Chiến lược phát triển kinh doanh dịch vụ logistics của công ty cổ phần vận tải và thuê tàu vietfracht trong quá trình hội nhập - Pdf 39

TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
-----------***-----------

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
CHIẾN LƢỢC PHÁT TRIỂN KINH DOANH DỊCH VỤ
LOGISTICS CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN VẬN TẢI VÀ THUÊ
TÀU VIETFRACHT TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP

Họ và tên sinh viên

: Đỗ Thị Ngọc Trang

Lớp

: Anh 4

Khoá

: K43A – KT&KDQT

Giáo viên hƣớng dẫn : TS. Trần Sĩ Lâm

Hà Nội – 2008


Khoá luận tốt nghiệp
2008


4.2. Yếu tố marketing ..................................................................................... 10
4.3 Yếu tố phân phối ...................................................................................... 10
4.4. Yếu tố quản trị ......................................................................................... 11
II. TNG QUAN V DCH V LOGISTICS...................................................... 12
1. Khái niệm dịch vụ logistics ........................................................................... 12
2. Phân loại dịch vụ logistics ............................................................................ 14
3. Vai trò của dịch vụ logistics ......................................................................... 15
4. Dịch vụ logistics là sự phát triển tất yếu của dịch vụ vận tải giao nhận .... 18
III. TNG QUAN V NH CUNG CP DCH V LOGISTICS BấN TH BA
- 3PL ...................................................................................................................... 20
1. Khái niệm nhà cung cấp dịch vụ logistics ................................................... 20
2. Nhà cung cấp dịch vụ logistics bên thứ 3 - 3PL .......................................... 22
2.1. Khái niệm về nhà cung cấp dịch vụ logistics bên thứ 3 - 3PL ................ 22


Khoỏ lun tt nghip
2008

Trng i hc Ngoi Thng

2.2. Phân loại các nhà 3PL ............................................................................ 24
3. Vai trò của nhà cung cấp dịch vụ logistics bên thứ 3 -3PL ........................ 26
CHƯƠNG II : TèNH HèNH KINH DOANH DCH V LOGISTICS CA
CễNG TY VIETFRACHT..................................................................................... 28
I. TNG QUAN V TH TRNG DCH V LOGISTICS VIT NAM ........ 28
1. Cầu dịch vụ logistics trên thị tr-ờng Việt Nam ........................................... 28
2. Cung dịch vụ logistics trên thị tr-ờng Việt Nam ......................................... 30
II. GII THIU V CễNG TY CP VN TI V THUấ TU VIETFRACHT 33
1. Tổng quan chung về Vietfracht.................................................................... 33
1.1. Quá trình hình thành và phát triển ......................................................... 33

2.1. Môi tr-ờng vĩ mô ..................................................................................... 78
2.2. Môi tr-ờng vi mô ..................................................................................... 82
3. Xác định các yếu tố về điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức, xây
dựng ma trận SWOT của Vietfracht trong việc kinh doanh dịch vụ logistics
...84
4. Chiến l-ợc phát triển kinh doanh dịch vụ logistics cho Vietfracht đến năm
2020 ................................................................................................................... 87
III. CC BIN PHP THC HIN ................................................................... 89
1. Đầu t- nâng cấp, xây dựng mới cơ sở hạ tầng. ........................................... 89
2. Đào tạo nguồn nhân lực chuyên nghiệp, thu hút nhân tài ........................ 90
3. Tăng c-ờng hoạt động marketing ................................................................ 92
4. ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động logistics ........................... 95
5. Liên kết chiến l-ợc với các doanh nghiệp trong n-ớc và n-ớc ngoài ........ 97
6. Giải pháp huy động vốn................................................................................ 98
KếT LUậN .............................................................................................................. 99
Tài liệu tham khảo......................................................................................94


Trường Đại học Ngoại Thương

Khoá luận tốt nghiệp
2008

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế toàn cầu hoá đi liền với việc mở cửa, hội nhập kinh tế
quốc tế, để có thể tồn tại, cạnh tranh trên thị trường thế giới, trên bình diện vĩ
mô đòi hỏi mỗi quốc gia cần phải đưa ra được chiến lược phát triển tổng thể
hay cho một ngành, một lĩnh vực cụ thể. Trên bình diện vi mô, việc xây dựng
các chiến lược kinh doanh cũng là một điều hết sức cần thiết và quan trọng

Khoá luận tốt nghiệp
2008
2. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: Xây dựng chiến lược phát triển kinh
doanh dịch vụ logistics và đưa ra một số biện pháp để thực hiện chiến lược
phù hợp và hiệu quả cho Vietfracht.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
 Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là thực trạng kinh doanh dịch
vụ logistics và chiến lược kinh doanh dịch vụ logistics tại Vietfracht.
 Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn ở việc phân tích tình hình
kinh doanh dịch vụ logistics tại Vietfracht những năm gần đây, sau đó xây
dựng chiến lược phát triển kinh doanh dịch vụ logistics và đưa ra các biện
pháp để thực hiện chiến lược đó cho Vietfracht chủ yếu trên thị trường Việt
Nam.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp phân
tích, tổng hợp so sánh, diễn giải, thống kê, phỏng vấn chuyên gia,... để nghiên
cứu nhằm đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài.
5. Kết cấu của khoá luận
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của Khoá luận được chia thành 3 chương như sau:
Chương I: Tổng quan về dịch vụ logistics và nhà cung cấp dịch vụ
logistics bên thứ ba.
Chương II: Tình hình kinh doanh dịch vụ logistics của công ty
Vietfracht.
Chương III: Chiến lược phát triển kinh doanh dịch vụ logistics của công
ty CP vận tải và thuê tàu Vietfracht trong quá trình hội nhập.
Sau đây là toàn bộ nội dung khoá luận tốt nghiệp của em.
Đỗ Thị Ngọc Trang

Theo Hội đồng quản lý Logistics (The Council of Logistics
Management CLM in the USA), Logistics được định nghĩa là “quá trình lên
kế hoạch, thực hiện và kiểm soát hiệu quả và tiết kiệm chi phí của dòng lưu
chuyển và việc lưu trữ nguyên liệu thô, hàng trong kho đang sử dụng, hàng

Đỗ Thị Ngọc Trang
KT&KDQT

3

Anh 4 – K43A -


Khoá luận tốt nghiệp
Trường Đại học Ngoại Thương
2008
thành phẩm và các thông tin liên quan từ nơi xuất xứ cho tới nơi tiêu thụ
nhằm mục đích thoả mãn yêu cầu của người tiêu dùng".
Trong cuốn “An Intergrated Approach to Logistics Management” của
Viện kĩ thuật công nghệ Florida - Mỹ, thì Logistics là việc quản lý sự vận
động và lưu trữ của nguyên vật liệu vào trong doanh nghiệp, của hàng hoá
trong lúc sản xuất tại doanh nghiệp và hàng thành phẩm đi ra khỏi doanh
nghiệp.
Dưới góc độ quản trị chuỗi cung ứng, thì Logistics là quá trình tối ưu
hoá về vị trí, lưu trữ và chu chuyển các tài nguyên/yếu tố đầu vào từ điểm xuất
phát đầu tiên là nhà cung cấp, qua nhà sản xuất, người bán buôn, bán lẻ, đến
tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế
(theo Logistics and Supply Chain Management, tác giả Ma Shuo, tài liệu
giảng dạy của World Maritime University, 1999).
Theo quan điểm “5 right” thì : Logistics là quá trình cung cấp đúng sản

 Logistics bên thứ nhất (1PL - Frist Party Logistics): người chủ sở
hữu hàng hóa tự mình tổ chức và thực hiện các hoạt động logistics để đáp ứng
nhu cầu của bản thân.
 Logistics bên thứ hai (2PL - Second Party Logistics): người cung
cấp dịch vụ logistics bên thứ hai là người cung cấp dịch vụ cho một hoạt động
đơn lẻ của logistics (vận tải, kho bãi, thanh toán,.. ) để đáp ứng nhu cầu của
chủ hàng, chưa có tích hợp hoạt động logistics.
 Logistics bên thứ ba (3PL - Third Party Logistics): là người thay mặt
cho chủ hàng quản lý và thực hiện các dịch vụ logistics, do đó 3PL tích hợp
các dịch vụ khác nhau, kết hợp chặt chẽ việc luân chuyển, tồn trữ hàng hóa,
xử lý thông tin, trong dây chuyền cung ứng.
 Logistics bên thứ tư (4PL - Fourth Party Logistics): là người tích
hợp (Integrator), chịu trách nhiệm quản lý dòng lưu chuyển logistics, cung cấp
giải pháp dây chuyền cung ứng, hoạch định, tư vấn logistics, quản trị vận tải,
4PL hướng đến quản trị cả quá trình logistics, như nhận hàng từ nơi sản xuất,
làm thủ tục xuất, nhập khẩu, đưa hàng đến nơi tiêu thụ cuối cùng.
 Logistics bên thứ năm (5PL - Fifth Party Logistics): 5PL phát triển
nhằm phục vụ cho thương mại điện tử, các nhà cung cấp dịch vụ 5PL là các

Đỗ Thị Ngọc Trang
KT&KDQT

5

Anh 4 – K43A -


Khoá luận tốt nghiệp
Trường Đại học Ngoại Thương
2008

6

Anh 4 – K43A -


Khoá luận tốt nghiệp
Trường Đại học Ngoại Thương
2008
hàng hóa. Mỗi hoạt động trong chuỗi đều có một vị trí và chiếm một khoản
chi phí nhất định. Các nghiên cứu gần đây cho thấy, chỉ riêng họat động
logistics đã chiếm từ 10 đến 15% GDP của hầu hết các nước Châu Âu, Bắc
Mỹ và Châu Á Thái Bình Dương. Vì vậy nếu nâng cao hiệu quả hoạt động
logistics thì sẽ góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội.
Logistics hỗ trợ cho luồng chu chuyển các giao dịch kinh tế. Nền kinh
tế chỉ có thể phát triển nhịp nhàng, đồng bộ một khi dây chuyền logistics hoạt
động liên tục, nhịp nhàng.
Hàng loạt các hoạt động kinh tế liên quan diễn ra trong chuỗi logistics,
theo đó các nguồn tài nguyên được biến đổi thành sản phẩm và điều quan
trọng là giá trị được tăng lên cho cả khách hàng lẫn người sản xuất, giúp cho
thỏa mãn nhu cầu của mỗi người.
Hiệu quả hoạt động logistics tác động trực tiếp đến khả năng hội nhập
của nền kinh tế. Thị trường các doanh nghiệp hướng tới không còn nằm trong
phạm vi biên giới các quốc gia mà đã lan rộng ra khắp toàn cầu. Vì thế,
logistics càng đóng vai trò quan trọng hơn trong việc thúc đẩy hoạt động kinh
doanh xuất nhập khẩu dịch vụ.
Hoạt động logistics hiệu quả làm tăng tính cạnh tranh của một quốc gia
trên trường quốc tế. Theo nghiên cứu của Limao và Venables (2001) cho thấy
sự khác biệt trong kết cấu cơ sở hạ tầng chiếm 40% trong sự chênh lệch chi
phí đối với các nước tiếp giáp biển và 60% đối với các nước không tiếp giáp
biển. Hơn nữa, trình độ phát triển và chi phí logistics của một quốc gia còn

trong việc chọn nguồn cung cấp nguyên liệu, công nghệ sản xuất, thiết kế mẫu
mã, chủ động trong việc lên kế hoạch sản xuất, quản lý hàng tồn kho và giao
hàng theo đúng thời gian với tổng chi phí thấp nhất.
Logistics còn góp phần giảm chi phí thông qua việc tiêu chuẩn hóa
chứng từ. Thông qua dịch vụ logistics, các công ty logistics sẽ đứng ra đảm
nhiệm việc kí hợp đồng duy nhất sử dụng chung cho mọi loại hình vận tải để
đưa hàng từ nơi gửi hàng đến nơi nhận hàng cuối cùng.
Sự phát triển của công nghệ thông tin đã làm gia tăng sự hài lòng và giá
trị cung cấp cho khách hàng của dịch vụ logistics. Đứng ở góc độ này,
logistics được xem là công cụ hiệu quả để đạt được lợi thế cạnh tranh lâu dài
về sự khác biệt hóa và tập trung.
Ngoài ra logistics còn hỗ trợ đắc lực cho hoạt động marketing, đặc biệt
là marketing hỗn hợp. Chính logistics đóng vai trò then chốt trong việc đưa
sản phẩm đến đúng nơi cần đến, vào đúng thời điểm thích hợp. Sản phẩm/dịch
Đỗ Thị Ngọc Trang
KT&KDQT

8

Anh 4 – K43A -


Khoá luận tốt nghiệp
Trường Đại học Ngoại Thương
2008
vụ chỉ có thể làm thỏa mãn khách hàng và có giá trị khi và chỉ khi nó đến
được với khách hàng đúng thời gian và địa điểm quy định.
4. Các yếu tố cơ bản của logistics
Hệ thống cung ứng, phân phối vật chất hay còn gọi là “logistics” là
nghệ thuật quản lý sự vận động của nguyên vật liệu và thành phẩm từ nơi sản


Khoá luận tốt nghiệp
Trường Đại học Ngoại Thương
2008
Một kênh logistics có thể được tạo bởi một số nhà trung gian chuyên nghiệp
như người giao nhận (Freight Forwarder), người kinh doanh vận tải công cộng
không có tàu (Non Vessel Operating Common Carrier - NVOCC), các công ty
quản lý xuất khẩu (Export Management Companies - EMCs), các công ty
thương mại xuất khẩu (Export Trading Companies - ETCs) hay người đóng
gói hàng xuất khẩu hoặc môi giới hải quan… Sự thành bại của mỗi nhà trung
gian chuyên nghiệp được quyết định bởi sự thành bại của toàn bộ kênh
logistics.
4.2. Yếu tố marketing
Giống như yếu tố vận tải, yếu tố marketing cũng là một yếu tố cơ bản
của logistics. Theo như phần khái niệm đã trình bày, có thể thấy điều quan
trọng trong khái niệm về logistics là tất cả các hoạt động cuối cùng đều tập
trung vào khách hàng. Vì vậy trong logistics, điểm được nhấn mạnh nằm ở
dịch vụ hiệu quả dành cho khách hàng. Phương thức kinh doanh hướng tới thị
trường đã tạo nên những thử thách mới đối với các nhà quản lý, đòi hỏi các
nhà quản lý phải biết đâu là thị trường của doanh nghiệp, tạo ra tư duy về dịch
vụ khách hàng hiệu quả, giúp việc đưa đúng sản phẩm tới đúng nơi cần thiết
vào thời điểm thích hợp với mức giá phải chăng, thiết lập nhu cầu phải có
kênh phân phối để tối đa hoá lượng hàng bán ra với mức giá hợp lý cũng như
sự hỗ trợ đối với sản phẩm sau khi chuyển giao quyền sở hữu. Từ đây có thể
thấy vai trò của marketing trong chuỗi dây chuyền logistics. Lúc đầu logistics
chỉ được coi là yếu tố “địa điểm - place” - đảm bảo hàng đến đúng địa điểm
kịp thời trong điều kiện tốt nhưng thực tế hiện nay logistics còn có liên hệ mật
thiết với 3P còn lại của marketing-mix.
4.3. Yếu tố phân phối
Phân phối là một khái niệm phản ánh sự di chuyển hàng hoá của một

4.4. Yếu tố quản trị
Trong hệ thống logistics, quản trị có vai trò hết sức quan trọng. Hoạt
động logistics nếu không có yếu tố kiểm tra, giám sát sẽ không đạt được mục
đích đặt ra. Vấn đề quản trị trong logistics được thể hiện qua hoạt động của
nhà quản trị logistics, họ là những người vừa có chuyên môn sâu, vừa có sự
hiểu biết rộng. Xét về khía cạnh chuyên môn, nhà quản trị logistics phải hiểu
biết về các loại hình vận tải, cước phí vận tải, tình hình kho bãi, vấn đề lưu
kho lưu bãi, tình hình cung ứng nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, quá trình
tiến độ sản xuất sản phẩm đưa vào lưu thông, phân phối, các kênh phân phối
và thị trường,... Xét về khía cạnh hiểu biết rộng, nhà quản trị phải nắm rõ quan
hệ giữa tất cả các chức năng của logistics, đồng thời phải liên kết, phối hợp
Đỗ Thị Ngọc Trang
KT&KDQT

11

Anh 4 – K43A -


Khoá luận tốt nghiệp
Trường Đại học Ngoại Thương
2008
hài hoà hoạt động của logistics với các hoạt động khác nhau trong doanh
nghiệp cũng như với các doanh nghiệp khác và khách hàng. Điều quan trọng
nhất là nhà quản trị logistics phải biết tới toàn bộ hệ thống kinh doanh của
doanh nghiệp, phải bao gồm cả đối thủ cạnh tranh, thị trường tiềm năng…
Có thể nói mỗi quyết định của nhà quản trị logistics có ảnh hưởng trực
tiếp tới hoạt động của doanh nghiệp, từ vấn đề chi phí đến lợi nhuận, từ nhà
cung cấp đến khách hàng. Quản trị logistics là tâm điểm của mọi hoạt động
logistics, mục tiêu của quản trị logistics là thiết lập nên các nguồn lực logistics

2008
hóa”. Có thể hiểu một cách tổng quát về dịch vụ logistics là việc thực hiện và
kiểm soát toàn bộ hàng hóa cùng những thông tin có liên quan tới nơi hình
thành nên hàng hóa cho đến điểm tiêu thụ cuối cùng.
Ở luật Thương mại Việt Nam 2005 khái niệm về logisitcs không được
đề cập đến, mà chỉ đề cập đến dịch vụ logistics.
Theo Điều 233 - Luật Thương mại Việt Nam 2005: Dịch vụ logistics là
hoạt động thương mại, theo đó, thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc
nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục
hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký
mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo
thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao.
Định nghĩa trên của Luật Thương mại 2005 có nội dung khá rộng và
chưa nêu được đặc trưng cơ bản của dịch vụ logistics, hay nói cách khác nội
hàm của khái niệm chưa được làm rõ. Việc đưa ra nhiều thành phần “nhận
hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan,...” có thể dẫn đến
nhiều cách hiểu khác nhau và gây ra việc khó áp dụng trong thực tế nếu chỉ
căn cứ vào định nghĩa. Trên thực tế, trước khi Luật Thương mại 2005 đưa ra
khái niệm về dịch vụ logistics thì các doanh nghiệp tại Việt Nam cũng như
doanh nghiệp nước ngoài đã cung cấp toàn bộ các công việc mà Luật Thương
mại 2005 nêu tại Điều 233. Do đó, khái niệm dịch vụ logistics xuất hiện và
được sử dụng như hiện nay nhằm chỉ cho các doanh nghiệp nào có khả năng
kết hợp lại là một đầu mối đứng ra cung cấp một chuỗi các dịch vụ liên hoàn
nói trên. Xuất phát từ thực tế này, khái niệm dịch vụ logistics cần có những
đặc trưng cơ bản về tính liên hoàn và công việc cơ bản. Dịch vụ logistics phải
gắn với việc vận chuyển hàng hoá. Tuy nhiên nếu chỉ có vận chuyển hàng hoá
mà đã được gọi là dịch vụ logistics thì chưa đủ. Phải làm rõ hơn nữa các công
việc cơ bản của dịch vụ logistics.
Đỗ Thị Ngọc Trang
KT&KDQT

- Dịch vụ đại lý vận tải, bao gồm cả hoạt động đại lý làm thủ tục hải
quan và lập kế hoạch bốc dỡ hàng hóa.
- Dịch vụ bổ trợ khác, bao gồm cả hoạt động tiếp nhận, lưu kho và quản
lý thông tin liên quan đến vận chuyển và lưu kho hàng hóa trong suốt cả chuỗi
logistics, hoạt động xử lý lại hàng hóa bị khách hàng trả lại, hàng hóa tồn kho,
Đỗ Thị Ngọc Trang
KT&KDQT

14

Anh 4 – K43A -


Khoá luận tốt nghiệp
Trường Đại học Ngoại Thương
2008
hàng hóa quá hạn, lỗi mốt và tái phân phối hàng hóa đó; hoạt động cho thuê và
thuê mua container.
 Các dịch vụ logistics liên quan đến vận tải, bao gồm:
- Dịch vụ vận tải hàng hải.
- Dịch vụ vận tải thuỷ nội địa.
- Dịch vụ vận tải hàng không.
- Dịch vụ vận tải đường sắt.
- Dịch vụ vận tải đường bộ.
- Dịch vụ vận tải đường ống.
 Các dịch vụ logistics liên quan khác, bao gồm:
- Dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật.
- Dịch vụ bưu chính.
- Dịch vụ thương mại bán buôn.
- Dịch vụ thương mại bán lẻ, bao gồm cả hoạt động quản lý hàng lưu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status