạy chỉ đạo hoạt động học và hoạt động học là
cơ sở, là trung tâm cho mọi sự cải tiến của hoạt động dạy. Hoạt động dạy và hoạt
động học có mối quan hệ biện chứng, hai hoạt động này tác động với nhau, thúc đẩy
lẫn nhau để cùng phát triển. Sự tác động biện chứng giữa hoạt động dạy và hoạt động
học dẫn đến sự phát triển không ngừng của quá trình dạy học.
1.2.4. Quản lí hoạt động dạy học

học có những đặc điểm tâm lý, phong tục, tập quán khác nhau, trong quá trình rèn
luyện, học tập, cũng như kết quả đạt được cũng khác nhau. Do đó, nhà trường cần
tăng cường các biện pháp quản lí hoạt động học tập của sinh viên nhằm nâng cao chất
lượng đào tạo, vì học sinh vừa là đối tượng quản lí vừa là chủ của quá trình dạy học.
*Quản lí csvc, trang thiết bị, phương tiện - kỹ thuật phục vụ HĐDH.

csvc là điều kiện tiên quyết cho nhà trường hình thành và đi vào hoạt động,
là diều kiện không thể thiếu được trong việc nâng cao chất lượng đào tạo. Quản lí

csvc, kỹ thuật phục vụ cho HĐDH đảm bảo được các yêu cầu liên quan mật thiết
với nhau đó là: Tổ chức quản lí tốt, đảm bảo đầy đủ và sử dụng có hiệu quả csvc, trang
thiết bị, phương tiện - kỹ thuật phục vụ HĐDH trong nhà trường.
1.2.5. Tín chỉ
Đào tạo theo HCTC là phương thức đào tạo tiên tiến trên thế giới. Trong các
tài liệu nghiên cứu có hơn 60 định nghĩa về tín chỉ. Định nghĩa về tín chỉ được biết
đến nhiều nhất ở Việt Nam là của học giả người Mĩ gốc Trung Quốc James Quann
thuộc Đại học Quốc gia Washington. Theo quan điểm của James Quann thì tín chỉ
học tập là một đại lượng đo toàn bộ thời gian bắt buộc của một người học bình
thường để học một môn học cụ thể, bao gồm: 1. thời gian lên lớp; 2. thời gian ở trong
phòng thí nghiệm, thực tập hoặc các phần việc khác đã được quy định ở thời khoá
biểu; 3. thời gian dành cho đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề, viết hoặc chuẩn
bị bài; đối với các môn học lý thuyết 1 tín chỉ là một giờ học trên lớp (với 2 giờ
chuẩn bị ở nhà) trong 1 tuần và kéo dài trong 1 học kỳ 15 tuần; đối với các môn học ở
studio hay phòng thí nghiệm - ít nhất là 2 giờ trong 1 tuần (với 1 giờ chuẩn bị ở nhà);


2
2

đối với việc tự học, tự nghiên cứu - ít nhất là 3 giờ làm việc trong 1 tuần.

Đào tạo theo HCTC không tổ chức theo năm học mà theo học kỳ. Một năm
học có thể tổ chức đào tạo từ 2 đến 3 học kỳ, mỗi CTĐT của một ngành học nhất
định không tính theo năm mà tính theo sự tích lũy kiến thức, sv tích lũy đủ số tín chỉ
quy định cho một ngành học thì được cấp bằng tốt nghiệp đại học, được ra trường.
1.2.7. Quản lí hoạt động dạy học theo học chế tín chỉ.
Quản lí hoạt động dạy học theo HCTC là hệ thống những tác động của chủ thể
quản lí có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật vào quá trình dạy học (được tiến hành
bởi tập thể giảng viên và sinh viên, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội)
với phương thức đào tạo theo HCTC để sinh viên có quyền lựa chọn và quyết định
mục tiêu đào tạo, tích lũy tri thức theo quy định, quy chế hiện hành nhằm góp phần
hình thành và phát triển toàn diện sinh viên đáp ứng mục tiêu đào tạo của Nhà
trường.


2
3

1.3. Những đăc trung của hoat đông day hoc trong đào tao theo HCTC
1.3.1. Đặc điểm của học chế tín chỉ
-

Kiến thức được cấu trúc thành các mô - đun (học phần).

-

Quá trình học tập là sự tích luỹ kiến thức của người học theo từng học

phần.
-



tập.
-

Không có thi tốt nghiệp, không tổ chức bảo vệ khoá luận tốt nghiệp đối với các
chương trình cao đẳng hoặc đại học.

-

Ổn định và công khai hoá CTĐT cho mỗi khoá học.

-

Phương thức quản lí

sv

sẽ thay

đổi

(theo hệ thống CVHT, theo số chứng chỉ

đã tích luỹ).
-

Thu học phí tỷ lệ với khối lượng các học phần đăng ký học.
HCTC sở dĩ được truyền bá nhanh và áp dụng rộng rãi ở các trường đại học

trên thế giới do có nhiều ưu điểm vượt trội hơn so với hệ thống đào tạo theo niên chế

khác nhau nhưng đều có chung một mục tiêu là đào tạo ra nguồn nhân lực có trình độ
cao, đáp ứng được sự phát triển các ngành nghề của xã hội trong từng giai đoạn lịch
sử nhất định.
Mỗi cách tổ chức đào tạo đều có những ưu điểm, những khó khăn riêng và đều
đạt những thành quả rất to lớn.
Khái niệm đào tạo theo niên chế
Đào tạo theo niên chế là đào tạo theo năm học, mỗi CTĐT của một ngành học
được quy định đào tạo trong một số năm nhất định. Ví dụ CTĐT trình độ đại học
được cấp bằng cử nhân thường đào tạo trong 4 năm, cấp bằng kỹ sư được đào tạo
trong 5 năm, cấp bằng bác sỹ được đào tạo trong 6 năm.

sv

học hết thời gian quy

đinh nếu không bị lưu ban, dừng tiến độ học tập thì được cấp bằng tốt nghiệp đại học,
được ra trường.
Tổ chức đào tạo theo niên chế
Trong đào tạo theo niên chế lịch học, lịch thi được phòng Đào tạo chuẩn bị
sẵn. Các lớp sv được biên chế cố định ngay từ ngày nhập trường và ít khi có sự biến
động,

sv chấp hành tốt các lịch học, lịch thi, các quy định, quy chế của nhà trường,

tích cực học tập và rèn luyện thì sẽ đạt kết quả tốt. Tổ chức đào tạo theo niên chế
tương đối thuận lợi, kế hoạch đào tạo, lịch giảng, lịch thi có thể làm ngay từ đầu năm
học và ít khi có sự biến động. Thời gian học tập của

sv phải theo quy định và có thể



sv có thể rút ngắn hoặc kéo dài theo quy định của từng

Trường.
Chương trình đào tạo theo niên chế
CTĐT theo niên chế có khối kiến thức giáo dục đại cương và khối kiến thức
giáo dục chuyên nghiệp, các khối kiến thức này được bố trí theo một tỷ lệ nhất định.
Khi xây dựng chương trình của các ngành người ta chỉ chú ý đến liên thông dọc và
các bậc học tiếp theo (các bậc học cao hơn), còn ít chú ý đến liên thông ngang giữa
các ngành trong cùng một trình độ đào tạo. Vì vậy CTĐT của các ngành khác nhau
tíong cùng lĩnh vực ít nhiều mang tính độc lập, không tận dụng được hiệu quả đào
tạo. Trong đào tạo theo niên chế những người phấn đấu học được 2 bằng, 3 bằng đại
học là rất khó, mà điều này rất quan trọng vì các lĩnh vực kiến thức sẽ bổ trợ cho
nhau trong quá trình công tác sau này.
Chương trình đào tạo theo HCTC
Một trong những điểm mấu chốt, quan trọng nhất trong xây dựng CTĐT theo
HCTC là các CTĐT có tính liên thông cao. Một chương trình giáo dục đại học bao
giờ cũng có khối kiến thức đại cương (Toán, hóa, sinh...) và các môn chung như Mác
- Lênin, ngoại ngữ, tin học... Các môn học này được xây dựng trên một nền chung
đáp ứng cho tất cả các ngành đào tạo trong một lĩnh vực đào tạo nhất định. Việc tổ
chức xây dựng chương trình có tính liên thông ngang cao như vậy sẽ đào tạo cho
một tiềm năng lớn và

sv

sv có khả năng học liên thông các ngành tíong cùng một lĩnh

vực.
Khi đã xây dựng được chương trình có tính liên thông cao, liên thông ngang
giữa các ngành trong cùng một khối và liên thông dọc từ cao đẳng lên đại học thì


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status