§¹i häc Quèc gia Hµ Néi
Khoa S- ph¹m NGUYỄN VĂN NINH MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG QUÁ TRÌNH GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CẨM LÝ
HUYỆN LỤC NAM - TỈNH BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành : QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số : 60 14 05
6. Giới hạn đề tài
4
7. Phương pháp nghiên cứu
4
8. Cấu trúc luận văn
4
Chương 1: Cơ sở lý luận của các giải pháp quản lý quá trình giáo
dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông
5
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
5
1.2. Các khái niệm công cụ
10
1.3. Quá trình giáo dục đạo đức trong trường THPT
16
1.4. Quản lý quá trình giáo dục đạo đức trong trường THPT
25
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý quá trình giáo dục đạo
đức ở trường THPT Cẩm Lý – Huyện Lục Nam hiện nay
35
2.1. Khái quát tình hình kinh tế xã hội và giáo dục của huyện Lục
Nam tỉnh Bắc Giang
35
2.2. Thực trạng công tác GDĐĐ học sinh của trường THPT Cẩm Lý
39
2.3. Đánh giá thực trạng quá trình giáo dục đạo đức và biện pháp
quản lý quá trình giáo dục đạo đức của nhà trường
dục đạo đức
85
Giải pháp 6: Quản lý tốt các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
89
Giải pháp 7: Nâng cao chất lượng giáo dục gia đình
93
Giải pháp 8: Quản lý các lực lượng xã hội tham gia giáo dục đạo
đức
trên địa bàn
95
3.3. Mối quan hệ hữu cơ giữa các giải pháp
97
3.4. Các điều kiện để đảm bảo tính khả thi của các giải pháp
98
3.5. Khảo nghiệm tính khả thi của các giải pháp
99
Kết luận và khuyến nghị
102
1. Kết luận
102
2. Khuyến nghị
104
Tài liệu tham khảo
106
Phụ lục
Giáo dục thường xuyên
GS. VS
Giáo sư - Viện sĩ
GVCN
Giáo viên chủ nhiệm
HĐND
Hội đồng nhân dân
PGS. TS
Phó Giáo sư - Tiến sĩ
PTCS
Phổ thông cơ sở
PTS
Phó tiến sĩ
TDTT
Thể dục thể thao
THCN
Trung học chuyên nghiệp
THCS
Trung học cơ sở
THPT
thành và phát triển nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng
yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[25]
Giáo dục đạo đức là một trong những yếu tố vô cùng quan trọng
trong việc hình thành và phát triển nhân cách cũng như tạo nên giá trị mỗi
con người nên được Đảng và Nhà nước ta quan tâm hàng đầu, được thể chế
hoá thành điều luật mang tính pháp lý cao. Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh
tụ thiên tài, người sáng lập và rèn luyện Đảng ta rất coi trọng giáo dục đạo
đức. Người cho rằng: “Đạo đức là cái gốc của người cách mạng” và coi
giá trị mỗi con người gồm hai mặt: Đức và Tài. Người chỉ rõ: “Có đức mà
không có tài thì làm việc gì cũng khó, có tài mà không có đức là người vô
dụng” và: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì
sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng
phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh
đạo được nhân dân"[1]
Từ năm 1986 khi Đảng ta thực hiện công cuộc đổi mới, nền kinh tế
nước ta vận hành theo cơ chế thị trường định hướng XHCN đã tạo nên sự
chuyển biến mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực, tác động đến mọi mặt của
đời sống xã hội, trong đó có giáo dục. Trước xu thế mở cửa, hội nhập quốc
tế ngày càng diễn ra mạnh mẽ, trở thành một quy luật và đòi hỏi tất yếu của
thời đại, một số giá trị và chuẩn mực đạo đức truyền thống gặp những thách 2
thức lớn trước sự xâm nhập của văn hoá nước ngoài, của lối sống Phương
Tây cũng như sự tác động tiêu cực của cơ chế thị trường.
Tầng lớp thanh, thiếu niên vốn rất nhạy cảm với cái mới, nhưng
kinh nghiệm cuộc sống còn hạn chế nên rất dễ bị cuốn vào vòng xoáy của
những cám dỗ về vật chất, dễ mắc các tệ nạn xã hội và sa vào vòng ảnh
hưởng của lối sống thực dụng, hưởng thụ vật chất, kích động bạo lực, tình
dục, muốn thoát ly sự kiểm soát của gia đình, nhà trường, xã hội, coi
“Một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng quá trình
giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Cẩm Lý - Huyện Lục Nam
- Tỉnh Bắc Giang”
2. Mục đích nghiên cứu
Xác định một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng quá
trình giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Cẩm Lý - Huyện Lục
Nam - Tỉnh Bắc Giang.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Lý luận và thực tiễn công tác quản lý quá trình giáo dục ở trường
THPT.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Các giải pháp quản lý quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh của
trường THPT Cẩm Lý - Huyện Lục Nam - Tỉnh Bắc Giang.
4. Giả thuyết khoa học
Quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THPT Cẩm Lý -
Huyện Lục Nam - Tỉnh Bắc Giang vẫn còn những hạn chế. Một trong
những nguyên nhân của hạn chế đó là công tác quản lý quá trình này trong
nhà trường còn những bất cập .
Nếu đề xuất được những giải pháp quản lý khoa học, khả thi sẽ góp
phần nâng cao chất lượng quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh của
trường THPT Cẩm Lý - Huyện Lục Nam - Tỉnh Bắc Giang. 4
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về quá trình giáo dục đạo đức
và quản lý quá trình giáo dục đạo đức học sinh trong trường THPT.
- Nghiên cứu thực trạng quá trình giáo dục đạo đức và quản lý quá
trình giáo dục đạo đức học sinh trong trường THPT Cẩm Lý - Huyện Lục
Chƣơng 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nền văn minh Phương Đông có ảnh hưởng không nhỏ đến văn hoá
Việt Nam. Vì thế, cha ông ta vốn rất coi trọng chữ “Đức” và coi đó là
một phẩm chất hàng đầu và không thể thiếu của mỗi con người, với triết
lý sống “tu nhân, tích đức” để tự răn mình, răn người. Đó chính là cội
nguồn của truyền thống nhân đạo, nhân ái, vị tha, thấm đượm tình
người, rất tốt đẹp của dân tộc ta, truyền thống đó còn tiếp nối tới ngày
nay và còn mãi mãi về sau.
Hiện nay chúng ta đang thực hiện công cuộc đổi mới, nền kinh tế
nước ta vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Bên
cạnh những truyền thống tốt đẹp của dân tộc cũng còn không ít những vấn
đề bức xúc về đạo đức cần phải giải quyết. Đó là tác động tiêu cực của mặt
trái cơ chế thị trường, của lối sống thực dụng chạy theo đồng tiền, sẵn sàng
chà đạp lên nhân phẩm của người khác, hoàn toàn xa lạ với truyền thống
văn hoá dân tộc. Đó còn là ảnh hưởng của văn hoá ngoại lai, hậu quả của
xu thế toàn cầu hoá mà đáng lo ngại là sự xuống cấp về đạo đức của tầng
lớp thanh, thiếu niên, đặc biệt là các em học sinh bậc THPT, lứa tuổi chuẩn
bị bước vào đời, chủ nhân tương lai của đất nước.
Trước thực tế đó, ở Việt Nam đã có một số tác giả nghiên cứu về vấn
đề đạo đức và giáo dục đạo đức cho học sinh nói chung cũng như cho học
sinh THPT nói riêng. 6
Trong tài liệu bồi dưỡng thường xuyên chu kỳ 1997 - 2000 cho giáo
viên THPT: “Đạo đức học” các tác giả Phạm Khắc Chương và Trần Văn
Chương đã phân tích quá trình phát triển tâm sinh lý của học sinh THPT,
“Những vấn đề cơ bản của giáo dục hiện đại” [29] trong phần đánh giá
về thực trạng đã tỏ ra rất lo lắng trước sự sa sút về đạo đức ngày càng gia
tăng cả về số lượng và mức độ nguy hại của một bộ phận học sinh.Tác giả
kết luận đạo đức học sinh đang trên đà giảm sút và cho rằng giáo dục đạo
đức là nhiệm vụ quan trọng của toàn xã hội. Công trình cũng đề cập đến
một số yêu cầu của gia đình trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh
cũng như phương hướng hoàn thiện giáo dục đạo đức trong nhà trường và
kiến nghị cần đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu về giáo dục đạo đức.
Trong tác phẩm: “ Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá” [14] của một nhóm tác giả do GS.VS Phạm
Minh Hạc làm chủ biên, trong chương VII nói về định hướng chiến lược
xây dựng đạo đức con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện
đại hoá cũng đã đánh giá thực trạng đạo đức học sinh, sinh viên hiện nay có
một khoảng cách khá xa mới tiếp cận được với mục tiêu giáo dục giá trị
đạo đức so với yêu cầu giáo dục của thời kỳ mới. Các tác giả tổng kết có 7
nguyên nhân dẫn đến thực trạng đạo đức học sinh như ở trên, đồng thời nêu
lên 3 mục tiêu giáo dục đạo đức, trên cơ sở đó đề ra 6 giải pháp giáo dục
đạo đức cho con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước.
Trong cuốn: “ Văn hoá với thanh niên - Thanh niên với văn hoá”
[3] do Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương biên soạn tập hợp các bài viết
của nhiều tác giả, trong đó tác giả Hà Nhật Thăng trong bài viết của mình
đã nêu lên thực trạng đạo đức, tư tưởng chíng trị, lối sống của thanh niên 8
học sinh, sinh viên hiện nay và đi đến nhận định: Trong học sinh, sinh viên
có sự phân hoá khá rõ rệt, tỉ lệ giữa các nhóm có đạo đức tốt, chậm tiến,
bình thường có sự chênh lệch khá lớn. Tuy nhiên các giá trị đạo đức, tư
tưởng chính trị, lối sống được đa số học sinh, sinh viên quan tâm vẫn là
mới và yêu cầu của xã hội, giáo dục có hệ thống, tiếp cận phức hợp và xuất
phát từ học sinh.
Điểm lại các công trình nghiên cứu trên đây, mặc dù còn có những
quan điểm chưa thống nhất nhưng tựu chung các tác giả đều khẳng định:
Đa số học sinh, sinh viên có phẩm chất đạo đức và lối sống tốt, ham hiểu
biết, ham học hỏi, tôn trọng đạo lý, vẫn giữ gìn được bản sắc và truyền
thống văn hoá của dân tộc, mặc dù nhận thức và hành động còn nhiều chỗ
chưa đạt những chuẩn mực đạo đức, luật pháp hiện nay. Đặc biệt đáng lo
ngại là một bộ phận thanh niên, học sinh sa sút về phẩm chất đạo đức, chạy
theo lối sống thực dụng, coi thường luân thường đạo lý, phai nhạt lý tưởng
XHCN, vi phạm pháp luật và sa vào các tệ nạn xã hội, có các hành vi xa lạ
với các chuẩn mực đạo đức và truyền thống văn hoá của dân tộc, có chiều
hướng diễn biến phức tạp và ngày càng gia tăng.
Các công trình nghiên cứu về giáo dục đạo đức cho học sinh khá nhiều
nhưng chưa cụ thể và không phù hợp với hoàn cảnh thực tế của từng nhà
trường ở các địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội rất khác nhau. Hơn nữa,
trong bối cảnh hiện nay, khi chúng ta đang thực hiện công cuộc đổi mới, mở
cửa hội nhập quốc tế ngày càng rộng rãi trên tất cả các lĩnh vực của đời sống
xã hội và sự tác động của hoàn cảnh kinh tế - xã hội lên đời sống tâm lý của
con người, nhất là lớp trẻ ngày càng tăng, từ đó công tác giáo dục đạo đức cho
thanh, thiếu niên càng trở nên cấp thiết. Trong thời gian tới đây khi chúng ta
gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO thì nhu cầu nguồn nhân lực đáp 10
ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước đặt ra vô cùng gay gắt, khi
mà cạnh tranh quốc tế ngày càng trở nên quyết liệt. Nguồn nhân lực mới đòi
hỏi vừa có trình độ Khoa học - Công nghệ và tay nghề cao, vừa phải có đạo
đức trong sáng, kiên định lý tưởng XHCN, yêu nước, có lòng nhân đạo cao
cả, ân nghĩa, biết yêu thương con người, Tóm lại nguồn nhân lực mới phải
hợp với lợi ích chung của cộng đồng, của xã hội”.
Dưới góc độ triết học thì: “Đạo đức là một trong những hình thái
sớm nhất của ý thức xã hội, bao gồm những nguyên lý, quy tắc, chuẩn mực,
điều tiết hành vi của con người trong quan hệ với người khác và với cộng
đồng. Căn cứ vào những quy tắc ấy, người ta ta đánh giá hành vi, phẩm
giá của của mỗi người bằng các quan niệm về thiện ác, chính nghĩa và phi
nghĩa, nghĩa vụ và danh dự ”(Hữu Ngọc - Từ điển Triết học giản yếu -
NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp - Hà Nội,1987)
Dưới góc độ đạo đức học: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội
đặc biệt, bao gồm một hệ thống các quan điểm, quan niệm, những quy tắc,
nguyên tắc, chuẩn mực xã hội” [20]
Dưới góc độ giáo dục học thì: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã
hội, là hệ thống các quan điểm về cái thiện, cái ác trong các mối quan hệ
của con người với con người” (Phạm Viết Vượng - Giáo dục học Đại
cương - NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 1996)
Theo GS.VS Phạm Minh Hạc thì: “Đạo đức, theo nghĩa hẹp, là luân
lý, những quy định, những chuẩn mực ứng xử trong quan hệ của con người.
Nhưng trong điều kiện hiện nay, chính quan hệ của con người cũng đã mở
rộng và đạo đức bao gồm những quy định, những chuẩn mực ứng xử của
con người với con người, với công việc và với bản thân, kể cả với thiên
nhiên và môi trường sống” 12
“Theo nghĩa rộng thì khái niệm đạo đức liên quan chặt chẽ với phạm
trù chính trị, pháp luật, lối sống. Đạo đức là thành phần cơ bản của nhân
cách, phản ánh bộ mặt nhân cách của một cá nhân đã được xã hội hoá.
Đạo đức được biểu hiện ở cuộc sống tinh thần lành mạnh, trong sáng; ở
hành động góp phần giải quyết hợp lý, có hiệu quả những mâu thuẫn. Khi
thừa nhận đạo đức là một hình thái ý thức xã hội thì đạo đức của mỗi cá
xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong
quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin
cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội”.
1.2.2. Quá trình giáo dục đạo đức
Dù ở thời đại nào, dưới chế độ nào thì việc giáo dục đạo đức cho thế
hệ trẻ cũng được toàn xã hội quan tâm đặc biệt.
Bản chất của giáo dục đạo đức là quá trình biến những hệ thống các
chuẩn mực đạo đức, từ những yêu cầu, đòi hỏi bên ngoài của của xã hội về
hành vi đối với mỗi cá nhân thành những nhu cầu , đòi hỏi từ bên trong
của cá nhân trong các mối quan hệ, ứng xử hằng ngày đối với cộng đồng xã
hội, từ đó biến thành niềm tin, thói quen, nhu cầu của người được giáo dục.
Giáo dục đạo đức được thực hiện ở các môi trường khác nhau.
Trường học được xác định là môi trường, là lực lượng quan trọng trong
việc tổ chức giáo dục đạo đức. Trong nhà trường , giáo dục đạo đức được
tổ chức, được điều khiển một cách khoa học nên nó tồn tại với tư cách là
một quá trình.
Với tư cách là một quá trình, tác giả luận văn quan niệm quá trình
giáo dục đạo đức như sau:
Quá trình giáo dục đạo đức là quá trình tác động tới người học để
hình thành cho họ ý thức, tình cảm và niềm tin hành vi, đích cuối cùng
quan trọng nhất là tạo lập cho được những thói quen hành vi đạo đức. 14
Giáo dục đạo đức có quan hệ chặt chẽ với giáo dục chính trị tư
tưởng, giáo dục pháp luật, khoa học và tôn giáo.
Thực vậy, hành vi của mỗi con người trong cuộc sống hằng ngày
không chỉ được điều chỉnh bằng các chuẩn mực đạo đức, mà còn bằng chế
độ chính sách, bằng pháp luật và bằng hiểu biết về khoa học, về đức tin
trong tôn giáo.
phạm pháp luật nhưng vẫn có thể bị lên án về mặt đạo đức.
1.2.3. Chất lượng quá trình giáo dục đạo đức
Chất lượng nói chung và chất lượng giáo dục nói riêng là những khái
niệm có thể được nhìn nhận từ nhiều từ nhiều góc độ khác nhau. Khái niệm
chất lượng phản ánh thuộc tính đặc trưng, giá trị, bản chất của sự vật tạo
nên sự khác biệt (về chất) giữa sự vật này và sự vật khác.
Trong lĩnh vực giáo dục, chất lượng giáo dục với đặc trưng sản phẩm
là con người lao động, là kết quả đầu ra của quá trình đào tạo và được thể
hiện cụ thể ở các phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay
năng lực hành nghề của người tốt nghiệp.
Như vậy, chất lượng giáo dục chính là mức độ mà sản phẩm giáo dục
của nhà trường đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Quá trình giáo dục đạo đức góp phần tạo nên những nhân cách
theo yêu cầu của xã hội. Sản phẩm của quá trình giáo dục đạo đức
chính là những nhân cách có hành vi, thói quen đạo đức phù hợp với
yêu cầu của xã hội.
Theo đó, chất lượng quá trình giáo dục đạo đức là sự thoả mãn nhu
cầu xã hội về mặt phẩm chất đạo đức, nhân cách, năng lực, hành vi ứng xử
của học sinh - sản phẩm giáo dục đào tạo của nhà trường.
Như vậy chất lượng quá trình giáo dục đạo đức phải được biểu hiện qua
các hành vi ứng xử của học sinh trong quan hệ với xã hội, môi trường sống và 16
làm việc. Hành vi ứng xử đó phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội, phù
hợp với yêu cầu phẩm chất của người lao động mới. Hay nói cách khác là nhà
trường phải giúp học sinh hoàn thiện nhân cách - sức lao động phù hợp yêu
cầu của xã hội, của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
1.2.4. Giải pháp quản lý
Quản lý là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý lên khách thể
nhiều nỗ lực cá nhân, nhằm giải quyết các mâu thuẫn giữa năng lực bản
thân với yêu cầu của xã hội, để có thể tự lập trong bối cảnh phát triển kinh
tế - xã hội, nhất là trong điều kiện hội nhập ngày nay.
Bối cảnh kinh tế xã hội chi phối nguyện vọng của học sinh và tác
động lớn đến họ cũng như gia đình họ. Học sinh THPT hôm nay chính là
lực lượng lao động cơ bản trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa
của đất nước ta, đặc biệt là các yêu cầu phát triển của nền kinh tế tri thức,
giao lưu văn hóa, hội nhập quốc tế và khu vực,…trên nhiều lĩnh vực xã hội.
Thực tế trong những năm qua, hầu hết các bậc cha mẹ học sinh có nhận
thức đúng về yêu cầu nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại
hóa của đất nước. Từ đó họ đã định hướng cho con em mình tích cực chuẩn bị
năng lực làm việc để bước vào đời, họ đã có những lo lắng thực sự và không ít
gia đình đã tìm mọi cách để đầu tư cho việc học hành của con cái họ, nhằm tạo
điều kiện để bản thân các em có năng lực và phẩm chất thích ứng với các yêu
cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội. Chính các đặc điểm về bậc học, về độ
tuổi, về gia đình, về yêu cầu nguồn nhân lực của xã hội đã tạo ra sự phân hóa
nguyện vọng của học sinh THPT theo hai xu hướng chính:
- Một là: đa số các em có nguyện vọng tiếp tục học lên ở bậc học cao hơn.
- Hai là: chấp nhận hòa nhập vào thị trường lao động của xã hội và
đón chờ cơ hội tiếp tục học thêm ( vì phần đông học sinh không thể tiếp tục
học lên ngay sau khi học xong THPT do năng lực của bản thân, điều kiện 18
kinh tế của gia đình họ và đặc biệt là họ không vượt qua được kỳ thi tuyển
sinh vào Đại học và Cao đẳng tổ chức hàng năm).
Trường THPT là cái nôi đào tạo nguồn nhân lực lao động phổ thông
cho nhiều ngành kinh tế. Những người lao động này phải có kiến thức phổ
thông nhất định thì mới đáp ứng được yêu cầu lao động, hơn nữa trong
“Chiến lựơc phát triển giáo dục 2001-2010” đã chỉ rõ: “…Đảm bảo cho
các chức năng của não phát triển. Tuổi thanh niên bắt đầu thời kỳ phát triển
tương đối êm ả về mặt sinh lý, đa số các em đã vượt qua thời kỳ phát dục.
Nhìn chung đây là lứa tuổi các em có cơ thể phát triển cân đối, khoẻ
mạnh và đẹp.
- Điều kiện xã hội của sự phát triển: Tuổi thanh niên vốn rất hiếu
động, ham hiểu biết, ham các hoạt động tập thể, hoạt động xã hôi. Do mới
bước vào ngưỡng cửa của người lớn nên các em rất muốn thể hiện vai trò
của người lớn, muốn hoạt động và thể hiện trách nhiệm của mình, mong
muốn được tự khẳng định mình. Trong gia đình, vai trò của các em cũng
tăng dần, được tham gia vào một số công việc của người lớn, không bị cha
mẹ coi là trẻ con nữa.
Ở trường , các em đủ tuổi gia nhập Đoàn thanh niên. Đến 18 tuổi các
em bắt đầu thực hiện quyền công dân của mình. Tuy nhiên ở những năm
học THPT, các em còn chưa hẳn được coi là người lớn, còn phụ thuộc vào
người lớn, bị người lớn chi phối các hoạt động chính của mình, chưa được
hoạt động độc lập theo ý mình. Cả ở trong và ngoài xã hội, thái độ của nười
lớn thường có tính hai mặt: Một mặt coi các em đã là người lớn, đòi hỏi các
em có tính trách nhiệm, độc lập, tự quyết, Mặt khác lại không hoàn toàn
tin tưởng, đòi hỏi các em tuân thủ sự chỉ đạo, điều khiển của người lớn, 20
của cha mẹ, Điều đó tạo nên những nét tâm lý độc đáo của tuổi thanh
niên.
- Đặc điểm hoạt động học tập: Nội dung, tính chất học tập của thanh
niên có sự khác biệt nhiều so với lứa tuổi thiếu niên vì việc học tập ở lứa tuổi
này đã đòi hỏi mức độ độc lập, tự giác cao hơn nhiều. Hơn nữa học sinh càng
trưởng thành thì kinh nghiệm sống càng phong phú nên các em đã tự ý thức
được trách nhiệm của mình trước nhiệm vụ học tập. Động cơ học tập của học
sinh cũng trở nên thực dụng hơn do các em bắt đầu có ý thức trong việc lựa
sử cách mạng của Đảng ta, đạo đức và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Giáo dục đạo đức phải gắn liền với giáo dục pháp luật, chính trị tư
tưởng, những tri thức về vốn sống qua các hoạt động: Giao tiếp ứng xử,
học tập, lao động, hoạt động xã hội,
- Hình thành ở mọi công dân thái độ đúng đắn, tình cảm, niềm tin
đạo đức trong sáng đối với bản thân, mọi người, với sự nghiệp cách mạng
của Đảng, dân tộc và với mọi hiện tượng xảy ra xung quanh.
Đây là nhiệm vụ rất quan trọng vì chỉ khi có thái độ đúng đắn, có
tình cảm trong sáng, có niềm tin đạo đức đối với bản thân và xã hội thì mới
tạo ra động lực từ bên trong điều chỉnh nhận thức và hành vi của mỗi cá
nhân phù hợp chuẳn mực đạo đức chung của xã hội. Đặc biệt cần hình
thành niềm tin vào Đảng, vào sự nghiệp đổi mới, vào sự thành công của
công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đây là nhân tố quan
trọng góp phần hình thành lý tưởng sống của mỗi cá nhân.
- Rèn luyện để mọi người tự giác thực hiện những chuẩn mực đạo
đức xã hội, có thói quen chấp hành quy định của pháp luật, nỗ lực học tập
rèn luyện, tích cực cống hiến sức lực, trí tuệ vào sự nghiệp công nghiệp hoá