TRƯờNG ĐạI HọC KINH Tế QUốC DÂN
Vũ THị THU
QUảN Lý CủA Sở CÔNG THƯƠNG Hà NộI
ĐốI VớI BáN HàNG BìNH ổN GIá
Chuyên ngành: QUản trị KINH DOANH THƯƠNG MạI
Ngời hớng dẫn khoa học:
GS.TS. HOàNG ĐứC THÂN
Hà Nội - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không
trùng lặp với các đề tài khác
Tác giả
Vũ Thị Thu
LỜI CÁM ƠN
Để hoàn thành bản luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các
cơ quan, các cấp lãnh đạo và cá nhân. Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn và kính trọng tới
tất cả tập thể và cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và
nghiên cứu.
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo – GS.TS. Hoàng
Đức Thân người đã hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG .....................................82
QUẢN LÝ CỦA SỞ CÔNG THƯƠNG HÀ NỘI ĐỐI VỚI ..............................82
BÁN HÀNG BÌNH ỔN GIÁ.................................................................................82
KẾT LUẬN..........................................................................................................108
TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................................110
1.Bình ổn giá – Góc nhìn lý luận và thực tiễn chính sách ở thành phố Hồ Chí
Minh, Tạp chí Kinh tế và Phát triển tập 177 số 3, 52-56, 2012........................110
6.Góp phần bình ổn thị trường, ổn định kinh tế vĩ mô, Tạp chí tài chính, 2014
..............................................................................................................................110
19.Tạp chí kinh tế năm Giáp Ngọ VTV1 3/2/2014............................................111
DANH MỤC BẢNG, HÌNH
BẢNG
Bảng 1.1
Bảng 1.2
Bảng 2.1
Bảng 2.2
Bảng 2.3
Bảng 2.4
Bảng 2.5
Bảng 2.6
Bảng 2.7
Bảng 2.8
Bảng 2.9
Bảng 2.10
Bảng 2.11
bình ổn giá......................................Error: Reference source not found
Tổng hợp kết quả kiểm tra, giám sát của Sở công thương Hà Nội
........................................................Error: Reference source not found
Tổng kêt các hình thức vi phạm....Error: Reference source not found
Kết quả xử lý vi phạm bán hàng bình ổn. Error: Reference source not
found
Giá bán hàng bình ổn tại thời điểm tháng 12/2013 và tháng 12/2014
...........................................................Error: Reference source not found
HÌNH
LỜI CAM ĐOAN....................................................................................................2
LỜI CAM ĐOAN....................................................................................................2
MỞ ĐẦU..................................................................................................................1
MỞ ĐẦU..................................................................................................................1
3.Một số bài báo, tạp chí trên các báo như Báo vov.vn có bài “Hà Nội cho vay
519,5 tỷ đồng dự trữ hàng bình ổn giá”, báo laodong.com.vn có bài “Hà
Nội:Đảm bảo đủ hàng tại 41 điểm bán hàng bình ổn giá” cho ta những thông
tin cập nhật nhất về bán hàng bình ổn giá trên thị trường Hà Nội. Tác giả Thu
Thùy có bài báo “Bình ổn giá cả dịp Tết- bao giờ ra khỏi lối mòn?” cho thấy
cách tổ chức thực hiện còn nhiều hạn chế của chương trình bình ổn giá............3
CHƯƠNG 1.............................................................................................................6
CHƯƠNG 1.............................................................................................................6
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ...................................6
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ...................................6
ĐỊA PHƯƠNG ĐỐI VỚI BÁN HÀNG BÌNH ỔN GIÁ ......................................6
ĐỊA PHƯƠNG ĐỐI VỚI BÁN HÀNG BÌNH ỔN GIÁ ......................................6
CHƯƠNG 2...........................................................................................................33
CHƯƠNG 2...........................................................................................................33
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
Chữ viết tắt
BOG
BOTT
CP
CT
DN
HĐND
KCX-KCN
QLNN
SĐT
TNHH
TP
TPHCM
TTTM
TTVN
UBND
XTTM
Nghĩa tiếng Việt
Chỉ số giá tiêu dùng
Hiệp định thương mại tự do
3.
TPP
4.
WTO
Trans-Pacific Strategic
Economic Partnership
Agreement
Worrld Trade Organnization
Hiệp định đối tác chiến lược kinh
tế xuyên Thái Bình Dương
Tổ chức thương mại thế giới
TRƯờNG ĐạI HọC KINH Tế QUốC DÂN
Vũ THị THU
QUảN Lý CủA Sở CÔNG THƯƠNG Hà NộI
ĐốI VớI BáN HàNG BìNH ổN GIá
nhất là với địa bàn Hà Nội-trái tim của cả nước. Vậy làm thế nào để sở công thương
thành phố Hà Nội phát huy vai trò quản lý của mình nhằm hạn chế những tồn tại ở
trên? Để những chương trình này phát huy được tác dụng lớn nhất? Để nhân dân thủ
đô hưởng được nhiều lợi ích nhất? Luận văn “Quản lý của Sở Công Thương Hà Nội
đối với bán hàng bình ổn giá” sẽ đưa ra những nhận định và giải pháp kiến nghị
cho những vấn đề trên
ii
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
a. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, phân tích đánh giá thực trạng, luận văn đề
xuất kiến nghị, giải pháp tăng cường quản lý của sở công thương thành phố Hà Nội
đối với bán hàng bình ổn giá.
b. Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở mục tiêu chung, luận văn có những mục tiêu cụ thể sau:
- Hệ thống hoá lý luận về quản lý nhà nước đối với bán hàng bình ổn giá.
- Nghiên cứu kinh nghiệm một số địa phương về quản lý của sở công thương
đối với bán hàng bình ổn giá.
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý của sở công thương Hà Nội đối với
bán hàng bình ổn giá .
- Đề xuất kiến nghị, giải pháp tăng cường sự quản lý của sở công thương Hà
Nội đối với bán hàng bình ổn giá.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn công tác
bán hàng bình ổn giá trên địa bàn Hà Nội với sự quản lý của Sở công thương Hà Nội;
- Tài liệu và số liệu sử dụng để nghiên cứu sử dụng chủ yếu trong giai đoạn
từ 2010 đến 2014.
4.Bố cục luận văn
nhằm bảo đảm cân đối cung cầu, tránh thiếu hàng gây sốt giá, nhất là trong những
dịp cao điểm như lễ, Tết…, qua đó góp phần bình ổn giá cả thị trường, kiềm chế
lạm phát và bảo đảm an sinh xã hộiTheo đó, Nhà nước (UBND cấp tỉnh) ứng vốn
ngân sách tạm thời nhàn rỗi hoặc sử dụng ngân sách hỗ trợ lãi suất vay vốn ngân
hàng cho các doanh nghiệp được lựa chọn tham gia Chương trình. Các doanh
nghiệp tham gia Chương trình có trách nhiệm tổ chức sản xuất kinh doanh, dự trữ
lượng hàng hoá (thuộc danh mục mặt hàng bình ổn giá của Chương trình), bảo đảm
số lượng, chất lượng, giá cả và các điều kiện khác của Chương trình; đăng ký giá và
cam kết bán hàng bình ổn giá với giá thấp hơn giá thị trường từ 5-10% hoặc 15%
Chương trình bán hàng bình ổn giá được thực hiện khá thành công ở Thành
phố Hồ Chí Minh đã mang lại những bài học ý nghĩa cho các địa phương khác trong
iv
cả nước. Trong đó, có thể kể đến như Sở công thương giữ vai trò kết nối các doanh
nghiệp tham gia bình ổn tiếp cận được nguồn vốn ưu đãi từ các ngân hàng thay vì
phải ứng vốn từ ngân sách. Cần đặc biệt chú ý đến nguồn hàng bình ổn. Chú trọng
tạo ra và phát triển các mô hình liên kết trực tiếp giữa nhà sản xuất và nhà phân
phối, góp phần nâng cao quan hệ hợp tác phát triển kinh tế giữa TP và các địa
phương; giúp các DN an tâm đầu tư con giống, công nghệ và trang thiết bị hiện đại
cho quá trình sản xuất, chăn nuôi; tạo điều kiện cho các DN chủ động phối hợp, liên
kết với các DN tỉnh bạn để có thêm nguồn hàng thực hiện bình ổn.
Chương 2: Thực trạng quản lý của Sở Công Thương Hà Nội đối với bán
hàng bình ổn giá
Chương 2 trình bày những kết quả của chương trình bán hàng bình ổn giá;
phân tích thực trạng quản lý của Sở Công Thương Hà Nội đối với BHBOG; những
thành tựu cũng như hạn chế trong quản lý BHBOG, từ đó chỉ ra nguyên nhân của
hạn chế này.
Nhìn tổng thể, chương trình bình ổn giá đã góp phần tích cực vào việc giữ ổn
vùng sâu vùng xa nên ít có điều kiện tiếp cận Chương trình.
Nguyên nhân của những hạn chế trên là do cả nguyên nhân khách quan
và nguyên nhân chủ quan. Đó là do sự phức tạp của thị trường Hà Nội, do ý
thức tham gia của các DN, do diễn biến bất ngờ của cung cầu thị trường, do
nguồn tài chính hạn hẹp.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp tăng cường quản lý của Sở Công
Thương Hà Nội đối với BHBOG
Chuong 3 đã trình bày những nội dung chủ yếu: Quan điểm, phương hướng
phát triển bán hàng bình ổn giá trên thị trường Hà Nội; giải pháp tăng cường quản
lý của sở công thương Hà Nội đối với bán hàng bình ổn giá; các kiến nghị với cơ
quan liên quan.
Tập trung BOTT từ gốc của sản xuất, hỗ trợ vốn cho người sản xuất, cho vận
chuyển. Đẩy mạnh tổ chức kết nối cung cầu, ổn định thị trường giữa các doanh
nghiệp (DN) sản xuất với phân phối. Hoàn thiện quy hoạch phát triển hệ thống phân
phối, hệ thống chuyên doanh theo ngành hàng, kinh doanh tổng hợp, phát triển theo
địa bàn thành thị, nông thôn; kết hợp các phương thức kinh doanh: Trung tâm thương
vi
mại hiện đại có quy mô lớn, các siêu thị, cửa hàng tiện lợi, các loại chợ đầu mối, chợ
bán buôn, bán lẻ...) Phát triển bán hàng bình ổn giá của Hà Nội với sự tham gia tích
cực nhiều thành phần kinh tế, theo hướng Nhà nước tạo ra môi trường cho mọi thành
phần kinh tế đều được tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh và bình đẳng trước pháp
luật Khuyến khích việc xã hội hóa Chương trình thông qua các chính sách ưu đãi về
thuế, mặt bằng, hỗ trợ thông tin tuyên truyền đối với các đơn vị tham gia Chương
trình không nhận vốn vay từ ngân sách hoặc tạo điều kiện để các doanh nghiệp được
vay với lãi suất ưu đãi từ ngân hàng thương mại trên địa bàn. Tiếp tục hoàn thiện nội
dung quản lý của Nhà nước đối với bán hàng bình ổn giá
Các giải pháp tăng cường quản lý của sở công thương Hà Nội đối với bán
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bán hàng bình ổn giá là một chương trình được chính phủ Việt Nam thực
hiện từ năm 2002. Đây là một chương trình cần thiết và rất có ý nghĩa đối với đời
sống nhân dân trong nước khi mà Việt Nam là một đất nước mà thu nhập bình quân
của người dân vừa mới ra khỏi khu vực các nước kém phát triển, bước vào nhóm
nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình (thấp) từ năm 2010 với mức thu
nhập bình quân đầu người là 1.068 USD. Kể từ khi chương trình bình ổn giá đầu
tiên được thực hiện, đến nay các địa phương của nước ta đã có hơn 10 năm triển
khai bình ổn giá những dịp trước, trong và sau Tết. Chương trình bình ổn giá những
năm qua đã góp phần ổn định thị trường, kiềm chế mức tăng chỉ số giá tiêu dùng
(CPI), không xảy ra tình trạng thiếu hàng, thúc đẩy sản xuất, lưu thông hàng hóa,
kích cầu tiêu dùng và đảm bảo an sinh xã hội.
Hà Nội cùng với thành phố Hồ Chí Minh là một trong hai thành phố đi đầu
trong cả nước về bán hàng bình ổn giá. Thủ đô thực hiện chương trình bán hàng
bình ổn giá từ năm 2007, chủ yếu triển khai vào các tháng cuối năm và dịp Tết
Nguyên đán, đến năm 2010 chương trình được thực hiện trong 10 tháng với mục
đích đảm bảo nguồn hàng thiết yếu đầy đủ, chất lượng tốt, giá cả ổn định để phục
vụ tiêu dùng, đời sống nhân dân. Chương trình bình ổn giá của thành phố đã có tác
dụng rõ ràng khi mà người dân được mua những mặt hàng thiết yếu với giá cả ổn
định trong thời buổi bão giá, góp phần ổn định tâm lý nhân dân thủ đô.
Để có được thành tựu đó, không thể không kể đến sự quản lý của Sở công
thương thành phố với bán hàng bình ổn giá trên địa bàn Hà Nội. Tuy nhiên, bên
cạnh những kết quả như vậy, sự quản lý của sở công thương thành phố Hà Nội
vẫn còn những điểm hạn chế như công tác tuyên truyền chưa thường xuyên nên
chưa thu hút được nhiều DN tham gia; một số DN có hệ thống phân phối lớn
chưa tích cực tham gia chương trình nên nguồn cung hàng bình ổn bị ảnh hưởng
khi có tình hình biến động lớn về giá; việc tiếp cận, việc mua sắm hàng bình ổn
bàn Hà Nội đến năm 2020, Luận văn tiến sĩ kinh tế, Tác giả Nguyễn Mạnh Hoàng.
3
Thương mại Hà Nội góp phần đắc lực vào cải thiện chất lượng cuộc sống của người
dân Hà Nội cũng như đã đạt được những thành tựu đáng kể, đóng góp không nhỏ
vào tăng trưởng GDP của Thành phố nói riêng và của cả nước nói chung. Để ngày
càng phát triển thương mại Hà Nội nhất là khi Việt Nam đã trở thành thành viên
chính thức của WTO, thì vai trò quản lý nhà nước về thương mại trên địa bàn thủ
đô càng quan trọng và có những duy trì và đổi mới phù hợp bắt kịp thời đại hơn.
Tác giả đã đưa ra được những giải pháp để giải quyết vấn đề này.
3. Một số bài báo, tạp chí trên các báo như Báo vov.vn có bài “Hà Nội cho
vay 519,5 tỷ đồng dự trữ hàng bình ổn giá”, báo laodong.com.vn có bài “Hà
Nội:Đảm bảo đủ hàng tại 41 điểm bán hàng bình ổn giá” cho ta những thông tin
cập nhật nhất về bán hàng bình ổn giá trên thị trường Hà Nội. Tác giả Thu Thùy có
bài báo “Bình ổn giá cả dịp Tết- bao giờ ra khỏi lối mòn?” cho thấy cách tổ chức
thực hiện còn nhiều hạn chế của chương trình bình ổn giá.
Các tác phẩm trên đã nghiên cứu về bán hàng bình ổn giá, phân tích thực
trạng bán hàng bình ổn, đúc kết kinh nghiệm thực hiện chương trình.Từ đó, đưa ra
hệ thống các giải pháp cơ bản để giúp các địa phương khác thực hiện tốt hơn. Tuy
nhiên, những tài liệu này đều chưa đi phân tích vào hoạt động bán hàng bình ổn cụ
thể tại địa bàn Hà Nội, cũng như chưa làm rõ vai trò quản lý của sở công thương đối
với hoạt động này. Hiện nay cũng chưa có tài liệu nào nghiên cứu đầy đủ về công
tác bán hàng bình ổn giá. Chính vì vậy, trong giới hạn của luận văn này, tác giả sẽ
nghiên cứu, phân tích, luận giải các vấn đề cơ bản liên quan đến hoạt động bán hàng
bình ổn giá và từ đó đề xuất các giải pháp tăng cường quản lý của sở công thương
để phát huy tác dụng của hoạt động này.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
tế nhất. Bên cạnh đó tác giả tham khảo thêm các thông tin trên các báo, tạp chí, các
báo cáo tổng kết chương trình bình ổn thị trường. Các số liệu thu thập được đưa vào
máy tính rồi xử lý bằng phần mềm excel để tính toán các chỉ tiêu cần thiết.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp dữ liệu: Các số liệu thu thập được đã
được phân tích, tổng hợp từ đó đánh giá, nhận xét các kết quả đạt được. Trên cơ sở
đó tìm ra hướng giải quyết các vấn đề mà đề tài quan tâm.
5
- Phương pháp mô hình hóa: sử dụng các bảng và hình minh hoạ nhằm tăng
thêm tính trực quan và thuyết phục trong quá trình nhận xét, đánh giá.
6. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn được chia thành 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề chung về quản lý nhà nước địa phương đối với
bán hàng bình ổn giá
Chương 2: Thực trạng quản lý của sở công thương Hà Nội đối với bán
hàng bình ổn giá.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp tăng cường sự quản lý của sở công
thương Hà Nội đối với bán hàng bình ổn giá.
6
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỊA PHƯƠNG ĐỐI VỚI BÁN HÀNG BÌNH ỔN GIÁ
1.1. Quản lý nhà nước với bình ổn giá cả thị trường
1.1.1. Cơ chế hình thành giá cả thị trường và tính tự phát của giá cả thị trường
chung để so sánh rìu với thóc, để trao đổi giữa chúng với nhau.
Sở dĩ phải trao đổi theo một tỷ lệ nhất định, 1 rìu đổi lấy 20 kg thóc, vì
người ta cho rằng lao động hao phí để sản xuất ra một cái rìu bằng lao động hao
phí sản xuất ra 20 kg thóc. Khi chủ rìu và chủ thóc đồng ý trao đổi với nhau thì họ
cho rằng lao động của họ để sản xuất ra rìu bằng giá trị của 20 kg thóc.
Từ sự phân tích trên rút ra kết luận là giá trị là lao động xã hội của người
sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hóa. Sản phẩm mà không chứa đựng lao
động của con người thì không có giá trị. Không khí chẳng hạn, rất cần thiết cho
con người, nhưng không có lao động con người kết tinh trong đó nên không có giá
trị. Nhiều hàng hoá lúc đầu đắt, nhưng sau nhờ có tiến bộ kỹ thuật làm giảm số lượng
lao động hao phí để sản xuất ra chúng thì lại trở nên rẻ hơn. Việc hàng hoá trở nên rẻ
hơn phản ánh sự giảm giá trị hàng hoá, giảm bớt số lượng lao động xã hội hao phí để
sản xuất hàng hoá. Như vậy có nghĩa là khi giá trị thay đổi thì giá trị trao đổi cũng
thay đổi. Giá trị trao đổi chính là hình thức biểu hiện của giá trị.
Giá trị là một phạm trù lịch sử, nó gắn liền với nền kinh tế hàng hoá.
Chừng nào còn sản xuất và trao đổi hàng hoá thì còn tồn tại phạm trù giá trị. Giá
trị là lao động xã hội của người sản xuất kết tinh trong hàng hoá, là quan hệ sản
xuất giữa những người sản xuất hàng hoá. Giá trị sử dụng và giá trị là hai thuộc
tính của hàng hoá. Hàng hoá được thể hiện như là sự thống nhất chặt chẽ nhưng
lại mâu thuẫn giữa hai thuộc tính này.
Khi cung một sản phẩm khác cầu sản phẩm (chẳng hạn cung lớn hơn cầu)
thì giá cả bị lệch khỏi giá trị tức là giá cả không còn phù hợp với giá trị nữa.
Trong trường hợp này, nếu thừa nhận rằng giá trị là quy luật của giá cả thì phải
mở rộng cách hiểu phạm trù giá trị để cho giá cả, nhìn chung, vẫn tuân theo giá trị
ngay cả trong trường hợp cung lớn hơn hay nhỏ hơn cầu. Như vậy, có thể nói
giá trị kinh tế chính là giá trị được mở rộng.
Thước đo của giá trị kinh tế chính là thước đo của giá trị, tức là đo bằng
thời gian lao động xã hội cần thiết chế tạo ra sản phẩm, nhưng khác ở cách hiểu
về “tính cầnthiết” và “tính xã hội” của lao động.
Vì vậy, người mua luôn muốn ép giá thị trường với mức thấp. Ngược lại, người
bán bao giờ cũng muốn tối đa hoá lợi nhuận, và do đó muốn bán với mức giá
9
cao. Để tồn tại và phát triển, những người bán, một mặt phải phấn đấu giảm
chi phí; mặt khác, lại phải tranh thủ tối đa những điều kiện của thị trường để
bán với mức giá cao hơn. Họ cố gắng dùng mọi thủ đoạn và biện pháp để bán
được hàng với giá cao nhất, nhằm tối đa hoá lợi nhuận. Như vậy xét trên phương
diện này, quy luật giá trị tác động tới người bán theo hướng thúc đẩy họ nâng
giá thị trường lên cao. Tuy nhiên, đó chỉ là xu hướng
Thứ hai, Quy luật cạnh tranh là quy luật của nền kinh tế thị trường. Cạnh
tranh là hoạt động phổ biến trên thị trường. Do có mâu thuẫn về lợi ích kinh tế,
những người bán và người mua cạnh tranh gay gắt với nhau. Tuy nhiên, sự cạnh
tranh này lại được khắc phục bằng cơ chế thoả thuận trực tiếp giữa họ để đạt
được mức giá mà cả hai bên cùng chấp nhận. Cạnh tranh giữa những người
bán thường là các thủ đoạn chiếm lĩnh thị trường, trong đó thủ đoạn giá cả là một
công cụ cạnh tranh rất quan trọng và phổ biến. Người bán có thể áp dụng mức giá
thấp để thu hút người mua. Như vậy, cạnh tranh tạo ra một xu thế ép giá thị
trường sát với giá trị. Giữa những người mua cũng có cạnh tranh với nhau nhằm
tối đa hoá lợi ích sử dụng.
Thứ ba, Quy luật cung cầu quyết định trực tiếp mức giá thị trường thông
qua sự vận động của quan hệ cung cầu. Mức giá thị trường thực hiện các chức
năng: một là cân đối cung cầu ở ngay thời điểm mua bán. Hai là, chỉ cho các
nhà sản xuất biết cần phải giảm hay tăng khối lượng sản xuất, khối lượng hàng hoá
cung ứng ra thị trường. Xét về mặt thời gian, giá thị trường là cái có trước quan hệ
cung cầu. Đây là hiện tượng phổ biến của sự hình thành và vận động của giá cả
trên thị trường. Thông qua sự vận động của giá cả thị trường, các nhà sản xuất có
thể nhận biết tương đối chính xác cầu của thị trường và họ có thể chủ động đưa