TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=====o0o=====
TRẦN THỊ HUYỀN TRANG
GIÁO DỤC TRÁCH NHIỆM CÔNG DÂN
TRONG DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC”
MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 10 Ở TRƢỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG BẾN TRE,
TỈNH VĨNH PHÚC HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học môn Giáo dục công dân
ở trƣờng Trung học phổ thông
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
ThS. Nguyễn Quang Thuận
HÀ NỘI, 2016
1
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình triển khai đề tài khóa luận, em đã nhận đƣợc sự giúp đỡ
tận tình của thầy cô và bạn bè. Với tình cảm chân thành, em xin bày tỏ lòng
biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Chính trị, trƣờng Đại
học Sƣ phạm Hà Nội 2 đã giảng dạy chỉ bảo em trong suốt quá trình học tập
và nghiên cứu.
Em xin đƣợc gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới thầy giáo ThS. Nguyễn Quang Thuận, ngƣời đã định hƣớng cho em nghiên cứu đề tài,
- GDCD:
Giáo dục công dân
- THPT:
Trung học phổ thông
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chƣơng 1 .......................................................................................................... 7
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC TRÁCH NHIỆM CÔNG DÂN
TRONG DẠY HỌC HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC” MÔN
GDCD LỚP 10 ................................................................................................. 7
1.1. Trách nhiệm công dân ............................................................................ 7
1.2. Giáo dục trách nhiệm công dân ............................................................ 10
1.3. Nội dung và ý nghĩa giáo dục trách nhiệm công dân trong phần “Công
dân với đạo đức” môn GDCD lớp 10 .......................................................... 15
Chƣơng 2 ........................................................................................................ 27
THỰC TRẠNG CỦA VIỆC GIÁO DỤC TRÁCH NHIỆM CÔNG DÂN
TRONG DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC” MÔN GDCD
LỚP 10 Ở TRƢỜNG THPT BẾN TRE, TỈNH VĨNH PHÚC HIỆN NAY ... 27
2.1. Một số nét khái quát về trƣờng THPT Bến Tre, tỉnh Vĩnh Phúc .......... 27
2.2. Thực trạng giáo dục trách nhiệm công dân trong dạy học học phần
“Công dân với đạo đức” môn GDCD lớp 10 trƣờng THPT Bến Tre, tỉnh
Vĩnh Phúc .................................................................................................... 29
2.3. Nguyên nhân của thực trạng giáo dục trách nhiệm công dân trong dạy
học phần “Công dân với đạo đức” môn GDCD lớp 10 trƣờng THPT Bến
khẳng định: “chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lƣợng, hiệu quả giáo dục,
đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và
nhu cầu học tập của nhân dân. Giáo dục con ngƣời Việt Nam phát triển toàn
diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu
gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả”.
Cũng nhƣ các môn học khác, Giáo dục công dân là môn khoa học xã hội,
nó cũng góp phần quan trọng vào đào tạo những ngƣời lao động mới vừa có
tri thức khoa học, vừa có đạo đức, năng lực hoạt động thực tiễn, phẩm chất
chính trị tƣ tƣởng, có ý thức trách nhiệm cộng đồng, gia đình, bản thân.
Sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt lên hàng đầu nhiệm vụ của
cách mạng xã hội chủ nghĩa là đào tạo con ngƣời. Bởi lẽ, mục tiêu cao nhất,
1
động lực quết định nhất sự thành công của xã hội chủ nghĩa chính là con
ngƣời. Ngƣời cũng khẳng định, muốn thức tỉnh một dân tộc, trƣớc hết phải
thức tỉnh thanh niên. Ngƣời ví tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội, của dân tộc.
Năm 1946, trong thƣ gửi học sinh, Hồ Chí Minh viết: “Một năm khởi đầu từ
mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”. Câu
nói trên thể hiện vai trò quan trọng của tuổi trẻ đối với sự phát triển của xã
hội. Sự chăm lo tốt, đào tạo thế hệ trẻ trở thành những ngƣời thừa kế xây
dựng xã hội chủ nghĩa vừa “hồng” vừa “chuyên”. Là sự đảm bảo cho tƣơng
lai phát triển bền vững và tƣơi sáng của xã hội.
Học sinh THPT là thế hệ công dân - chủ nhân của đất nƣớc thế kỉ
XXI. Để họ thực hiện tốt vai trò này, trƣớc hết họ phải nhận thức đƣợc trách
nhiệm công dân của mình, từ đó tự giác thực hiện trách nhiệm công dân đó.
Từ khi nƣớc ta chuyển sang nền kinh tế thị trƣờng và hội nhập quốc tế,
việc giữ gìn và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống cũng nhƣ việc xây
dựng hệ giá trị đạo đức mới ở nƣớc ta đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cần phải
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Trách nhiệm công dân đã đƣợc quan tâm và đƣợc nhiều bài viết bàn
về nhƣ:
- Tác giả Phạm Thị Ngọc Trầm trong Tạp chí Triết học - Số 4, (2006)
bàn về vấn đề: Nhà nƣớc pháp quyền, xã hội dân sự với vấn đề quyền và
nghĩa vụ công dân có viết: “Để phát huy tác động tích cực, thuận chiều phát
triển của Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa đối với việc xây dựng xã hội
dân sự, chúng ta cần chủ động tiến hành nhiệm vụ giáo dục cho ngƣời dân
hiểu, nắm vững và tự giác thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân của mình
trong việc xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền và xã hội dân sự, thông qua quá
trình công khai hóa và dân chủ hóa đời sống xã hội”.
- Tác giả Lê Văn Quang trong Tạp chí Triết học - Số 4, (2009) cũng đã
bàn đến vấn đề: “Phát triển toàn diện chất lƣợng con ngƣời để nâng cao trách
nhiệm cá nhân trong điều kiện kinh tế thị trƣờng”.
3
- Tác giả Trần Thị Tuyết trong Tạp chí Triết học - Số 4, (2009) bàn về
vấn đề “Trách nhiệm xã hội của cá nhân và yêu cầu nâng cao trách nhiệm này
trong điều kiện kinh tế thị trƣờng ở Việt Nam hiện nay” có viết: “trách nhiệm
xã hội với tƣ cách phƣơng thức điều chỉnh, định hƣớng ý thức của con ngƣời
trong các mội quan hệ giữa cá nhân, với các cá nhân khác, với cộng đồng
đang là một yếu tố quan trọng không thể thiếu đối với hành vi của con ngƣời
nhằm tạo nên sự phát triển bền vững cho toàn xã hội”
Hay nhƣ bàn về “Trách nhiệm xã hội và vai trò của nó trong cơ chế thị
trƣờng ở nƣớc ta” của tác giả Vũ Tuấn Huy, Tạp chí Triết học - Số 5, 2009.
Tác giả Võ Văn Giảng, Tạp chí Giáo dục - Số 14, 2001 bàn về vấn đề: “Để
nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị tƣ tƣởng cho sinh viên”. Vấn đề
“Phát huy giáo dục của nhà trƣờng vào đời sống cộng đồng” - Một biện pháp
4.1. Mục đích nghiên cứu
Tác giả đƣa ra cơ sở lý luận của việc giáo dục trách nhiệm công dân. Từ
đó tìm hiểu thực trạng và nêu ra một số kiến nghị nhằm nâng cao trách nhiệm
công dân trong dạy học phần “Công dân với đạo đức” môn GDCD lớp 10 ở
trƣờng THPT.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt đƣợc mục đích của đề tài cần thực hiện 3 nhiệm vụ sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về giáo dục trách nhiệm công
dân cho học sinh THPT trong dạy học phần “công dân với đạo đức” môn
GDCD lớp 10.
- Trình bày thực trạng giáo dục trách nhiệm công dân trong dạy học phần
“công dân với đạo đức” môn GDCD lớp 10 ở trƣờng THPT Bến Tre, tỉnh
Vĩnh Phúc hiện nay.
- Đƣa ra một số kiên nghị nhằm nâng cao việc giáo dục trách nhiệm công
dân trong dạy học phần “công dân với đạo đức” môn GDCD lớp 10 ở trƣờng
5
THPT Bến Tre, tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phƣơng pháp luận biện chứng duy vật, khoá luận còn sử dụng
các phƣơng pháp: phƣơng pháp phân tích - tổng hợp, phƣơng pháp lôgíc - lịch
sử, phƣơng pháp nghiên cứu lý thuyết, phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn …
6. Đóng góp mới của tác giả
Đề tài hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về trách nhiệm công dân và
tầm quan trọng của việc giáo dục trách nhiệm công dân cho học sinh trung
học phổ thông.
Đề tài đƣa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao việc giáo dục trách nhiệm
công dân trong dạy học phần “công dân với đạo đức” môn GDCD lớp 10 ở
Nếu trách nhiệm pháp lý là sự bắt buộc, là những nhu cầu mà mỗi cá
nhân, trong hoạt động của mình, phải tuân thủ theo những chuẩn mực, những
quy đinh, nguyên tắc của pháp luật thì trách nhiệm đạo đức lại chứa đựng tình
cảm, trách nhiệm của mỗi cá nhân trƣớc ngƣời khác , trƣớc cộng đồng và xã
hội. Thực hiện trách nhiệm đạo đức là sự tự giác, không bị ràng buộc bởi
7
động cơ cá nhân mang tính vụ lợi.
Trong xã hội có phân công lao động, trách nhiệm là nghĩa vụ đạo đức tự
mỗi ngƣời đảm nhận hoặc áp đặt lên ngƣời khác. Có hai dạng trách nhiệm: do
chiếm một địa vị xã hội không có dự lựa chọn, nhƣ trách nhiệm làm con,
trách nhiệm làm thanh niên, trách nhiệm của ngƣời già...Ví dụ, trong nguyên
tắc của nho giáo, “hiếu” là trách nhiệm của con cái đối với cha mẹ - “Cho tròn
chữ hiếu mới là đạo con”. Hoặc do có những điều kiện, khả năng nào đó trách
nhiệm giúp đỡ những ngƣời nghèo rơi vào hoàn cảnh bất lợi trong tình cộng
đồng - “Lá lành đùm lá rách, lá rách ít đùm lá rách nhiều”.
Công dân là ngƣời dân của một nƣớc có chủ quyền, có đủ tƣ cách để
hƣởng quyền lợi, nghĩa vụ của ngƣời dân nhƣ hiến pháp quy định. Trách
nhiệm công dân là phải hiểu đƣợc bổn phận của cá nhân cũng nhƣ cộng đồng
xã hội đối với những quyết định và hành động nhằm là tăng cƣờng nghĩa vụ
và quyền lợi đối với mỗi thành viên trong xã hội. Đồng thời hiểu đƣợc trách
nhiệm đạo đức của mỗi cá nhân trong việc giải quyết vấn đề chung, đƣơc thể
hiện thông qua các yếu tố nhƣ sự tôn trọng trong luật pháp, trách nhiệm với
môi trƣờng sống, trách nhiệm trong mối quan hệ giữa các thành viên trong
cộng đồng... Tuy mang ý nghĩa là bổn phận nhƣng về bản chất, trách nhiệm
công dân là một sự tự nguyện đứng trên trách nhiệm luật pháp với ý nghĩa
điều chỉnh các hành vi của cá nhân trƣớc và trong khi hoạt động, chứ không
phải là tiêu chí đánh giá cá nhân sau khi hoàn tất hoạt động của mình. Vì vậy,
Trách nhiệm công dân có tác dụng quan trọng trong hình thành nhân
cách con ngƣời. Trách nhiệm công dân là sự thống nhất của quá trình nhận
thức và hành động thực tiễn một cách có đạo đức của mỗi cá nhân, là quá
trình rèn luyện phấn đấu của mỗi chủ thể để vƣợt qua những cám dỗ vật chất
nhỏ nhen, ích kỷ và những toan tính tầm thƣờng, dƣới tác động của những
nhân tố cơ bản, nhƣ kinh tế, chính trị, văn hóa, đạo đức...Mỗi thời đại kinh tế
- xã hội với sự phát triển của kinh tế, sự thay đổi của chế độ chính trị , sự mở
rộng của kinh tế dân chủ và những yêu cầu về văn hóa, đạo đức luôn có
9
những đòi hỏi tƣơng ứng về trách nhiệm công dân đối với mỗi với tƣ cách
thành viên của cộng đồng xã hội.
Qua từng giai đoạn lịch sử nhất định, trách nhiệm công dân biến đổi theo
sự phát triển của xã hội loài ngƣời và tùy từng cộng đồng, dân tộc, từng quốc
gia nhất định mà có những biểu hiện, những hình thức thể hiện khác nhau.
Đây không chỉ là sự đòi hỏi, yêu cầu của cộng đồng của xã hội đối với mỗi
ngƣời, mỗi tập thể (trách nhiệm pháp lý) mà còn là nhu cầu của sự tiến bộ,
của sự hoàn thiện của mỗi bản thân mỗi ngƣời (trách nhiệm đạo đức).
1.2. Giáo dục trách nhiệm công dân
Khái niệm
Giáo dục (hiểu theo nghĩa rộng) là lĩnh vực hoạt động của xã hội nhằm
truyền đạt những kinh nghiệm lịch sử - xã hội chuẩn bị cho thế hệ trẻ trở
thành lực lƣợng tiếp nối sự phát triển xã hội, kế thừa và phát triển nền văn hóa
của loài ngƣời và dân tộc.
Giáo dục (hiểu theo nghĩa hẹp) là giáo dục nhà trƣờng, là sự tác động có
tổ chức, có kế hoạch nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng, hình thành thái độ,
hành vi của học sinh, xây dựng và phát triển hoàn thiện nhân cách theo mục
tiêu giáo dục xã hội đề ra.
Giáo dục trách nhiệm cho học sinh THPT là giáo dục cho học sinh về
trách nhiệm với bản thân; trách nhiệm với gia đình; trách nhiệm với cộng
đồng; trách nhiệm với Tổ quốc; trách nhiệm với nhân loại.
Mục tiêu của giáo dục Việt Nam đã chuyển từ mục tiêu cung cấp kiến
thức là chủ yếu sang hình thành và phát triển những năng lực cần thiết ở
ngƣời học để đáp ứng sự phát triển và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất ƣớc. Mục tiêu giáo dục của Việt Nam thể hiện mục tiêu giáo dục của
thế kỉ XXI: Học để biết, học để làm, học để tự khẳng định và học để cùng
chung sống (Delor, 1996).
Mục đích quan trọng nhất của giáo dục trách nhiệm công dân chính là
11
giúp ngƣời học thay đổi hành vi theo hƣớng tích cực, thúc đẩy ngƣời học thay
đổi hay định hƣớng lại các giá trị, thái độ và hành động của mình. Thay đổi
hành vi, thái độ và giá trị ở từng con ngƣời là một quá trình khó khăn, không
đồng thời. Có thời điểm ngƣời học quay trở lại những thái độ, hành vi hoặc
giá trị trƣớc. Do đó, các nhà giáo dục cần kiên trì chờ đợi và tổ chức các hoạt
động liên tục để ngƣời đƣợc giáo dục duy trì hành vi mới và có thói quen mới,
tạo động lực cho ngƣời học đƣợc giáo dục, điều chỉnh hoặc thay đổi giá trị,
thái độ và hành vi trƣớc đây, thích nghi hoặc chấp nhận các giá trị, thái dộ
hành vi mới.
Giáo dục trách nhiệm công dân cần phải thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc và
thực hiện càng sớm càng tốt đối với trẻ em. Môi trƣờng giáo dục đƣợc tổ chức
tạo cơ hội cho ngƣời học áp dụng kiến thức và kỹ năng vào các tình huống
“thực” trong cuộc sống.
Giáo dục trách nhiệm công dân chính là giúp mỗi cá nhân hƣớng đến sự
thật thà, trung thực, sống có đạo đức biết yêu thƣơng con ngƣời; đến với lý
tƣởng cao đẹp, văn minh nhằm hạn chế tối đa mặt tiêu cực của xã hội. Để có
quyền và nghĩa vụ công dân của mình đối với nhà nƣớc và đối với xã hội.
Ý nghĩa
Giáo dục trách nhiệm công dân đòi hỏi không chỉ dừng lại ở việc truyền
thụ khái niệm, tri thức về trách nhiệm công dân, mà quan trọng hơn là kết quả
giáo dục phải đƣợc biến thành tình cảm niềm tin, thói quen và cách ứng xử
thực tế hàng ngày của HS, điều đó mới thực sự có giá trị.
Thông qua hoạt động thực tiễn và quá trình tham gia vào các hoạt động
xã hội, mỗi cá nhân dần dần lĩnh hội đƣợc những yêu cầu, chuẩn mực dạo đức
của xã hội, biến những yêu cầu chuẩn mực ấy thành những hiểu biết của riêng
mình, từ đó hình thành nhận thức đạo đức của mỗi cá nhân.
Khi những yêu cầu, chuẩn mực đạo đức đã đƣợc lĩnh hội trở nên phù hợp
với những nhu cầu trách nhiệm của cá nhân và cộng đồng, nhận thức về trách
nhiệm hành vi có đạo đức sẽ dần đƣợc hình thành. Khi nhận thức và hành
13
động có trách nhiệm trở thành những thói quen tự nhiên trong hoạt động của
mỗi cá nhân sẽ dẫn đến trách nhiệm đạo đức.
Có trách nhiệm đạo đức con ngƣời sẽ tự giác hành động, làm theo lẽ
phải, biết lựa chọn đúng sai, nhận thức đƣợc cái nên làm, phải làm vì sự phát
triển chung của cả cộng đồng. Khi thực hiện trách nhiệm đạo đức hoàn thành
cho ngƣời khác và nhất là cho chính bản thân mình. Đồng thời khi thực hiện
trách nhiệm đạo đức một cách tự nguyện, tự giác, con ngƣời sẽ luôn thấy
đƣợc thanh thản trong tâm hồn, cảm thấy đƣợc hạnh phúc. Chính điều này
càng thôi thúc con ngƣời hành dộng tốt hơn, hƣớng đến điều thiện hơn và
mong muốn đem lại hạnh phúc cho ngƣời khác, cho cộng đồng nhiều hơn.
Với tƣ cách thành viên trong xã hội, mỗi công dân phải nhận thức, thấu
hiểu và tuân thủ nghiêm ngặt những yêu cầu, quy định, quy tắc, điều luật của
xã hội nhằm đảm báo sự phát triển bền vững cho xã hội. Việc ý thức một cách
nhiệm. Năng lực này biểu hiện ở ý thức về hậu quả của hành động, hành vi, ở
ý chí vƣợt khó hoàn thành nghĩa vụ, ngăn chặn đƣợc tác động tiêu cực của
hành động đối với lợi ích xã hội.
1.3. Nội dung và ý nghĩa giáo dục trách nhiệm công dân trong phần
“Công dân với đạo đức” môn GDCD lớp 10
1.3.1. Nội dung
Giáo dục trách nhiệm công dân cho học sinh trung học phổ thông, với
bản chất là hình thành và phát triển cho học sinh khả năng làm chủ bản thân,
khả năng ứng xử phù hợp với những ngƣời khác và với xã hội, khả năng ứng
phó tích cực trƣớc các tình huống của cuộc sống. Giáo dục trách nhiệm công
dân cho học sinh trung học phổ thông hoàn toàn phù hợp với mục tiêu giáo
dục phổ thông, nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục phổ thông, đáp ứng yêu cầu
đổi mới giáo dục phổ thông.
Trong học phần “Công dân với đạo đức” lớp 10, trên cơ sở nội dung kiến
thức của học phần (quan niệm về đạo đức và một số phạm trù cơ bản của đạo
15
đức học; có giá trị đạo đức), giáo dục trách nhiệm công dân cho học sinh
THPT gồm các nội dung cơ bản sau:
- Giáo dục trách nhiệm với bản thân: phải biết tự nhận thức bản thân trên
cơ sở đối chiếu với các yêu cầu đạo đức xã hội ; phải biết đặt mục tiêu phấn
đấu, rèn luyện, tự hoàn thiện bản thân theo các giá trị đạo đức, xã hội và có
quyết tâm vƣợt qua khó khăn để thực hiện mục tiêu đã đề ra. Từ đó, biết coi
trọng việc tu dƣỡng và tự hoàn thiện bản thân. Biết tự trọng, tự tin vào khả
năng phát triển của bản thân, đồng thời biết tôn trọng, thừa nhận và học hỏi
những điểm tốt của ngƣời khác.
Bài 10: “Quan niệm về đạo đức” giáo dục cho học sinh hiểu về quan
niệm đạo đức. Đạo đức là hệ thống các quy tắc chuẩn mực xã hội mà nhờ đó
hiểu biết cơ bản về tình yêu, tình yêu chân chính, hôn nhân và gia đình, các
đặc trƣng tốt đẹp, tiến bộ của chế độ hôn nhân, gia đình, nƣớc ta và các chức
năng của gia đình. Giúp các em biết tự nhận xét, đánh giá về một số quan
niệm về tình yêu, hôn nhân và gia đình. Đồng thời xác định đƣợc trách nhiệm
của bản thân trong gia đình nhƣ: là con cái các em có bổn phận yêu quý, kính
trọng, biết ơn, hiếu thảo với cha mẹ, biết lắng nghe những lời khuyên bảo
đúng đắn của cha mẹ, giữ gìn danh dự và truyền thống tốt đẹp của gia đình;
đối với cha mẹ già con cái phải có trách nhiệm nuôi dƣỡng, chăm sóc chu
đáo, không đƣợc có hành vi ngƣợc đãi. Với anh chị em thì phải luôn có quan
hệ gắn bó, có trách nhiệm yêu thƣơng, tôn trọng, đùm bọc, bảo ban, chăm sóc,
giúp đỡ nhau trong cuộc sống.
- Giáo dục trách nhiệm với cộng đồng: biết sống nhân nghĩa, hòa nhập,
hợp tác với mọi ngƣời xung quanh. Yêu quý, gắn bó với lớp, với trƣờng, với
cộng đồng nơi ở.
Bài 13: “Công dân với cộng đồng” giúp học sinh hiểu thế nào là trách
nhiệm đối với cộng đồng. Biết sống nhân nghĩa, hòa nhập, hợp tác với những
ngƣời xung quanh, yêu quý, găn bó với trƣờng với cộng đồng nơi mình đang
sinh sống. Cộng đồng là toàn thể những ngƣời cùng sống, có những điểm
17
giống nhau, gắn bó thành một khối trong sinh hoạt xã hội. Muốn duy trì cuộc
sống của mình, con ngƣời phải tham gia lao động và liên hệ với những ngƣời
khác, với cộng đồng. Mỗi ngƣời là một thành viên, một tế bào của cộng đồng.
Cá nhân có trách nhiệm thực hiện những nhiệm vụ mà cộng đồng giao phó,
tuân thủ những quy định, những nguyên tắc của cộng đồng :
Quan tâm, chia sẻ, nhƣờng nhịn với những ngƣời xung quanh, trƣớc hết
là những ngƣời thân trong gia đình, thầy cô giáo, bạn bè, làng xóm.
Cảm thông và sẵn sàng giúp đỡ mọi ngƣời khi gặp khó khăn, hoạn nạn;
Quan tâm đến đời sống chính trị, xã hội của địa phƣơng, của đất nƣớc.
Thực hiện tốt các chủ trƣơng, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nƣớc.
Tích cực tham gia góp phần xây dựng quê hƣơng bằng những việc làm
thiết thực, phù hợp với khả năng. Biết phê phán, đấu tranh với những hành vi
đi ngƣợc lại lợi ích quốc gia, dân tộc…
Trung thành với Tổ quốc, với chế độ xã hội chủ nghĩa. Cảnh giác trƣớc
mọi âm mƣu, chia rẽ, xuyên tạc của các thế lực thù địch
Tham gia đăng kí nghĩa vụ quân sự khi đến tuổi, sẵn sàng lên đƣờng
làm nghĩa vụ bảo vệ Tổ Quốc, …
Hiện nay, tình hình Biển Đông có những diễn biến phức tạp, nhiệm vụ
bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc đang đặt ra yêu cầu cấp
thiết đối với cả hệ thống chính trị, các ngành, các lực lƣợng, trong đó có thanh
niên, học sinh. Mỗi công dân VN phải biết bảo vệ chủ quyền biển, đảo và
lãnh thổ quốc gia trên cơ sở hiểu biết về luật pháp trong nƣớc và quốc tế trên
tinh thần hòa bình, không đe dọa vũ lực hay sử dụng vũ lực. Bảo vệ chủ
quyền biển, đảo và lãnh thổ đất nƣớc là trách nhiệm chung của công dân VN,
trong đó có hoc sinh. Dù còn ngồi ghế nhà trƣờng, nhƣng mỗi học sinh nên có
ý thức và trách nhiệm, trƣớc hết là hiểu rõ và thông suốt chủ trƣơng, quan
điểm của Đảng giải quyết vấn đề về biển, đảo và am hiểu luật pháp quốc tế.
Khi đã tƣờng tận, mỗi bạn trẻ cần tuyên truyền đến những ngƣời xung quanh
để có chung nhận thức. Mỗi công dân nếu hiểu biết và ứng xử cho đúng thì
quyền lợi quốc gia sẽ đƣợc đảm bảo, bảo vệ.
19
Là những học sinh các em cần thƣờng xuyên giáo dục nâng cao nhận
thức về vai trò, trách nhiệm đối với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo
bằng những hình thức khác nhau nhƣ: tìm hiểu trên báo hay các kênh truyền
thông, tìm các cuốn sách có liên quan, tham gia các cuộc hội thảo thanh niên,