Lời cảm ơn!
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo Th.S. Trịnh Thị Hồng, người đã
nhiệt tình hướng dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận.
Em xin gửi lời cảm ơn tới Phòng khoa học trường Đại học Tây Bắc, Ban chủ
nhiệm khoa Tiểu học - Mầm non và các thầy cô giáo trong Thư viện nhà trường đã tạo
mọi điều kiện để em hoàn thành khóa luận này.
Xin cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô giáo và các em học sinh trường Tiểu học
Vô Tranh I - huyện Lục Nam - tỉnh Bắc Giang đã tham gia hợp tác trong quá trình
khảo sát, dạy thể nghiệm đề tài tại nhà trường.
Xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Hoàng Thị Hằng
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TV : Tiếng việt
HS : Học sinh
DTTS : Dân tộc thiểu số
PPDH : Phương pháp dạy học
DH : Dạy học
SGK : Sách giáo khoa
GV : Giáo viên
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .........................................................................................................................1
1. Lí do chọn khóa luận ...................................................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ...........................................................................................3
3. Mục đích nghiên cứu ...................................................................................................5
4. Nhiệm vụ nghiên cứu ..................................................................................................5
2.1.3. Sử dụng bài tập trắc nghiệm giúp học sinh nghe (hiểu và nhớ) ..........................29
2.1.4. Sử dụng câu hỏi gợi ý hướng dẫn học sinh đặt lời thuyết minh cho tranh ……29
2.2. Đối với kiểu bài kể chuyện đã nghe đã đọc ........................................................31
2.2.1. Lập tủ sách để cung cấp tư liệu cho giáo viên và học sinh của trường học
……………………………………………………………………………………...31
2.2.2. Tổ chức các hoạt động ngoại khóa nói chuyện về các anh hùng, các danh nhân,
các gương người tốt việc tốt... nhân các ngày lễ, các ngày kỉ niệm ..............................32
2.2.3. Sử dụng câu hỏi hướng dẫn học sinh lập dàn ý của câu chuyện và kể lại câu
chuyện ............................................................................................................................34
2.3. Đối với kiểu bài Kể chuyện chứng kiến hoặc tham gia .....................................35
2.3.1. Tổ chức tham quan, du lịch và hoạt động ngoại khoá cho học sinh ...................35
2.3.2. Định hướng và hiện thực hiện hoá bằng cách đặt học sinh vào tình huống cụ thể,
phân tích tình huống ......................................................................................................36
2.3.3. Xây dựng các bước kể một câu chuyện được chứng kiến hoặc tham gia ...........37
2.3.4. Sử dụng câu hỏi hướng dẫn học sinh xây dựng cốt truyện .................................39
2.4. Chữa lỗi diễn đạt cho học sinh .............................................................................40
2.5. Luyện kể chuyện diễn cảm ....................................................................................41
TIỂU KẾT ....................................................................................................................45
Chƣơng 3: THIẾT KẾ GIÁO ÁN THỂ NGHIỆM ..................................................46
3.1. Mục đích của dạy học thể nghiệm ........................................................................46
3.2. Đối tượng, địa bàn và thời gian thể nghiệm.........................................................46
3.3. Nội dung của dạy học thể nghiệm ........................................................................46
3.4. Giáo án thể nghiệm ...............................................................................................46
3.5. Kết quả thể nghiệm ………………………………………………………….......46
TIỂU KẾT ....................................................................................................................62
KẾT LUẬN ..................................................................................................................63
TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................................................64
nên phong phú nhờ vào việc được nghe hoặc được kể lại các câu chuyện trong những
giờ học hấp dẫn. Nhiều câu chuyện đã được nghe kể sẽ gieo vào tâm hồn trẻ thơ những
mơ ước, hoài bão về một tương lai tươi đẹp. Việc các em được kể lại câu chuyện bằng
1
lời của mình đã góp phần rèn luyện và phát triển kĩ năng nói, kỹ năng kể trước đám
đông. Từ đó, giúp các em tự tin, mạnh dạn trong giao tiếp, say sưa, chủ động, sáng tạo
trong lời kể phấn đấu có lời kể hấp dẫn nhất. Chính vì vậy có thể nói kể chuyện là một
hoạt động nghệ thuật, dạy Kể chuyện cho HS tiểu học là dạy một môn học mang nhiều
yếu tố nghệ thuật, giúp cho HS hiểu sâu sắc hơn về xã hội, về con người và cuộc sống
xung quanh. Giờ học Kể chuyện ngoài mục tiêu giúp HS cảm thụ, thưởng thức những
câu chuyện bổ ích bên cạnh đó đòi hỏi HS (trình độ lớp 4, 5) phải có kỹ năng kể
chuyện, có khả năng thể hiện lại câu chuyện đó cho người khác nghe bằng tất cả vốn
ngôn ngữ, sự cảm thụ, kỹ thuật thể hiện và tình cảm, cảm xúc của mình một cách hiệu
quả và có tính sáng tạo nhất.
1.3. Tuy nhiên, thực tế dạy học Kể chuyện ở nhiều trường tiểu học hiện nay vẫn
chưa đáp ứng được hết những yêu cầu của môn học. Một số GV còn coi nhẹ môn Kể
chuyện cho rằng đây là môn học phụ không thật sự quan trọng đối với HS. Vì lẽ đó
nên GV chưa đầu tư cho việc dạy học Kể chuyện (từ việc rèn luyện kĩ năng kể chuyện
cho bản thân người dạy đến việc tìm ra những biện pháp dạy học phù hợp để hướng
dẫn cho HS). Đặc biệt ở một số trường tiểu học miền núi GV dạy Kể chuyện vẫn còn
mang tính khuôn mẫu công thức, đề cao tính chất môn học, chưa coi trọng tính nghệ
thuật nên giờ dạy ít khi đem lại cho HS một giờ học Kể chuyện thật sự thú vị, lôi cuốn,
thu hút các em. Điều này đã tác động rất lớn tới HS làm cho các em chưa hào hứng với
tiết học, thậm chí còn không thích học mặc dù Kể chuyện là món ăn tinh thần hấp dẫn
nhất, không thể thiếu được đối với trẻ thơ.
Việt Nam là đất nước có đặc điểm về địa lý và sự phân bố về các thành phần
dân cư trên các vùng miền khác nhau, sự phát triển về mọi mặt kinh tế, chính trị, văn
pháp, kĩ thuật dạy học phân môn này. Xuất phát từ yêu cầu trên, nhiều nhà khoa học
đã đi sâu nghiên cứu vấn đề này nhưng số lượng các công trình hãy còn khiêm tốn.
Trước hết có thể kể tới là cuốn tài liệu “Kể chuyện” của đồng tác giả Đỗ Lê
Chẩn và Nguyễn Thị Ngọc Bảo. Trong phần lí luận chung, hai tác giả đã nêu tương đối
đầy đủ về vị trí, nhiệm vụ cũng như phương pháp của dạy học Kể chuyện ở tiểu học.
Phần hướng dẫn cụ thể, có sự định hướng cho GV các bước lên lớp cho từng bài cụ
thể.
Cuốn sách được GV tiểu học tìm đọc nhiều nhất đó là “Dạy kể chuyện ở trường
tiểu học” của tác giả Chu Huy. Theo tác giả, nhu cầu kể chuyện đối với HS tiểu học là
rất lớn. Ngoài việc xác định vị trí, nhiệm vụ rất quan trọng của phân môn Kể chuyện,
ông còn đề ra phương pháp và kĩ thuật lên lớp với những bài soạn mẫu làm cơ sở cho
GV tiểu học tham khảo trong quá trình dạy học.
Xuất phát từ quan điểm: TV - là công cụ, là phương tiện lĩnh hội tiếp thu nền
văn hoá của dân tộc, nền văn minh của nhân loại, dạy học tiếng Việt phải được coi
trọng từ thời thơ ấu, cần được tổ chức hướng dẫn giảng dạy thật khoa học từ bậc mầm
3
non nên tác giả Nguyễn Xuân Khoa đã cho ra mắt bạn đọc cuốn “Phương pháp phát
triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo”. Dạy học Kể chuyện là một trong những phương
pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mà tác giả đã đề cập rất tâm đắc. Trong đó đọc truyện
và kể chuyện cũng chính là một nghệ thuật của GV.
Cuốn giáo trình “Phương pháp dạy học Tiếng Việt 2” do đồng tác giả Lê
Phương Nga và Nguyễn Trí biên soạn cũng đã đề cập đến đổi mới phương pháp DH
Kể chuyện. Nhóm tác giả đã định hướng xây dựng cách thức tổ chức, hoạt động chủ
yếu trong giờ Kể chuyện. Đặc biệt là nhấn mạnh đến việc rèn kĩ năng nghe và kĩ năng
kể cho người học.
Gần đây có rất nhiều sinh viên tích cực tham gia tìm hiểu nghiên cứu về dạy
học phân môn Kể chuyện ở tiểu học, tiêu biểu có: Đề tài “Truyện cổ tích và một số
hợp lý, phù hợp với đối tượng HS và sáng tạo linh hoạt trong quá trình tổ chức các
hoạt động dạy học. Đó cũng chính là những nội dung cơ bản mà khóa luận này muốn
gửi tới các thầy cô giáo đang dạy các trường tiểu học vùng miền núi cũng như những
ai quan tâm tới lĩnh vực này có một cách nhìn mới, toàn diện hơn về dạy học Kể
chuyện ở nhà trường tiểu học.
3. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng dạy và học Kể chuyện cho HS DTTS lớp 4 ở trường Tiểu
học Vô Tranh I - huyện Lục Nam - Tỉnh Bắc Giang. Từ đó đề xuất một số biện pháp
dạy học phù hợp nhằm nâng cao chất lượng dạy học.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lí luận: Đọc tài liệu, tổng hợp, phân tích tài liệu có liên quan đến
nội dung đề tài.
- Nghiên cứu tìm hiểu thực trạng dạy và học phân môn Kể chuyện ở trường
Tiểu học Vô Tranh I nói chung và dạy Kể chuyện của khối lớp 4 tại trường nói riêng.
- Trên cơ sở lí luận và thực tiễn đã nghiên cứu, đề tài đề xuất một số biện pháp
dạy học Kể chuyện cho HS DTTS lớp 4
- Soạn thiết kế một số giáo án mẫu có vận dụng các biện pháp dạy học đã đề
xuất vào dạy học một số bài cụ thể để khẳng định tính khả thi của đề tài.
5. Đối tƣợng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu toàn bộ những vấn đề liên quan tới hoạt động dạy và học Kể
chuyện cho HS DTTS lớp 4 ở trường Tiểu học Vô Tranh I - huyện Lục Nam - tỉnh Bắc
Giang.
6. Giả thuyết khoa học
Nếu đề tài nghiên cứu thành công, đề xuất được những biện pháp dạy học cụ
thể, phù hợp có tính khả thi sẽ là tài liệu tham khảo cho sinh viên khoa tiểu học, giáo
viên dạy học ở các trường tiểu học miền núi trong quá trình học tập và công tác. Là
sinh viên được tham gia tìm hiểu, nghiên cứu và hoàn thiện đề tài chính là một quá
trình tự học, tập dượt với công tác nghiên cứu khoa học, tìm tòi và khám phá kiến thức
5
Ngoài phần mở đầu và kết luận khóa luận gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lí luận và thực tiễn của khóa luận
Chương II: Một số biện pháp dạy học Kể chuyện cho HS lớp 4 vùng DTTS
trường Tiểu học Vô Tranh I - huyện Lục Nam - tỉnh Bắc Giang
Chương III: Thể nghiệm
6
NỘI DUNG
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1. Quan niệm về hoạt động kể chuyện ở tiểu học
Từ điển Tiếng Việt do Văn Tân chủ biên giải thích “kể” là nói rõ đầu đuôi, và
nêu ví dụ: Kể chuyện cổ tích: “kể” là quá trình thuật lại một sự việc có mở đầu, diễn
biến và kết thúc.
Tác giả Nguyễn Trí cho rằng: Kể chuyện là một phương thức tự sự, một
phương thức biểu đạt để kể lại các chuyện. Theo quan niệm này, muốn kể chuyện
chúng ta phải có chuyện để kể. Hay nói cách khác là người ta dùng cách kể chuyện khi
có chuyện muốn kể. Tác giả Chu Huy đã nói về thuật ngữ “kể chuyện” trong cuốn Dạy
học kể chuyện ở trường tiểu học, ông cho rằng “kể chuyện” bao gồm bốn phạm trù
ngữ nghĩa, nó chỉ loại hình tự sự trong văn học (phân biệt với loại hình trữ tình, loại
hình kịch) còn gọi là truyện hay tiểu thuyết. Ngoài ra nó còn là tên một phương pháp
nói trong diễn giảng, tên một loại văn thuật chuyện trong môn Tập làm văn, tên một
phân môn tiếng Việt ở chương trình tiểu học.
Ở phạm trù ngữ nghĩa thứ nhất, tác giả cho rằng kể chuyện là một loại hình
trong sáng tác văn học mà đặc trưng của nó là phải có tình tiết, tức là sự việc đang xảy
ra, đang diễn biến, có nhân vật với ngôn ngữ, tâm trạng, tính cách riêng. Theo đó thì
phạm trù ngữ nghĩa này chỉ đề cập tới “chuyện” mà chưa nói tới hoạt động “kể”.
Ở phạm trù ngữ nghĩa thứ hai, tác giả cho rằng kể chuyện là một phương pháp
cuộc săn bắt, hái lượm của họ.
Xã hội ngày càng phát triển, cùng với ngôn ngữ trình độ nhận thức của con
người cũng phát triển. Khi đó, trong quá trình lao động sản xuất của mình, họ lại kể
cho nhau nghe những câu chuyện có thể tự mình nghĩ ra hoặc của thế hệ trước để lại.
Những câu chuyện này chủ yếu nói về kinh nghiệm sản xuất hoặc giải thích các hiện
tượng thiên nhiên hay ước mơ chinh phục thiên nhiên của người xưa. Đó chính là kho
tàng văn học dân gian đồ sộ và vô cùng quý giá mà nhân loại bao thế hệ đã dành tặng
cho hậu thế.
Khi chữ viết xuất hiện cũng là lúc nền văn học viết ra đời, hơn bao giờ hết nhu
cầu kể chuyện của con người là rất cao. Điều này thể hiện ở việc con người ghi lại
những câu chuyện dân gian để tiếp tục kể lại và lưu truyền lâu dài cho đời sau. Song
song đó, con người luôn không ngừng đua nhau sáng tác thêm rất nhiều câu chuyện
mang hơi thở của thời đại nhằm đáp ứng nhu cầu về kể chuyện ngày càng cao của con
người.
Trẻ em từ khi bập bẹ tập nói, các em đã rất thích nghe kể chuyện. Những câu
chuyện của bà, của mẹ luôn là niềm hứng khởi đối với các em và nó đã để lại trong
8
lòng trẻ thơ những tình cảm tốt đẹp. Khi đến tuổi mẫu giáo, nhu cầu được nghe cũng
như được nói của các em lại tăng lên. Bộ môn Phương pháp cho trẻ làm quen với tác
phẩm văn học, định hướng cho GV mầm non tổ chức, hướng dẫn cho trẻ làm quen với
truyện và thơ là bộ môn quan trọng ở bậc mẫu giáo - giai đoạn đầu đời của con người.
Đến khi bước vào tuổi tiểu học, nhu cầu kể chuyện lại tiếp tục tăng, đặc biệt là
đối với các loại truyện cổ dân gian. Vì những truyện kể dân gian là những câu chuyện
rất gần gũi với các em, nó được ví như dòng nước mát bổ dưỡng tâm hồn với thế giới
cổ tích hoang linh kì diệu, các em đã được làm quen với chúng từ rất sớm. Những câu
chuyện này giúp các em nhận thức thế giới và chúng cũng giúp các em chính xác hoá
những biểu tượng đã có về tự nhiên và xã hội. Đồng thời truyện cổ từng bước cung cấp
và thái độ đúng đắn trong cuộc sống như biết phân biệt đẹp xấu, thiện ác, đúng sai;
biết yêu thương, quý trọng tình cảm đối với trường lớp, thầy cô, bạn bè, quê hương,
đất nước; có lòng nhân ái vị tha; có ý thức về bổn phận, sự hiếu thảo với ông bà, cha
mẹ, người thân, biết tôn trọng nội quy, tôn trọng pháp luật, bảo vệ của công, bảo vệ
môi trường; Hướng tới cách sống tự tin, năng động, trung thực, dũng cảm; có ý thức
và nhu cầu nhận thức bản thân. Bước đầu rèn luyện và hình thành các kĩ năng cơ bản
như biết kể chuyện, biết tóm tắt câu chuyện, biết ghi nhớ, rút ra bài học ý nghĩa của
câu chuyện, biết nhận xét, nêu cảm nghĩ của mình về các nhân vật có trong truyện... để
vận dụng trong học tập trên lớp và cũng như trong cuộc sống.
1.1.3.2. Nhiệm vụ
Trong cuốn “Dạy Kể chuyện ở trường tiểu học”, tác giả Chu Huy đã chỉ ra
nhiệm vụ cơ bản của phân môn Kể chuyện đó là: bồi dưỡng tâm hồn, đem lại niềm
vui, trau dồi vốn sống và vốn văn học, phát triển ngôn ngữ và tư duy cho trẻ. Các
nhiệm vụ cụ thể của Kể chuyện là bồi dưỡng đời sống tâm hồn, đem lại niềm vui cho
các em. Phân môn Kể chuyện đã đáp ứng nhu cầu nghe kể chuyện của trẻ. Đối với các
em nhu cầu này rất lớn (như đã nói đến ở phần trên). Các câu chuyện được sử dụng để
kể cho trẻ là các tác phẩm văn học nghệ thuật đã được chọn lọc kỹ để đưa vào chương
trình SGK. Các tác phẩm này có tác động rất lớn, làm lay động đến tâm hồn và xúc
cảm của trẻ, đồng thời nó còn lưu giữ, thúc đẩy trẻ phấn đấu vươn tới những điều tốt
đẹp trong tương lai.
Dạy học Kể chuyện còn góp phần trau rồi vốn sống và vốn văn học cho các em.
Trẻ được học kể chuyện từ khi chưa biết đọc biết viết, điều này cũng có nghĩa là trẻ
được tiếp xúc rất sớm với các tác phẩm văn học ở bậc cao hơn. Trong chương trình
tiểu học, học sinh được nghe và kể rất nhiều câu chuyện với nhiều thể loại khác nhau,
từ truyện cổ tích đến hiện đại, các tác phẩm văn học được chọn lọc trong nước và các
tác phẩm văn học trên thế giới. Nhờ đó vốn văn học của trẻ được mở rộng vô cùng
phong phú. Các câu chuyện kể với nhiều đề tài khác nhau đã đưa các em tới một thế
10
những câu chuyện các em đã được chứng kiến hoặc tham gia, khuyến khích sưu tầm
những câu chuyện ngoài SGK có nội dung hấp dẫn, mang tính cập nhật với đời sống,
có ý nghĩa giáo dục cao, rút ra được bài học sâu sắc. Để kể được câu chuyện thuộc
11
kiểu bài này, các em phải nhớ lại các tình tiết những câu chuyện mà mình đã được đọc,
nghe, kể, chứng kiến hoặc tham gia. Khi có ý tưởng, các em dựa vào cách thức xây
dựng câu chuyện đã được học ở phân môn Tập làm văn để sắp xếp lại các chi tiết và
kể. Tất nhiên nội dung của những câu chuyện này phải phù hợp với chủ điểm mà các
em được học.
Các chủ điểm học tập của lớp 4 gồm: Thương người như thể thương thân (lòng
nhân ái); Măng mọc thẳng (trung thực, tự trọng); Trên đôi cánh ước mơ (ước mơ);
Tiếng sáo diều (vui chơi); Người ta là hoa đất (năng lực, tài trí); Vẻ đẹp muôn màu (óc
thẩm mĩ); Những người quả cảm (lòng dũng cảm); Khám phá thế giới (du lịch, thám
hiểm) và tình yêu cuộc sống (lạc quan, yêu đời).
Như vậy phân môn Kể chuyện có sự hỗ trợ bổ sung đắc lực cho phân môn Tập
làm văn. Thông qua những câu chuyện sinh động các em nắm bắt, rung động sẽ là
những bài viết sinh động thuyết phục nhất.
1.1.3.4. Quan niệm về đổi mới phương pháp dạy học kể chuyện cho học sinh lớp 4
Như đã nói trên, kể chuyện là một hoạt động lời nói. Cho nên có thể nói phương
pháp đặc trưng của dạy học Kể chuyện là phương pháp dùng lời (kể). Tuy nhiên, do
dặc trưng của Kể chuyện là kể nên phương pháp này được sử dụng không giống như
đối với các phân môn khác. Điểm khác biệt đó là GV không phải dùng lời để thuyết
trình nội dung dạy học mà là dùng lời để kể và sau đó hướng dẫn học sinh cũng dùng
lời của mình để kể lại câu chuyện vừa được nghe giáo viên kể hoặc kể lại các câu
chuyện đã được nghe, đã được đọc hoặc được chứng kiến, tham gia. Nói như thế có
nghĩa là phương pháp kể là phương pháp của cả GV lẫn HS và điều quan trọng hơn cả
là làm sao rèn cho HS biết cách kể có được một kĩ năng kể chuyện như mục tiêu dạy
phân vai.
Mỗi phương pháp có một ưu thế riêng chính vì vậy GV cần sử dụng phối hợp
nhuần nhuyễn và linh hoạt các phương pháp trên.
Tóm lại: Kể chuyện là hoạt động sử dụng lời nói để trình bày một sự việc có
mở đầu, diễn biến và kết thúc. Thông qua kể chuyện người ta trao đổi thông tin với
nhau đồng thời nó giúp cho con người tự hoàn thiện và phát triển nhân cách cho mình.
Vì Kể chuyện có tầm quan trọng rất to lớn, cần thiết diễn ra hàng ngày nên nhu cầu về
kể chuyện của tất cả mọi người (kể cả trẻ nhỏ cho đến người lớn) là rất cao. Kể chuyện
không phải là một hình thức giải trí thông thường mà nó là một hoạt động lời nói, là
một hình thức sinh hoạt văn hoá và là một hoạt động sáng tạo nghệ thuật. Kể chuyện ở
tiểu học có nội dung và phương pháp rất riêng, cho nên người GV cần phải nắm vững
lý thuyết, vận dụng sáng tạo để việc dạy học Kể chuyện đạt hiệu quả cao nhất.
Kể chuyện là một hoạt động lời nói. Cho nên kể chuyện là hoạt động nghệ thuật
của lời nói có ngữ điệu, cách ngắt giọng, cường độ giọng, cử chỉ, điệu bộ.... màu sắc
cá nhân. Câu chuyện được kể lại mang dấu ấn của người kể từ lời văn, đến giọng điệu
13
lẫn cảm xúc. Sản phẩm đó là do sự kết hợp giữa cảm thụ, thưởng thức tác phẩm kết
hợp với sự tái hiện, kỹ năng kể chuyện của người kể. Cái đích mà người dạy Kể
chuyện luôn muốn hướng tới cho người học của mình đó là sáng tạo sáng tạo trong kể
chuyện là yếu tố cực kỳ quan trọng.
1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1. Mục đích khảo sát
Đề tài tiến hành khảo sát hoạt động dạy học và học tập phân môn Kể chuyện
của GV và HS khối lớp 4 trường Tiểu học Vô Tranh I - huyện Lục Nam - tỉnh Bắc
Giang. Tìm hiểu về các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học của GV, cũng như sự
hợp tác học tập của HS trong phân môn Kể chuyện.
Quá trình khảo sát đề tài đi sâu tìm hiểu về tâm lý HS, mức độ hứng thú và khả
Tháng 4 năm 2015: Khảo sát giáo án và thể nghiệm dạy học.
- Địa bàn khảo sát:
Thực hiện khóa luận này tôi tiến hành tìm hiểu, khảo sát thực tế hoạt động dạy
và học của GV và HS lớp 4 tại trường Tiểu học Vô Tranh I - huyện Lục Nam - tỉnh
Bắc Giang.
1.2.6. Kết quả khảo sát
1.2.6.1. Hoạt động học tập của học sinh
Qua quá trình dự giờ, khảo sát bằng phiếu điều tra về hứng thú học tập phân
môn Kể chuyện cho HS lớp 4 Trường Tiểu học Vô Tranh I - huyện Lục Nam - tỉnh
Bắc Giang. Tôi nhận thấy rằng: 73,2% các em HS khối lớp 4 trong nhà trường đều có
hứng thú học phân môn Kể chuyện. Tuy nhiên hoạt động dạy học ở đây chưa được đề
cao, những tiết dạy Kể chuyện GV thường cho HS học các môn tự chọn khác như ôn
Toán, ôn tiếng Việt, Tập làm văn. Khi trao đổi trực tiếp, các thầy cô lí giải: Do HS học
môn Toán, Tập làm văn chưa đạt yêu cầu, ở lớp luôn thiếu thời gian, thời gian tự học ở
nhà ít, hoặc không hiệu quả. Một số GV trong trường lại cho rằng môn Kể chuyện là
môn phụ, không quan trọng đối với HS. Đồng thời qua tìm hiểu chúng tôi nhận thấy
90% HS là con em vùng nông thôn, nguồn sống dựa vào sản xuất nông nghiệp là chủ
yếu. Chính vì vậy điều kiện sống của HS còn gặp rất nhiều khó khăn. Ngoài thời gian
học tập trên lớp về nhà các em còn phải phụ giúp bố mẹ công việc đồng áng, việc nhà.
Do vậy việc học tập của các em chưa được đầu tư thời gian thích đáng. Chất lượng học
tập môn tiếng Việt còn thấp, nhiều HS đọc còn ngọng, phát âm sai (sai phụ âm, phần
vần, dấu thanh) từ đó dẫn đến việc luyện kĩ năng kể chuyện cũng bị ảnh hưởng nhiều
về khâu diễn đạt của người kể, nhút nhát, thiếu tự tin khi tham gia phần luyện tập kể
chuyện.
Để khảo sát về hứng thú học tập, đề tài có câu hỏi : “Em có yêu thích phân môn
Kể chuyện hay không?” Kết quả thu được là:
15
Rất thích
30
73,2%
Bình thường
10
24,4%
Không
1
2,4%
Như vậy còn lại 26,8% số HS thờ ơ hoặc chưa yêu thích môn học Kể chuyện.
Đây cũng là vấn đề đặt ra cho các GVTH là làm sao để huy động 100% HS đều có
hứng thú học tập, thấy thực sự thích thú, say mê đối với giờ học. Học xong cảm thấy
hữu ích thiết thực đối với bản thân. Kích thích các em sẽ có sự tìm tòi, khám phá thêm
nhiều câu chuyện hay ngoài SGK giúp mở rộng vốn sống, vốn hiểu biết phong phú. Để
tìm hiểu vấn đề này tôi đã đưa ra câu hỏi 3: “Ngoài những câu chuyện trong SGK em
có thường xuyên tìm đọc những câu chuyện khác trên sách, báo không?” kết quả thu
được là:
Mức độ
Số lƣợng
16
Tỉ lệ
12,2%
Đôi khi
20
48,8%
Không bao giờ
16
39,0%
Câu hỏi 5: “Bố mẹ có hay mua sách báo cho em đọc không?”. Kết quả là:
Mức độ
Số lƣợng
Tỉ lệ
Thường xuyên
9
Số lƣợng
Tỉ lệ
Tiếng việt
7
17,1%
Tiếng dân tộc
34
82,9%
Có tới 82,9% các em đều sử dụng tiếng mẹ đẻ. ( tiếng dân tộc TS) Điều đó cũng
là một khó khăn đối với các thầy, cô về việc luyện tập TV ở nhà của các em.
17
Ngoài việc tiếp xúc với những người thân trong gia đình, giao tiếp ngoài xã hội
cũng có vai trò quan trọng góp phần bồi dưỡng vốn TV của các em. câu hỏi 7: Em có
hay đi chợ cùng bố mẹ không? Kết quả thu được là:
Mức độ
Số lƣợng
11
26,8%
Không
30
73,2%
Như vậy 73,2% các em còn e ngại, rụt rè, chưa dám kể về hoặc không dám kể
hay chia sẻ chuyện về bản thân, gia đình, bản làng, quê hương mình cho bạn bè trong
lớp nghe. Nguyên nhân do các em thiếu tự tin về ngôn ngữ của mình, vốn từ ít, chưa
biết cách diễn đạt suy nghĩ của mình hoặc không có nhu cầu chia sẻ, giao tiếp.
Ngoài môi trường gia đình, nhà trường thì các phương tiện thông tin đại chúng
cũng góp phần nâng cao sự hiểu biết, tiếp cận với thời đại, giúp các em phát triển một
cách toàn diện về nhân cách cũng như vốn hiểu biết tiếng phổ thông. Câu hỏi 9: “Nơi
em sinh sống (gia đình, bản làng) có những phương tiện thông tin đại chúng nào?” kết
quả thu được như sau:
Phƣơng tiện
Số lƣợng
Tỉ lệ
Tivi
36
87,8%
Khi hỏi về: “Các hoạt động tập thể mà em thường tham gia ở trường” đa số
các em chưa hứng thú tham gia hoạt động thi kể chuyện, do các em chưa hiểu hết ích
lợi của phân môn Kể chuyện.
Câu 11: “Theo em tác dụng của việc học Kể chuyện là gì ?”
Tìm hiểu về vấn đề này tôi nhận thấy 73% các em đã xác định được tác dụng
của việc học Kể chuyện là “giúp các em hiểu biết hơn về thế giới xung quanh con
người, tự nhiên, xã hội, các sự vật, sự việc… Đồng thời còn giúp các em nói (kể) mạnh
dạn, tự tin trước đám đông”. Còn lại 27% các em đều cho rằng được vui chơi, được
thư giãn, được thoải mái trong giờ học của việc học Kể chuyện là chủ yếu các em
được nghe những câu chuyện hấp dẫn.
Các em có thể chưa tiếp cận với các phương pháp Kể chuyện phù hợp với trình
độ, khả năng của mình mà mỗi em có một cách thể hiện nội dung câu chuyện khác
nhau. Trong nội dung này với câu hỏi: “Em thường kể chuyện theo như thế nào ?”
Qua điều tra tôi thu được kết quả như sau:
38% các em quan niệm là kể phải cố gắng bắt chước kể lại giống hệt thầy cô đã
kể cho các em nghe, 52% học thuộc lòng câu chuyện và kể lại thật diễn cảm, còn lại
10% là kể lại câu chuyện theo lời của mình.
Qua việc khảo sát ở trên chúng ta nhận thấy rằng có rất nhiều yếu tố tác động
đến hứng thú, khả năng nghe và kể lại chuyện ở trong chương trình học cũng như
những câu chuyện các em được chứng kiến tham gia ngoài cuộc sống. Bên cạnh sự
nhiệt tình giảng dạy, tâm huyết với nghề, GV cần có sự đổi mới phương pháp dạy học
sáng tạo và hiệu quả cho phù hợp với đối tượng HS DTTS, nhằm khắc phục những
19
mặt hạn chế, trang bị cho các em vốn hiểu biết TV cũng như kĩ năng kể chuyện góp
phần giúp các em học tốt môn học này ở lớp trên, rèn luyện kỹ năng nói và kể ở bậc
học cao hơn.
1.2.6.2. Hoạt động dạy học của giáo viên
21
20
95%
Để nâng cao hiệu quả dạy học thì không chỉ đổi mới nội dung chương trình
SGK mà còn cần cả sự đổi mới các PPDH sao cho phù hợp.
Sự kết hợp giữa cái cũ và cái mới luôn là tiền đề để phát triển cái mới. Vậy đổi
mới phương pháp dạy học là đổi mới như thế nào? Có phải là thay thế phương pháp
dạy học cũ bằng phương pháp dạy học mới hay không? Về mặt bản chất là đổi mới các
phương pháp dạy học cụ thể, các phương tiện và hình thức dạy học, trên cơ sở khai
thác triệt để ưu điểm của các phương pháp cũ và vận dụng linh hoạt một số phương
pháp mới nhằm phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học. Như vậy
mục đích cuối cùng của PPDH Kể chuyện là làm thế nào để HS phải thực sự thích học,
phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác, luôn tìm tòi, suy nghĩ và sáng tạo trong quá
20
trình lĩnh hội tri thức và lĩnh hội kiến thức để có được tri thức ấy nhằm hoàn thiện
nhân cách của mình.
Để điều tra tôi đưa ra câu hỏi: “Khi dạy học Kể chuyện thầy, cô thường sử dụng
phương pháp dạy học nào?”. Thì kết quả thu được như sau:
Các phƣơng pháp
Số GV sử dụng
Tỉ lệ
động trong việc chiếm lĩnh tri thức. Mặt khác GV chưa quan tâm đầu tư đúng mức đến
công việc tìm tòi và vận dụng biện pháp tích cực để nâng cao hiệu quả dạy học môn
TV nói chung và phân môn Kể chuyện nói riêng.
Với câu hỏi: “Rèn kỹ năng kể chuyện cho HS thầy (cô) thường sử dụng đồ dùng
trực quan nào dưới đây?” Kết quả là:
Đồ dùng trực quan
Số lƣợng
Tỉ lệ
Tranh minh hoạ, đồ vật, mẫu vật.
28
100%
Công nghệ thông tin.
0
0%
100% các thầy cô đều sử dụng tranh minh hoạ để phục vụ cho bài dạy Kể
chuyện của mình. Khi được hỏi thêm về nguồn gốc của đồ dùng trực quan thì kết quả
là các thầy cô lấy từ phòng thư viện của nhà trường, chưa có sự sáng tạo, thiết kế thêm
ngoài những phương tiện đó.
Vận dụng các phương pháp vào dạy học phân môn Kể chuyện có đạt hiệu quả
hay không phụ thuộc vào cách thức tổ chức một giờ Kể chuyện của GV. Câu hỏi: