Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
NGUYỄN THỊ
THU HẢO
TRƯỜNG
ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC
QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC sĩ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI, NĂM 2016
NGUYỄN THỊ THU HẢO
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO
ĐỨC
CHO HOC SINH CÁC TRƯỜNG TIÊU HOC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục Mã số :
60140114
LUÂN VĂN THAC sĩ KHOA HOC GIÁO DUC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Phó Đức Hòa
LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô Ban Giám hiệu trường Đại học sư
Nguyễn Thị Thu Hảo
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Chữ viết đầy đủ
CBGV
Cán bộ giáo viên
CBQL
CMHS
Cán bộ quản lý
Cha mẹ học sinh
CNH-HĐH
Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
CNXH
Chủ nghĩa xã hội
ĐĐ
KT-XH
TDTT
Kinh tế - xã hội Thể dục thể thao
TH
Tiểu học
THPT
Trung học phổ thông
MỤC LỤC
Trang
1.4.1...........................................................................................................................................
1.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG, sơ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Bảng 2.16. Nhận xét của cán bộ quản lý về mức độ ảnh hưởng của các nguyên nhân đến
8
không nhỏ đến tàng lớp thiếu niên. Nhà trường noi bồi dưỡng đạo đức, lý tưởng nhân
cách, hoài bão ước mơ, trí tuệ ... của học sinh nhưng cũng không tránh khỏi sự xâm
nhập tấn công của các tệ nạn xã hội và các hiện tượng tiêu cực, nhất là hiện nay việc
sử dụng facbook tràn lan, các em dễ bị lôi cuốn vào các hoạt động có hại và nguy
hiểm cho bản thân và xã hội. Hơn bao giờ hết chúng ta những người làm công tác giáo
dục đều nhận thức rằng: Nhà trường đóng vai ừò quan ừọng trong việc giáo dục đạo
đức cho học sinh. Những người làm công tác quản lý nói chung và chỉ đạo công tác
giáo dục đạo đức trong nhà trường nói riêng phải nhận thức rõ trách nhiệm tạo nên
những tác động giúp học sinh hình thành nhân cách để tạo ra lớp người mói là chủ đất
nước.
1.2. Hà Nội là thủ đô là trung tâm kinh tế, chính trị văn hóa của cả nước, bên
cạnh những mặt tích cực về một nền kinh tế năng động, môi trường văn hóa văn minh,
xã hội phát triển tạo thuận lợi cho việc học tập sinh hoạt của học sinh, thì những tác
động tiêu cực của nền kinh tế thị trường, những ảnh hưởng của phim ảnh bạo lực, của
tệ nạn xã hội, mạng xã hội ít nhiều đang tấn công vào gia đình và trường học của các
học sinh. Nó làm cho một số học sinh chưa nhận thức được đúng hướng đi của mình,
dễ làm lệch lạc nhân cách của các em. Là một quận nội thành của Hà Nội, nơi tập
trung nhiều đàu mối kinh tế, văn hóa, giao thông của Thủ đô, quận Hai Bà Trưng cũng
chịu nhiều ảnh hưởng của sự sa sút về đạo đức của giói trẻ. Trách nhiệm đầy lùi sự
suy thoái về đạo đức đó đầu tiên phải thuộc về những người làm công tác giáo dục.
Muốn làm được điều đó đòi hỏi người cán bộ quản lý giáo dục phải đánh giá đứng
thực trạng việc quản lý hoạt động giáo dục đạo đức, tìm ra biện pháp tháo gỡ, khắc
phục để nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức tại môi trường mình quản lý.
Hiện nay, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về giáo dục đạo đức và
quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh; Tuy nhiên việc nghiên cứu cụ thể về
thực hạng và các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh nói
chung và cho học sinh tiểu học quận Hai Bà Trưng - thành phố Hà Nội nói riêng đến
5.1.
Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho
học sinh tại các trường tiểu học.
5.2.
Khảo sát, đánh giá thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh các trường
tiểu học và thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh
1
trên địa bàn quận Hai Bà Trưng thảnh phố Hà Nội.
5.3.
Đẻ xuất biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh
các trường tiểu học tại quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội.
6.
Giới hạn phạm vỉ nghiền cứu
6.1. Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho
học sinh các trường tiểu học ừên địa bàn quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội của
7.2.1.
Phương pháp điều tra bằng phiếu khảo sát
Phương pháp điều tra bằng phiếu khảo sát là một phương pháp rất hiệu quả
nhằm nắm rõ những nhìn nhận về công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức của
phòng Giáo dục & Đào tạo, Ban Giám hiệu, Tổng phụ trách Đội, một số giáo viên và
đại diện CMHS các trường tiểu học trên địa bàn quận Hai Bà Trưng - thành phố Hà
Nội, để từ đó có những điều chỉnh sát thực, kịp thời trong luận văn.
7.2.2.
Phương pháp phỏng vấn
Phương pháp này được sử dụng để thu thập thêm thông tin về thực trạng công
tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh của Lãnh đạo, chuyên viên phòng
GD&ĐT quận, Hiệu trưởng các trường tiểu học quận Hai Bà Trưng - thành phố Hà
Nội.
7.2.3.
Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Bằng phương pháp xin ý kiến chuyên gia, trao đổi, thu nhập các số liệu thực
tiễn; các phương pháp này được sử dụng với mục đích đánh giá thực trạng đạo đức và
thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của Hiệu trưởng các
trường tiểu học quận Hai Bà Trưng - thành phố Hà Nội; đồng thời xem xét mức độ
cần thiết và khả thi của các biện pháp mà tác giả sẽ đề xuất trong luận văn.
7.3.
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các
trường tiểu học quận Hai Bà Trưng - thành phố Hà Nội.
Chương 3 ĩ Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các
trường tiểu học quận Hai Bà Trưng - thành phố Hà Nội.
Chương 1
Cơ SỞ LÝ LUẬN VÈ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài
Đạo đức là một hiện tượng xã hội - một hình thái ý thức đặc biệt, giáo dục đạo
đức cho các thế hệ con người luôn là mối quan tâm của cả xã hội và đặc biệt các nhà
giáo dục, từ xã hội cổ đại tới xã hội hiện đại ngày nay.
Ở phưomg Đông thời cổ đại, Khổng Tử (551 - 479 TCN) nhà tư tưởng, nhà
chính trị, nhà giáo dục nổi tiếng, đã đặc biệt quan tâm tới vấn đề đạo đức và giáo dục
đạo đức cho con người. Tư tưởng về đạo đức, giáo dục đạo đức của ông thể hiện rõ
ừong các tác phẩm: “Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc Xuân Thu”. Ông xây dựng học thuyết
“Nhân- Lễ- Chính danh”, trong đó, “Nhân”- Lòng thương người - là yếu tố hạt nhân,
là yếu tố cơ bản nhất của con người. Đứng trên lập trường coi trọng giáo dục đạo đức,
Ông có câu nổi tiếng truyền lại đến ngày nay “Tiên học lễ, hậu học văn”.[2].[3].
1
Ở phương Tây thời cổ đại, nhà triết gia Hy Lạp Socrates (469-399 TCN) cho
rằng cái gốc của đạo đức là tính thiện. Bản tính con người vốn thiện, nếu tính thiện ấy
được lan tỏa thì con người sẽ có hạnh phúc. Muốn xác định được chuẩn mực đạo đức,
theo Socrate, phải bằng nhận thức lý tính với phương pháp nhận thức khoa học.
Aritstốt (384-322 TCN) là một nhà triết học, bác học Hy Lạp cổ đại cũng
khẳng định rằng, phải giáo dục con người ta về đạo đức, phát triển ý chí, giảng dạy
loài người, nó là một hình thái ý thức xã hội. Nó được phát triển song hành cùng với
xã hội đồng thời nó giúp xã hội loài người tiến cao hơn. Chính vì vậy đã có nhiều
công trình nghiên cứu về giáo dục đạo đức của nhiều tác giả trong và ngoài nước từ
nhiều góc độ khác nhau.
Tác giả Hà Thế Ngữ [34] đã nghiên cứu về vấn đề tổ chức quá trình giáo dục
đạo đức thông qua giảng dạy các môn khoa học đặc biệt là các môn khoa học xã hội
và nhân văn, giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan, bồi dưỡng ý thức đạo đức cách
mạng, hướng dẫn các hành vi đạo đức cho học sinh;
Nhà Tâm lý học Phạm Minh Hạc [20] đã nghiên cứu đạo đức trong cấu trúc
nhân cách, thực hiện giáo dục trong phát triển nhân cách. Công trình nghiên cứu của
ông và các cộng sự về phát ữiển toàn diện con người Việt Nam trong thời kỳ công
nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH - HĐH) đã dành một chương cho vấn đề đạo đức,
giáo dục đạo đức, các giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức trong giai đoạn
hiện nay nhằm tìm ra các giải pháp về giáo dục đạo đức các tác giả đã tìm những cách
tiếp cận khác nhau tạo nên sự phong phú về nội dung và phương pháp nghiên cứu giáo
dục đạo đức trong các công ừình nghiên cứu của mình;
Cố tác giả Hà Nhật Thăng [40] đã đề cập đến những vấn đề chung như phương
pháp luận của giáo dục đạo đức, xây dựng các chuẩn mực đạo đức của con người Việt
Nam ừong thời kỳ CNH - HĐH, các giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức
trong giai đoạn hiện nay.
Nhìn chung các tác giả đã nghiên cứu mối quan hệ giữa nhận thức khoa học
với giáo dục đạo đức, những biểu hiện nhân cách trong lối sống và đưa ra dự báo mô
1
hình nhân cách thanh niên. Đặc biệt những năm gàn đây nhiều nhà nghiên cứu, nhà
hoạt động xã hội đã hết sức nhức nhối trước những hiện tượng suy thoái đạo đức của
một số thanh niên đã có những bài viết đáng quan tâm.
Một số tác giả khác đã nghiên cứu về giáo dục đạo đức và các thành quả
và hiệu quả hoạt động của GVCN; xây dựng phong trào tự học tự tu dưỡng trong học
sinh sinh viên.
Trong công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội của nước nhà, do nhận thức được
tầm quan ừọng đặc biệt của nhân tố con người cho nên đã có nhiều nghiên cứu đi sâu
vào nghiên cứu giáo dục đạo đức, đặc biệt là giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông
thể hiện tại những luận văn thạc sĩ liên quan đến vấn đề giáo dục đạo đức, quản lý vấn
đề giáo dục đạo đức ở tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông. Ngoài ra, còn có
nhiều đề tài khác đi sâu và nghiên cứu giáo dục đạo đức và quản lý hoạt động giáo dục
đạo đức cho học sinh, sinh viên ở các trường , trường Đại học, Cao đẳng, Trung
cấp,...Nhưng đề tài nghiên cứu về vấn đề này tại quận Hai Bà Trưng còn rất ít. Nhất là
trong giai đoạn hiện nay khi việc nghiên cứu các biện pháp quản lý nhằm nâng cao
chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học vẫn còn bỏ ngỏ. Vì vậy nghiên cứu
cơ sở lý luận về giáo dục đạo đức và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh
trong các trường tiểu học; Tìm hiểu thực trạng quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh
tại các trường tiểu học trên địa bàn quận Hai Bà Trưng từ đó tìm ra những biện pháp
quản lý phù hợp, có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học
sinh các trường tiểu học trên địa bàn quận Hai Bà Trưng là rất cần thiết.
1.2. Một số khái niệm cơ bản về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức
1.2.1.
Quản lý
1.2.1.1.
Khái niệm quản lý
Thuật ngữ “quản lý” (Tiếng Việt gốc Hán) bao gồm hai quá trình tích hợp vào
nhau. Quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái “ổn định”. Quá
trình “lý” bao gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới, đưa hệ thống vào thế “phát triển”.
lý thừa nhận đó là toàn bộ các hoạt động huy động, tổ chức, thực thi các nguồn lực vật
chất và tinh thần, sử dụng chúng nhằm tác động và gây ảnh hưởng tích cực đến những
1
người khác để đạt được những mục tiêu của tổ chức hay cộng đồng.
Trong luận văn này tác giả sử dụng khái niệm:“Quản lý là một quá trình tác
động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên khách thể và các đối tượng quản
lý nhằm sử dụng hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục
tiêu đặt ra ừong điều kiện biến động của môi trường”.
1.2.1.2.
Bản chất quản lỷ
Bản chất quản lý đó chính là các hoạt động của chủ thể quản lý tác động lên
các đối tượng quản lý để đạt được mục tiêu đã xác định.
1.2.1.3.
Chức năng quản lỷ
Quản lý gồm 4 chức năng cơ bản: Dự báo và lập kế hoạch; tổ chức thực hiện
kế hoạch; lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện kế hoạch; kiểm tra, đánh giá.
Sơ đồ 1.1. Các chức năng quản lý
Lập kế hoạch là quá trình xác định mục tiêu và quy định những biện pháp tốt
nhất để thực hiện mục tiêu đó.
Tổ chức là sắp xếp, sắp đặt một cách khoa học những yếu tố, những con người,
những hoạt động thành một hệ thống toàn vẹn nhằm đảm bảo cho
chúng tác động với nhau một cách hợp lý.
chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong
quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân,
bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội” [18. tr 8]
Đạo đức là một hình thái ý thức XH, là một mặt của đời sống XH con người và
2
là một hình thái chuyên biệt của quan hệ XH, thực hiện chức năng XH, quan trọng là
điều chỉnh hành vi con người trong mọi lĩnh vực của đời sống XH.
Theo quan điểm học thuyết Mác - Lê Nin: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã
hội có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng xã hội. Đạo đức là một
hình thái ý thức xã hội phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội. Vì vậy tồn tại
xã hội thay đổi thì ý thức xã hội (đạo đức) cũng thay đổi theo. Và như vậy đạo đức xã
hội luôn mang tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc”.
Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: Đạo đức theo nghĩa hẹp là luân lý, những
quy định và chuẩn mực ứng xử ừong quan hệ của con người. Nhưng bên trong điều
kiện hiện nay, chính quan hệ của con người cũng đã mở rộng và đạo đức bao gồm
những quy định, những chuẩn mực ứng xử của con người với con người, với công
việc và với bản thân, kể cả với thiên nhiên và môi trường sống.
Theo nghĩa rộng, khái niệm đạo đức liên quan chặt chẽ với phạm trù chính ữị,
pháp luật đời sống. Đạo đức là thành phần cơ bản của nhân cách, phản ánh bộ mặt
nhân cách của một cá nhân đã được xã hội hoá. Đạo đức được biểu hiện ở cuộc sống
tinh thần lành mạnh trong sáng, ở hành động giải quyết họp lý, có hiệu quả những
mâu thuẫn.
Theo Từ điển Tiếng Việt (Nxb Khoa học XH) thì: “Đạo đức là những tiêu
chuẩn, những nguyên tắc quy định hành vi quan hệ của con người đối với nhau và đối
với xã hội. Đạo đức là những phẩm chất tốt đẹp của con người theo những tiêu chuẩn
đạo đức của một giai cấp nhất định” [42.tr 211]
Theo tác giả Phạm Khắc Chương: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là
để cá nhân điều chỉnh hành vi, thực hiện ĐĐ.
Chức năng giáo dục: Trên cơ sở nhận thức ĐĐ, chức năng giáo dục giúp con
người hình thành những phẩm chất nhân cách, hình thành hệ thống định hướng giá trị
và các chuẩn mực ĐĐ, điều chỉnh ý thức hành vi ĐĐ. Hiệu quả giáo dục ĐĐ phụ
thuộc vào điều kiện KT- XH, cách thức tổ chức, giáo dục mức độ tự giác của chủ thể
và đối tượng giáo dục ừong quá trình giáo dục.
2
Chức năng điều chỉnh hành vi đạo đức: Sự điều chỉnh hành vi ĐĐ làm cho cá
nhân và xã hội cùng tồn tại và phát triển, đảm bảo quan hệ lợi ích cá nhân và cộng
đồng. Chức năng này thể hiện bằng hai hình thức chủ yếu. Trước hết là bản thân chủ
thể ĐĐ phải tự giác điều chỉnh hành vi của mình trên cơ sở những chuẩn mực ĐĐ xã
hội. Thứ hai là tập thể cần tạo ra dư luận để khen ngợi, khuyến khích, đánh giá hoặc
phê phán những biểu hiện cụ thể của hành vi ĐĐ trên cơ sở những chuẩn mực giá trị
ĐĐ. Đây là chức năng xã hội cơ bản, hết sức quan họng của ĐĐ: “Mục đích điều
chỉnh của đạo đức nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển xã hội bằng việc tạo nên sự
hài hoà quan hệ lợi ích cộng đồng và cá nhân (và khi cần phải ưu tiên lợi ích cộng
đồng)” [18. tr 41]
về bản chất, đạo đức là những quy tắc, những chuẩn mực xã hội, nó được hình
thành, tồn tại và phát triển trong cuộc sống, được xã hội thừa nhận và tự giác thực
hiện. Đạo đức chính là văn hóa trong cuộc sống, là biểu hiện của trình độ nhận thức
của cá nhân và trình độ dân trí xã hội.
Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường và sự hội nhập quốc tế, khái niệm đạo
đức cũng có thay đổi theo tư duy và nhận thức mới. Tuy nhiên, không có nghĩa là các
giá trị đạo đức cũ hoàn toàn mất đi, thay vào đó là các giá trị đạo đức mới. Theo quan
điểm của Đảng và Nhà nước ta, các giá trị đạo đức hiện nay là sự kết hợp sâu sắc
truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc với xu hướng tiến bộ của thời đại, của nhân
loại. Đó là tinh thần càn cù lao động, sáng tạo, tình yêu quê hương đất nước gắn liền
Bản chất giáo dục đạo đức là chuỗi tác động có định hướng của chủ thể giáo
dục và yếu tố tự giáo dục của học sinh, giúp học sinh nhận thức đúng, tạo lập tình cảm
và thái độ đúng, hình thành những thói quen hành vi văn minh trong cuộc sống, phù
họp với chuẩn mực xã hội. Trong cuộc sống, trong hoạt động, thông qua giao lưu nhân
cách con người mới được hình thành và phát triển.
Ngày nay, giáo dục đạo đức cho học sinh là giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa.
Nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, đạo đức, pháp luật, làm cho học sinh có tinh
thần yêu nước, thấm nhuần lý tưởng xã hội chủ nghĩa, thật sự say mê học tập, có ý
thức tổ chức kỷ luật, kính thày, yêu bạn, có nếp sống lành mạnh, biết tôn trọng pháp
luật.
1.2.3. Hoạt động giáo dục đạo đức
Hoạt động giáo dục đạo đức là hình thành cho con người những quan điểm cơ
2
bản nhất, những nguyên tắc chuẩn mực đạo đức cơ bản của xã hội. Nhờ đó, con người
có khả năng lựa chọn, đánh giá đúng đắn các hiện tượng đạo đức xã hội cũng như tự
đánh giá suy nghĩ về hành vi của bản thân mình. VI thế, công tác giáo dục đạo đức
góp phần vào việc hình thành phát triển nhân các phù hợp với từng giai đoạn phát
triển. “Giáo dục đạo đức là quá trình tác động đến người học để hình thành cho họ ý
thức, tình cảm và niềm tin đạo đức, đích cuối cùng quan trọng nhất là lập được những
thói quen hành vi đạo đức”.
Quá trình giáo dục đạo đức là một hoạt động có tổ chức, có mục đích, có kế
hoạch nhằm biến những chuẩn mực đạo đức, từ những đòi hỏi bên ngoài của xã hội
với cá nhân thành những đòi hỏi bên ừong của cá nhân, thành niềm tin, nhu cầu, thói
quen của người được giáo dục.
Giáo dục đạo đức có mối quan hệ chặt chẽ với giáo dục tư tưởng chính trị. Từ đó là cơ
sở hình thành thế giới quan Mác- Lênin và định
hướng chính trị theo quan điểm và đường lối của Đảng cộng sản, cho ý thức và hành