Theo dõi tình hình dịch bệnh trên đàn lợn thịt và so sánh hiệu quả điều trị bệnh viêm phổi của một số phác đồ tại trại lợn thị trấn Nếnh - Huyện Việt Yên- Tỉnh Bắc Giang - Pdf 26

I. MỞ ĐẦU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ở Nước ta nghề nuôi lợn đó cú từ rất lâu đời và đã trở thành một thành
phần quan trọng trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp. Trong những năm gần
đây nhờ có chớnh sách mở cửa của nhà nước và sự mở rộng thị trường tiêu
thụ mà chăn nuôi lợn đang ngày càng phát triển mạnh mẽ.
Cũng như bao địa phương khỏc trờn cả nước, ở tỉnh Bắc Giang số
lượng và quy mô chăn nuôi lợn trang trại ngày càng mở rộng, thay dần cho
hình thức chăn nuôi truyền thống, góp phần đáng kể nâng cao thu nhập cho
người chăn nuôi.
Tuy nhiên bờn cạnh những thành tựu đạt được, người chăn nuôi lợn
trang trại vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn do dịch bệnh gây ra, đặc biệt là
trong chăn nuôi lợn giống ngoại. Đây là các giống lợn có khả năng sinh
trưởng và phát triển nhanh, có tỷ lệ nạc cao đáp ứng được thị hiếu của người
tiêu dùng. Song do khả năng thích nghi với điều kiện khí hậu nước ta cũn
kộm nờn dịch bệnh còn xảy ra rất phức tạp, trong đó có bệnh viêm phổi. Bệnh
thường xày ra trên đàn lợn ở tất cả các lứa tuổi, gây thiệt hại đáng kể cho
người chăn nuôi.
Nhằm nắm được tình hình dịch bệnh nói chung và bệnh viêm phổi nói
riêng xảy ra trên đàn lợn theo quy mô trang trại, chúng tôi tiến hành đề tài:
“Theo dõi tình hình dịch bệnh trên đàn lợn thịt và so sánh hiệu quả điều trị
bệnh viêm phổi của một số phác đồ tại trại lợn thị trấn Nếnh - Huyện Việt
Yờn- Tỉnh Bắc Giang ”.
1.2. MỤC ĐÍCH ĐỀ TÀI
- Nắm được tình hình dịch bệnh nói chung và bệnh viêm phổi nói riêng
trên đàn lợn của trang trại.
- Xây dựng được phác đồ điều trị bệnh viêm phổi đạt hiệu quả cao cho
đàn lợn của trại.
1
II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. HIỂU BIẾT CƠ BẢN VỀ QUÁ TRÌNH SINH DỊCH

các thể khác nhau. Trong nhiều bệnh, con ốm ở thời kì nung bệnh là nguy
hiểm nhất vì con ốm đã mang và bài mầm bệnh ra ngoài một thời gian trước
khi xuất hiện triệu chứng lâm sàng đầu tiên. Về mặt dịch tễ học, những con
vật mắc bệnh nhẹ nguy hiểm hơn những con mắc bệnh nặng; vỡ chỳng
thường khó bị phát hiện, dễ bị bỏ qua hoặc coi thường, lại có khả năng tiếp
xúc với con khoẻ nên làm bệnh dễ lây lan.
- Con vật mang trùng: gồm gia súc, gia cầm, dã thú cụn trùng và cả
người mang trùng. Hiện tượng mang trùng có thể bao gồm gia súc, gia cầm
sau khi mắc bệnh khỏi có miễn dịch (lao) hoặc không có miễn dịch
(leptosoirosis) nhưng có mang trùng, cũng có thể là vật mới lành bệnh nhưng
còn mang và bài xuất mầm bệnh trong một thời gian ( dịch tả lợn) hoặc có thể
là vật chưa mắc bệnh nhưng mang mầm bệnh ( lợn đóng dấu, tụ huyết trùng,
phó thương hàn). Hiện tượng mang trùng rất nguy hiểm về mặt dịch tễ
học.sỳc vật mang trùng thường làm lây lan bệnh lớn hơn cả bản thân súc vật
ốm. (Nguyễn Vĩnh Phước -1978) [14]
2.1.3. Các nhân tố trung gian truyền bệnh
Là khâu thứ hai của quá trình sinh dịch có vai trò chuyển mầm bệnh từ
nguồn bệnh tới súc vật thụ cảm. Muốn lan truyền từ cơ thể ốm sang cơ thể
khoẻ, mầm bệnh thường phải sống một thời gian nhất định ở ngoại cảnh trờn
cỏc nhân tố trung gian truyền bệnh. Thời gian đó dài hay ngắn phụ thuộc vào
loại mầm bệnh, loại nhân tố trung gian truyền bệnh, điều kiện thời tiết khí
hậu. Mầm bệnh nếu không sinh sản phát triển ở đó và sau một thời gian nhất
định sẽ bị tiêu diệt. Có rất nhiều loại nhân tố trung gian truyền bệnh :
- Thức ăn nước uống: Là nhân tố phổ biến nhất vì đa số bệnh truyền lây
bằng đường tiờu hoá qua thức ăn nước uống. Thức ăn nước uống bị ô nhiễm
3
là do các chất bài tiết của con bệnh, do đất bị ô nhiễm, do dụng cụ chứa và
chế biến thức ăn, do các loại gia súc , gia cầm khác, do côn trùng vv….
- Đất: đóng vai trò quan trọng trong việc làm lây lan bệnh. Đất bị ô
nhiễm là do các chất bài tiết của con bệnh, do chẩt thải của cống rãnh, của các

truyền bệnh trong thời gian dài hay ngắn. Tuy nhiờn nú cũn chịu ảnh hưởng
của điều kiện ngoại cảnh như nhiệt độ thời tiết, ánh sáng, mưa, gió (Nguyễn
Vĩnh Phước -1978) [14]
2.1.4. Súc vật thụ cảm
Là khâu thứ ba không thể thiếu được của quá trình sinh dịch. Có nguồn
bệnh và nhân tố trung gian truyền bệnh thuận lợi mà cơ thể súc vật không
cảm thụ với bệnh thì dịch không thể phát sinh. Vì vậy làm tăng sức đề kháng
không đặc hiệu (nuôi dưỡng, chăm sóc, vệ sinh phòng bệnh ) và sức đề
kháng đặc hiệu (tiêm phòng) là những biện pháp chủ động tích cực nhằm xoá
bỏ khâu thứ ba của quỏ trình sinh dịch (Nguyễn Vĩnh Phước -1978) [14]
2.2. NHỮNG BỆNH PHỔ BIẾN GÂY VIÊM PHỔI LỢN
2.2.1. Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRSV)
2.2.1.1. Đặc điểm
Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (PRRS) là bệnh truyền nhiễm
cấp tính nguy hiểm đối với lợn, bệnh lây lan rất nhanh gõy viờm đường hô hấp
và rối loạn sinh sản do vi-rỳt Lelystad gây ra. Phát hiện đầu tiên ở Mỹ 1987,
bệnh do virus PRRSV, có 2 type chính: Mỹ, Châu Âu. Bệnh gây rối lọan sinh
sản ở lợn nái viờm phổi nặng, gây chết lợn con. Bệnh gây viêm phổi ở thể nhẹ
trên lợn thịt, lợn giống. Tổ chức dịch tể thế giới xếp loại : nhóm B
(Nguyễn Văn Thanh – 2007) [16]
2.2.1.2. Nguyên nhân
Đó là một loại virus thuộc họ Togaviridae, có cấu trúc ARN được gọi
là virus Lelystad gây ra hội chứng rối loạn sinh sản như: sẩy thai, chết lưu
thai, lợn con chết non sau khi đẻ và bị viêm phổi ở lợn con và lợn choai.
5
2.2.1.3. Cơ chế sinh bệnh
Virus xâm nhập vào cơ thể qua niêm mạc đường hô hấp, khi lợn hít thở
không khí có mầm bệnh. Sau khi xâm nhập vào cơ thể lợn, virus tác động đến
cơ quan sinh dục lợn cái gây ra hiện tượng viêm tử cung và âm đạo, làm giảm
tỷ lệ gây thụ thai, đặc biệt gây sẩy thai ở lợn cái chửa thời kỳ 2, chết lưu thai

rơi vào trạng thái tụt đường huyết do khụng bỳ được, mắt có dử màu nâu, trên
da có vết phồng rộp, hội chứng tiêu chảy nhiều, giảm số lợn con sống sót,
tăng nguy cơ mắc các bệnh về hô hấp, chõn choói ra đi run rẩy.
- Trên lợn cai sữa và lợn nuôi vỗ béo: Có thể thấy gia tăng xáo trộn hô
hấp và biến đổi màu da sau 5-7 ngày cảm nhiễm. Chán ăn, ho nhẹ, lông xơ
xỏc… Tuy nhiên, ở một số đàn có thể không có triệu chứng. Trong trường
hợp ghép với một số bệnh khác có thể thấy viêm phổi lan toả cấp tính, hình
thành nhiều ổ áp xe, thể trạng gầy yếu, da xanh, hội chứng tiêu chảy, ho nhẹ,
hắt hơi, chảy nước mắt, thở nhanh, tỷ lệ chết có thể tới 15%.
- Trên lợn đực giống: Bỏ ăn, sốt, dáng dấp lờ đờ hoặc hôn mê, giảm
hưng phấn hoặc mất tính dục, lượng tinh dịch ít, chất lượng tinh kém. Có thể
biểu hiện tái xanh ở lỗ tai.
2.2.1.5. Bệnh tích
Da có thể xuất huyết, thâm tím do chảy máu trong mô, phổi tụ huyết
hoặc xuất huyết điểm màu đỏ tím lan tràn khắp bề mặt. Ở phổi có các đốm
xuất huyết, ổ áp xe, và viêm phổi xuất huyết, viêm bao tim. Ở dạ dày, ruột:
niêm mạc sung huyết, một số trường hợp thấy phù và có khối u. Bên cạnh đó,
lợn chết khi mổ khám thấy nhồi huyết và chảy máu ở thanh quản và khí quản,
khí quản đầy chất nhày và bọt khí. Thận xuất huyết lấm chấm như đầu đinh
ghim. Hạch amidan ở hầu họng sưng, sung huyết.
2.2.1.6. Điều trị
Hiện nay, vẫn chưa có thuốc đặc trị để điều trị bệnh này. Có thể sử
dụng một số thuốc tăng cường sức đề kháng, điều trị triệu chứng và chủ yếu
ngăn ngừa nhiễm bệnh kế phát.
Nguyên tắc điều trị: trợ sức, trợ lực, điều trị triệu chứng chống nhiễm
trùng kế phát và kết hợp với chăm sóc nuôi dưỡng.
7
2.2.1.7. Phòng bệnh
Chủ động phòng bệnh bằng cách áp dụng các biện pháp an toàn sinh
học, chuồng trại phải thoáng mát về mùa hè, ấm vào mùa đông, tăng cường

dạng qua các bước nhuộm, có thể quan sát Mycoplasma bằng kính hiển vi tụ
quang nền đen, nhưng rất khó phát hiện vỡ nú có nhiều hình thái khác nhau
(Nguyễn Như Pho – 2003 [12]; Nguyễn Ngọc Nhiên – 2002 [10] )
2.2.2.3. cơ chế sinh bệnh
- M. hyopneumoniae gây viêm phổi ở lợn bằng các cơ chế tác động như
sau:
+ Xâm nhiễm vào đường hô hấp trên và vào phổi, nếu sức đề kháng của
lợn tốt tạo được thăng bằng
+ Tấn công vào hệ thống lông rung và gây hư hại cho hệ thống lông
rung của vỏch cỏc phế quản.
+ Làm suy yếu hệ thống phòng vệ của phổi, mở cửa cho các loại vi sinh
vật khỏc xõm nhập gây bệnh và gây ra bệnh viêm phổi.
2.2.2.4. Triệu chứng
Sau khi nhiễm M. hyopneumoniae từ 7 – 20 ngày thì triệu chứng đầu
tiên là ho, hắt hơi, thở khó. Ho và khó thở là triệu chứng điển hình và kéo dài.
Bệnh biểu hiện dưới 4 thể:
• Thể cấp tính:
Lợn ăn uống chậm chạp, da xanh hoặc nhợt nhạt, thân nhiệt bình
thường hoặc hơi cao một chút (39 – 39,5
0
C)
Lợn khó thở, thở nhanh và nhiều, thở khò khè, thở từ 60 – 150 lần/
phút, há hốc mồm để thở, thở như chó ngồi, thở dốc, bụng hóp lại để thở.
• Thể á cấp tính:
Thể này thường gặp ở lợn lai, lợn con theo mẹ, lợn mẹ. Triệu chứng
giống như thể cấp tính nhưng nhẹ hơn, ho và khó thở vẫn là triệu chứng điển
hình của lợn khi mắc bệnh ở thể này.
9
• Thể mạn tính:
Thường nối tiếp từ thể ẩn tính hay hai thể trên sang. Lợn thịt hay mắc

thay đổi tuỳ theo phương pháp sản xuất. Những vacxin tế bào chết đã được
đưa ra trên thị trường quốc tế khác nhau. Nói chung được dựng tiờm cho lợn
con, bằng tiêm bắp với liều 2ml/con lúc 7 – 21 ngày tuổi. Tuy nhiên việc tạo
miễn dịch cho lợn nái chửa cũng tạo độ bảo hộ tốt cho lợn con.
Hiện nay đã có nhiều cơ sở phòng bệnh suyễn bằng vacxin và loại
vacxin được sử dụng rộng rãi nhất là M
+
PAC.
- M
+
PAC (vacxin nước trong dầu)
Là loại vacxin vô hoạt chứa 15 loại protein của M. hyopneumoniae .
Đây là loại vacxin được sử dụng rộng rãi nhất ở Việt Nam.
- HYOREST (Vacxin vô hoạt có chứa chất bổ trợ)
Tạo được miễn dịch tích cực phũng cỏc bệnh viêm nhiễm ở phổi gây
ra do Mycoplasma hyopneumoniae.
(Việc tiêm phòng cần được thực hiện trước khi con vật lây nhiễm)
- PORCILIS M: Vacxin vô hoạt phòng bệnh suyễn lợn.
Đây là vacxin của hãng Intervet (Hà Lan) hiện nay đang được sử dụng
ở Việt Nam.
2.2.2.7. Trị bệnh
Trong các trại chăn nuôi lợn, rất khó chống lại M. hyopneumoniae nếu
đã bị nhiễm và thường tồn tại ở dạng mãn tính. Việc điều trị bằng kháng sinh
có thể được sử dụng dưới dạng điều trị liên tục, ngay từ khi xuất hiện các
triệu chứng lâm sàng hoặc dưới dạng điều trị từng đợt (pulse dosing). Các loại
kháng sinh điều trị mang lại hiệu quả cao trong việc khống chế và tiêu diệt
mầm bệnh như:
• Tylosin, Tiamulin: Đây là kháng sinh có tác dụng diệt Mycoplasma
và các vi khuẩn đường hô hấp khác.
• Sử dụng kết hợp các loại kháng sinh: Gentamycin + Tylosin,

C, tỷ lệ chết cao (5 -
40%). Trong trường hợp những con vật chết và hấp hối có thể thấy những vết
12
đổi màu tím ở tai, bụng, bẹn do hoạt động của tim bị rối loạn (Phạm Sỹ Lăng,
Phan Địch Lân, 1995) [6].
• Thể cấp tính
Ngoài sốt ra có nhiều triệu chứng khác chủ yếu ở phổi, lợn bị ho ngày
càng nặng, ấn mạnh vùng ngực lợn có phản ứng đau. Hiện tượng ứ máu phát
triển nên xuất hiện nhiều vệt tím đỏ trên da đặc biệt ở vùng hầu niêm mạc bị
tím tái, chảy nước mũi có lẫn máu, bao tim tích đầt nước. Thường lợn chết
sau 3 – 4 ngày do hiện tượng ngạt thở. Đôi khi bệnh kéo dài vài tuần, ít khi
lợn khỏi bệnh.
• Thể mạn tính
Đây là thể thường gặp, lợn sốt cao 40 - 41
0
C, khó thở, bỏ ăn, phõn tỏo,
ho khan hoặc ho liên miên, mũi khụ cú dịch mũi đặc, trên da nhất là những
chỗ da mỏng như tai, bụng, phía dưới đùi và bẹn xuất hiện những đám xuất
huyết đỏ.
2.2.3.5. Bệnh tích
• Thể quá cấp tính: Các niờm mạc và phủ tạng tụ máu, thấm tương
dịch. Hạch lâm ba sưng to, thủy thũng, thấm nước. Trên da có nốt đỏ hoặc tím
bầm. Phổi xuất huyết, thủy thũng, thấm tương dịch
• Thể cấp tính: con vật chết nhanh nên xác chết vẫn béo, thịt ướt tím
bầm. Tổ chức liên kết dưới da thấm dịch nhớt keo nhày dễ đông. Hạch lâm ba
sưng to, tụ máu, hầu viêm thấm tương dịch. Viêm phổi thùy, trong lũng khớ,
phế quản chứa nhiều dịch nhớt và bọt màu hồng. Xuất huyết lớp mỡ vành tim,
xuất huyết điểm trên da, phù nề dưới da vùng cổ, vùng ngực, Tích nước vàng
trong các xoang (x. ngực, x.bao tim); nước vàng đưa ra ngoài dễ đông. Các cơ
quan bộ phận khác chủ yếu là tụ máu.

thạch máu, dung huyết dạng β. Vi khuẩn được quan sát dưới kính hiển vi điện
tử có nhung mao với đường kính 0,5 – 2 nm, dài 60 – 450 nm.
2.2.4.3. Triệu chứng
14
Biểu hiện lâm sàng của bệnh phụ thuộc vào tuổi của gia súc, tình trạng
miễn dịch, điều kiện môi trường và mức độ lây nhiễm với tác nhân gây bệnh.
Biểu hiện lâm sàng có thể là quá cấp tính, cấp tính hoặc mạn tính.
• Quá cấp tính
Lợn bệnh sốt cao 41,5
0
C, đờ đẫn và không muốn ăn, nôn mửa và đi
ngoài, nằm trên nền chuồng, không có dấu hiệu thở rõ ràng, mạch đập tăng
lên rất sớm và trụy tim mạch. Da trên mũi, tai, chân và sau cùng là toàn bộ cơ
thể trở nên tím tái và chết. Thời gian ngắn trước khi chết thường có những
biểu hiện khó thở dữ dội, thở bằng mồm, gia súc vẫn ở tư thế ngồi nhiệt độ ở
hậu môn giảm nhanh. Ngay trước khi chết thường có chảy nhiều dịch bọt
nhuốm máu ở mồm và lỗ mũi. Tử vong xảy ra 24 – 36 giờ sau khi xuất hiện
các dấu hiệu lâm sàng. Ở lợn sơ sinh bệnh xảy ra như nhiễm trùng huyết với
hậu quả là tử vong.
• Thể cấp tính:
Lợn sốt cao 40,5 – 41
0
C, da đỏ, con vật buồn bã mệt không muốn dậy,
không muốn uống và bỏ ăn. Các dấu hiệu hô hấp nặng với thở khó, ho và đôi
khi là thở bằng mồm trở lên rõ. Thường xuất hiện trụy tim mạch, với xung
huyết các đầu chi. Toàn bộ cơ thể suy sụp trong vòng 24 giờ đầu.
• Thể bán cấp và mạn tính :
Lợn bệnh không sốt hoặc sốt ít, xuất hiện ho tự phát hoặc thỉnh thoảng,
với các cường độ khác nhau. Có thể súc vật kém ăn, giảm tăng trọng, có thể
xác định các gia súc bị ốm bằng các dấu hiệu các con vật này mệt mỏi.

Vi khuẩn khu trú ở các hốc của hạch amidan, sau đó xâm nhập vào hệ
tuần hoàn gây ra bệnh ở một số lợn. Chúng có thể sống và nhân lên trong đại
thực bào, vi khuẩn có thể xâm nhập vào dịch não tuỷ thông qua bạch cầu đơn
nhân di chuyển qua lưới mao mạch. Cơ chế xâm nhập của vi khuẩn theo cách
“nội cụng” cũng xảy ra ở một số vi rút gây bệnh ở hệ thần thần kinh trung ương.
16
2.2.5.4. Triệu chứng
Bệnh do liên cầu khuẩn gây ra ở lợn khó nhận biết, khó phân biệt với
các bệnh do nhóm cầu khuẩn gây nên, nhất là khi có hiện tượng kế phát, bội
nhiễm của một số bệnh khác. Lợn mắc bệnh thường có triệu chứng sốt cao
40-41,5
o
C, ủ rũ, biếng ăn, có biểu hiện thần kinh như run rẩy, đứng không
vững, liệt. Ngoài ra, cũn cú biểu hiện khác như viêm khớp, viêm khí quản,
viêm phổi và bị chết đột ngột. Lợn bệnh có thể bị chết rất nhanh trọng trường
hợp quá cấp mà không cú cỏc triệu chứng điển hình của bệnh. Bệnh cấp tính
với các biểu hiện sốt (có thể tới 42 độ C), bỏ ăn, giảm vận động. Các triệu
chứng muộn hơn như mất khả năng giữ thăng bằng, run, giảm thớnh giỏc và
thị giác, viêm khớp, què. Lợn sống sót có thể trở thành vật bệnh ở thể mãn
tính hoặc vật mang mầm bệnh. Thể mãn tính cú cỏc biểu hiện như viêm tai
giữa, què. Trên lợn có thể có các biểu hiện sau: da lợn có thể có các màng đỏ,
sần, các hạch lympho bị sưng, sung huyết, bao khớp dày lên, khớp bị sưng và
có dịch, màng não và não có thể bị tổn thương dạng phù nề, dịch não tuỷ đục,
phổi bị tổn thương với nhiều dạng khác nhau như đông đặc, có mủ, viêm phế
quản, viêm phổi.
2.2.5.5. Bệnh tích
Bệnh tích tuỳ thuộc vào nhóm vi khuẩn gây bệnh. Thể viêm đường hô
hấp: sưng hầu họng, viêm phế quản phổi có dịch mủ, phổi tụ huyết -xuất huyết,
viêm màng phổi hóa, viờm màng não: phù thũng, tụ máu ở não và màng não,
có nhiều dịch não tuỷ màu đục, viêm màng não có mủ, nhiễm trựng mỏu: thịt

và rửa sạch những nơi tiếp xúc sau khi giết mổ. Đối với vựng cú lợn bệnh cần
theo dõi, phát hiện sớm lợn bệnh, cách ly và điều trị kịp thời cho đến khi khỏi
hẳn bệnh mới cho nhập đàn. Cần nghiên cứu sản xuất vaccine phòng chống
bệnh liên cầu lợn
2.2.6. Bệnh cúm lợn con
2.2.6.1. Đặc điểm
Bệnh cúm lợn là một bệnh truyền nhiễm đường hô hấp gây ra do một
18
virus kết hợp vi khuẩn Hemophilus influenzae suis. Virus cỳm tớp A, ở Mỹ,
hai phú tớp của virus cúm (H1N1 và H3N2) là nguyên nhân chính gây bệnh.
Virus cúm là một trong những mầm bệnh phổ biến gây bệnh đường hô hấp
phức hợp ở lợn (PRDC). Bệnh nổ ra đột ngột và nhanh chóng lây lan trong
đàn là đặc điểm của cúm lợn. Virus có trong phổi, hạch phổi và các chất bài
tiết từ phổi. Ở lợn ốm và lợn khỏi bệnh bên ngoài (vật mang virus). Điều này
giải thích sự truyền bệnh từ thế hệ này sang thế hệ khác. (Nguyễn Đức Lưu,
Nguyễn Hữu Vũ – 2002) [7]
2.2.6.2. Nguyên nhân
Theo Vanman và Koebe (1933) bệnh cúm lợn con gây ra do một virus-
virus cúm lợn con kết hợp với vi khuẩn Hemophilus influenzae suis. Virus cúm
lợn con là một virus có hướng phổi đường kính độ 100-200nm (Bestt, 1952)
khụng gõy ngưng kết hồng cầu, đề kháng với sức lạnh. Hemophilus influenzae
suis là một vi khuẩn nhỏ, gram(-), không di động, thường đa hình thái.
2.2.6.3. Cơ chế sinh bệnh
Virus thích nghi chọn lọc với phổi và đặc biệt thích nghi với hệ thống
phế quản mà nó tác động từ đường hô hấp vào theo không khí và gây bệnh
tớch viờm cuống phổi-phổi (phế quản-phế viêm). Một số vi khuẩn khoẻ có
thể cùng tác động gây những biến chứng dưới thể ổ mủ hoặc ổ hoại tử làm
cho bệnh thêm trầm trọng như: Hemophilus influenzae suis, bacterium-
pyoseptiemn lúc đầu, và sau cùng có những vi khuẩn như streptococcus,
staphtlococcus, pasteurella suiseptica, samonella cholerae suis chủng

2.2.6.6. Điều trị
Không có thuốc điều trị đặc hiệu. Hầu hết lợn mắc bệnh tự khỏi, nên
việc cần thiết phải làm để hạn chế bệnh là chăn nuôi tốt, giữ lợn mắc bệnh
thoải mái và giảm stress. Có thể điều trị bằng kháng sinh với những con nặng
để giảm nguy cơ nhiễm trùng kế phát.
20
2.2.6.7. Phòng chống
Đối với bệnh cúm lợn do virut gây nên, hiện tại chưa có thuốc điều trị
đặc hiệu do vậy lấy biện pháp phòng bệnh là chủ yếu. Về nguyên tắc phòng
bệnh cúm lợn chủ yếu là vệ sinh phòng bệnh và nâng cao sức đề kháng.
Do vi rút cúm lợn thường lây nhiễm qua tiếp súc trực tiếp, nếu phát
hiện lợn bệnh cú cỏc triệu chứng như trên cần khẩn trương cách ly lợn ốm để
nhanh chóng hạn chế lây lan. Phun thuốc sát trùng toàn bộ khu vực có lợn ốm
và khu vực chuồng nuôi để ngăn chặn mầm bệnh. Một số loại thuốc sát trùng
nờn dựng là BKA, Han Iod, Vikol, Biocid Việc phun thuốc sát trùng tốt
nhất phun theo định kỳ để phòng bệnh cúm lợn cũng như một số bệnh truyền
nhiễm khác. Nâng cao sức đề kháng cho lợn bằng cách chăm sóc nuôi dưỡng
tốt, hàng ngày bổ sung thuốc bổ trợ, đồng thời tiêm phòng đầy đủ các loại vác
xin theo đúng quy trình để tránh hiện tượng khi lợn mắc bệnh cúm sẽ kế phỏt
cỏc bệnh truyền nhiễm khác.Vì bệnh lây do tiếp xúc trực tiếp giữa con khoẻ
với con bệnh nên phải tách riêng những con ốm. Tuy nhiên, một khi có bệnh
xảy ra trong đàn, khó có thể ngăn được bệnh lây lan.
2.3. NHỮNG NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC VỀ BỆNH
VIÊM PHỔI
2.3.1. Những nghiên cứu ngoài nước về bệnh viêm phổi lợn
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng môi trường không khí và khí hậu tác động
rất lớn tới hoạt động hô hấp của sinh vật như yếu tố nhiệt độ, ẩm độ, gió. Sự ô
nhiễm môi trường không khí đã ảnh hưởng không nhỏ tới tính chất và mức độ
bệnh phổi trên lợn (Khoo Teng Huat, 1995 [4]; Blowey R. W, 1999 [18]). Yếu tố
stress, nhất là ở những cơ sở chăn nuôi công nghiệp và ảnh hưởng của điều

phế quản bị bệnh.
Khi lợn mắc viêm phổi, đã xảy ra hiện tượng rối loạn trao đổi khí, do
vậy lượng O
2
mô bào giảm, lượng khí CO
2
trong mô bào tăng lên, gây cho mô
bào trở thành có màu xanh gọi là xanh tím (Archie Hunter, 2000) [1].
Theo tác giả Blowey R. W. (1999) [18], Huỳnh Văn Kháng (2006) [3]
việc phòng bệnh phải chú ý đến các yếu tố như: lợn phải được ấm, tránh gió lùa,
chỗ nằm phải khô ráo, hệ thống thoát nước tốt và tăng cường sự thông thoáng
của chuồng nuôi
Việc điều trị bằng kháng sinh trong viêm phổi nên chọn thuốc có
phạm vi và công hiệu rộng với mầm bệnh, khả năng khuyếch tán tốt vào mô
phổi khi bị viêm như các tetracyclin (oxytetracyclin, doxycillin), macrolid
(tylosin, tilmycosin) và fluoroquinon (enrofloxacin, flumequin) (Renaud
22
Maillard, 2002).
Trong điều kiện sinh lý bình thường, giữa cơ thể vật chủ và vi sinh vật
cũng như giữa các nhóm vi sinh vật khác với nhau trong tập đoàn của chúng
trong điều kiện cân bằng. Do một nguyên nhân bất lợi nào đó hỗ trợ sẽ làm
giảm sức đề kháng của cơ thể, trạng thái cân bằng bị phá vỡ. Một hoặc một số
vi sinh vật có điều kiện phát triển, tăng nhanh về số lượng, độc lực gây bệnh.
Hậu quả là cơ thể rơi vào tình trạng bệnh lý (Collier J.k and Rosson C.F,
1964[57]).
2.3.2. Những nghiên cứu trong nước về bệnh viêm phổi lợn
Cơ thể là một khối thống nhất, khi một cơ quan, bộ phận bị ảnh hưởng
sẽ kéo theo sự ảnh hưởng tới một số cơ quan bộ phận khác trong cơ thể. Theo
Hồ Văn Nam (1997) [9], bệnh viêm phổi là do kế phát từ cỳm, viờm màng
mũi thối loét, giun đũa, bệnh tim, ứ huyết ở phổi gây ra.

gia súc sốt cao (tăng hơn bình thường từ 1 - 2
0
C) và sốt lên xuống theo hình sin,
trong bệnh viêm phổi thuỳ đột nhiên gia súc sốt 41 - 42
0
C, sốt kéo dài liên miên
từ 6 - 9 ngày sau đó nhiệt độ hạ dần, còn trong viêm phổi hoại thư.
Trong bệnh phế quản phế viêm tần số hô hấp tăng cao (có khi tới 40 -
140 lần/phỳt). Cũn trong bệnh thuỳ phế viêm khó thở xuất hiện rõ rệt, có
những trường hợp ngồi thở như kiểu chó ngồi. Trong bệnh viêm phổi hoại thư
và hoá mủ gia súc có những triệu chứng như thở nhanh và khó thở thể bụng
(Hồ Văn Nam và CS, 1997) [9].
Khi kiểm tra bằng ống nghe ở vùng phổi có thể thấy những âm bệnh lí
khác nhau như âm ran ướt ở thời kỳ đầu, âm ran khụ, õm vũ túc ở thời kỳ cuối
của phế quản phế viêm hay âm bọt vỡ, âm thổi vò trong bệnh viêm phổi hoại
thư và hoá mủ. Ngoài ra trong bệnh viêm phổi thuỳ còn thấy âm phế nang mất
xen kẽ vựng õm phế nang tăng (Hồ Văn Nam và CS, 1997) [9].
Theo Hồ Văn Nam (1997) [8], lợn mắc viêm phổi niêm mạc mắt tím
bầm.
Do tổn thương ở phổi vì vậy gia súc thiếu dưỡng khí trong mỏu nờn ở
các niêm mạc mắt, miệng của vật bệnh đầu tiên đỏ sẫm, xung huyết, sau đó
tím tái (Phạm Sĩ Lăng và Phan Địch Lân, 2002) [5].
24
Bệnh tích của vùng viêm phổi thuỳ ở gia súc có thể đối xứng hoặc
không đối xứng giữa các thuỳ của phổi (Nguyễn Vĩnh Phước, 1986; trích dẫn
theo Đỗ Văn Được, 2003) [2].
Về mặt lâm sàng, bệnh viêm phế quản - phổi gia súc trong một số
trường hợp cũn cú đặc điểm không chỉ tổn thương đường hô hấp mà cũn cú
cỏc triệu chứng ỉa chảy xen lẫn táo bón. Khi xét nghiệm máu thấy bạch cầu
trung tính non tăng, bạch cầu ái toan và đơn nhân giảm (Hồ Văn Nam,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status