Chính sách, pháp luật cạnh tranh của các nước bài học đối với việt nam - Pdf 39

Bộ giáo dục và đào tạo
Tr-ờng Đại học Ngoại th-ơng Hà Nội

...............................................................................................................

Hoàng Thị Ph-ơng Lan

chính sách, pháp luật cạnh tranh của
các n-ớc - Bài học đối với Việt Nam

Chuyên ngành: KTTG&QHKTQT
Mã số: 60.31.07

Luận văn thạc sỹ kinh tế

H Ni - 2008


Bộ giáo dục và đào tạo
Tr-ờng Đại học Ngoại th-ơng Hà Nội

..............................................................................................................

Hoàng Thị Ph-ơng Lan

Chính sách, pháp luật cạnh tranh của
các n-ớc - Bài học đối với Việt Nam
Chuyên ngành: KTTG&QHKTQT
Mã số: 60.31.07

Luận văn thạc sỹ kinh tế

1.2.2.3. Lý luận cạnh tranh tổ chức ngành ...................................................... 26
1.2.2.4. Lý luận lợi thế cạnh tranh quốc gia .................................................... 28
1.2.3. Những thay đổi của lý luận cạnh tranh trong điều kiện hiện nay ................. 30
1.2.3.1. Những thay đổi của lý luận cạnh tranh trong bối cảnh của các xu thế
phát triển kinh tế thế giới ngày nay.................................................................. 30
1.2.3.2. Thay đổi từ cạnh tranh dựa vào lợi thế đến cạnh tranh dựa vào quy
chế ...................................................................................................................... 31


2

1.2.3.3. Thay đổi từ cạnh tranh đối kháng sang cạnh tranh hợp tác .............. 32
1.3. Tổng quan về chính sách, pháp luật cạnh tranh .................................................33
1.3.1. Khái niệm chính sách, pháp luật cạnh tranh .................................................. 33
1.3.1.1. Khái niệm chính sách cạnh tranh ........................................................ 33
1.3.1.2. Khái niệm pháp luật cạnh tranh .......................................................... 35
1.3.2. Vai trò của chính sách, pháp luật cạnh tranh ................................................. 36
1.3.3. Những yêu cầu đặt ra trong xây dựng chính sách, pháp luật cạnh tranh ..... 38
Chương II: Thực trạng về chính sách, pháp luật cạnh tranh của các nước và
Việt Nam...................................................................................................................40
2.1. Thực trạng về chính sách, pháp luật cạnh tranh của một số nước .....................40
2.1.1. Thực trạng về chính sách, pháp luật cạnh tranh của Pháp ............................ 40
2.1.2. Thực trạng về chính sách, pháp luật cạnh tranh của Canada ........................ 44
2.1.3. Thực trạng về chính sách, pháp luật cạnh tranh của Nhật Bản ..................... 48
2.2. Thực trạng về chính sách, pháp luật cạnh tranh của Việt Nam .........................54
2.2.1. Cạnh tranh trong lịch sử Việt Nam................................................................. 54
2.2.1.1. Cạnh tranh trong giai đoạn trước năm 1986 ...................................... 54
2.2.1.2. Cạnh tranh trong giai đoạn từ năm 1986 - 2005 ................................ 57
2.2.2. Thực trạng về chính sách, pháp luật cạnh tranh của Việt Nam hiện nay ..... 62
2.2.2.1. Tổng quan về thực trạng chính sách, pháp luật cạnh tranh của Việt

3.3.4. Hài hòa hóa pháp luật cạnh tranh với các quy định của WTO ..................... 95
Kết luận ..................................................................................................................100
Tài liệu tham khảo ..............................................................................................1011


1

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
AFTA
FDI
GATT

IPO

Tiếng Anh

Tiếng Việt

Asean Free Trade Area

Khu vực mậu dịch tự do Asean

Foreign Direct Investment

Đầu tư trực tiếp nước ngoài

General Agreement on Tariffs Hiệp định chung về thương mại
and Trade


Technical Barriers to Trade

Hiệp định các biện pháp hàng

SCM

rào kỹ thuật thương mại
WTO

World Trade Organization

Tổ chức thương mại thế giới


2

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Sau hơn 20 năm đổi mới nền kinh tế, Việt Nam đã ký các hiệp định hợp tác
kinh tế - thương mại với EU (năm 1995), tham gia ASEAN (1995) và Khu vực mậu
dịch tự do AFTA của ASEAN (2001), tham gia APEC (1998), Hiệp định thương
mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ có hiệu lực (2001).
Ngày 11/1/2007, Việt Nam trở thành thành viên đầy đủ của WTO - tổ chức
thương mại lớn nhất toàn cầu hiện nay. Điều này trở thành cột mốc quan trọng đánh
dấu sự hội nhập sâu hơn, rộng hơn, mạnh mẽ hơn của nền kinh tế Việt Nam vào nền
kinh tế thế giới. Mặt khác, đây cũng là một thử thách to lớn vì sức ép cạnh tranh đối
với doanh nghiệp và nền kinh tế sẽ trở nên gay gắt hơn.
Tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khó XI ngày 3/12/2004 đã thông qua Luật Cạnh
tranh, bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/7/2005. Với 6 chương, 123 điều khoản, Luật
Cạnh tranh là một trong những văn bản luật đồ sộ và có tầm quan trọng đặc biệt

chính sách, pháp luật cạnh tranh của Việt Nam được đăng trên các tạp chí Nhà nước
và pháp luật, Nghiên cứu kinh tế…
3. Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của đề tài là:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về cạnh tranh từ cổ điển đến hiện đại
- Phân tích hệ thống chính sách, pháp luật cạnh tranh của các nước
- Đánh giá về thực trạng thực thi chính sách, pháp luật cạnh tranh của Việt
Nam; tìm ra giải pháp hoàn thiện tính hiệu quả, phù hợp giữa chính sách và pháp
luật cạnh tranh với tình hình phát triển của nền kinh tế.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Đánh giá được thực trạng của chính sách và pháp luật cạnh tranh của Việt
Nam, trên cơ sở kết hợp với những phân tích về những thành công đã đạt được của
chính sách, pháp luật cạnh tranh của một số nước đưa ra những giải pháp hoàn thiện
chính sách, pháp luật cạnh tranh của Việt Nam.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:


4

Đối tượng nghiên cứu: các lý thuyết cổ điển và hiện đại về cạnh tranh, chính
sách, pháp luật cạnh tranh của một số nước và Việt Nam bao gồm nội dung của luật
cạnh tranh và kinh nghiệm thực thi luật cạnh tranh của các nước.
Phạm vi nghiên cứu: các hành vi cạnh tranh giữa các chủ thể kinh doanh trên
lãnh thổ Việt Nam, chính sách, pháp luật cạnh tranh của Việt Nam và một số nước
trên thế giới.
6. Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khác nhau như phương
pháp thu thập, tổng hợp, phân tích dữ liệu trên cơ sở định lượng và định tính,
phương pháp trích dẫn…
Đề tài cũng sử dụng những số liệu thống kê được lấy từ các nguồn trong và

u cú mt im chung l cụng nhn cnh tranh l ng lc phỏt trin, lm lnh
mnh húa cỏc hot ng th trng, bờn cnh ú, cnh tranh cng kộo theo nhng
nh hng tiờu cc do cnh tranh tt yu phi dn n cú s thng thua. Nh vy,
cnh tranh ch xut hin khi trờn th trng cú ớt nht hai ch th, hai nh cung cp
khỏc nhau, chớnh vỡ vy, cnh tranh l sn phm riờng cú ca kinh t th trng, l
linh hn v l ng lc cho s phỏt trin ca th trng[17, trang 10].
Bn cht ca cnh tranh: cnh tranh cú bn cht kinh t v bn cht xó hi. V
bn cht kinh t, cnh tranh l s tranh ua gia nh sn xut. Mc ớch khi tham
gia kinh doanh ca cỏc nh Sn xut l li nhun, li nhun l ng lc gia nhp th
trng, ng thi l thc o s thnh cụng ca nh sn xut. Li nhun nh sn


6

xuất có được tỷ lệ thuận với sự hài lòng, thỏa mãn mà họ mang lại cho người tiêu
dùng, khách hàng, đối tác của mình. Người sản xuất phải tìm mọi cách để làm ra
sản phẩm có chất lượng hơn, đẹp hơn, có chi phí sản xuất rẻ hơn, có tỷ lệ tri thức
khoa học, công nghệ cao hơn... để đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng. Cạnh tranh
làm cho nhà sản xuất năng động, nhạy bén hơn, nắm bắt tốt hơn nhu cầu của người
tiêu dùng, thường xuyên cải tiến kỹ thuật, áp dụng những tiến bộ, các nghiên cứu
thành công mới nhất vào trong sản xuất, hoàn thiện cách thức tổ chức trong sản
xuất, trong quản lý sản xuất để nâng cao năng xuất, chất lượng và hiệu quả kinh tế.
Về bản chất xã hội, cạnh tranh chỉ xuất hiện khi nền kinh tế thực hiện được
các điều kiện: i) công nhận sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế với các hình thức
sở hữu khác nhau. Cạnh tranh chỉ trở thành động lực phát triển khi các doanh
nghiệp đến từ các thành phần kinh tế khác nhau có sự khác biệt về chủ sở hữu vốn,
đường lối kinh doanh… nhưng cùng chung mục đích là tìm kiếm lợi ích kinh tế; ii)
cạnh tranh chỉ xuất hiện và tồn tại khi có sự tôn trọng quyền tự do kinh doanh trên
thị trường của doanh nghiệp. Sự độc lập, tự chủ, tự do trong các hoạt động của
doanh nghiệp sẽ phát huy tối đa khả năng, sức sáng tạo của doanh nghiệp, là bàn

định nguồn lực sản xuất như một cách để tăng tính hiệu quả trong sử dụng nguồn
lực sản xuất, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Đây cũng là cơ sở để cùng với việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật
(được trình bày ở phần dưới) theo xu hướng thân thiện với môi trường, cạnh tranh
đóng vai trò gián tiếp trong bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường.
Cạnh tranh thúc đẩy việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật
Hai cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần 1 và 2 diễn ra đã cho thấy vai trò
quan trọng của việc ứng dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất, kinh doanh. Khoa
học kỹ thuật giúp nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm
chi phí sản xuất nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Sự cạnh tranh giữa
các doanh nghiệp ngày nay còn là cuộc tranh đua trong ứng dụng các thành tựu, tiến
bộ của khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh. Muốn chiến thắng trong cạnh
tranh, các doanh nghiệp không có sự lựa chọn nào khác là phải bắt kịp với những
thay đổi của khoa học kỹ thuật hiện đại.


8

Cạnh tranh đặt ra yêu cầu liên tục đổi mới trong sản xuất, kinh doanh
Liên tục đổi mới, liên tục cải tiến là sự đảm bảo cho sự thành công của doanh
nghiệp trong cạnh tranh trên thị trường sẽ kéo dài được bao lâu. Quá trình liên tục
đổi mới một mặt khiến cho doanh nghiệp không bị lâm vào tình trạng thụt lùi, lạc
hậu, mặt khác, theo kinh nghiệm của những doanh nghiệp thành công trên thị
trường, trọng tâm của việc cải tiến liên tục còn là nhắm vào việc xác định các
nguyên nhân tiềm tàng của các hoạt động không tạo ra giá trị tăng thêm và loại bỏ
chúng bằng cách cải tiến quy trình sản xuất, kinh doanh.
Điều kiện để cạnh tranh hình thành là nền kinh tế thị trường, và trong nền kinh
tế thị trường, khả năng sáng tạo của các chủ thể kinh doanh luôn được coi trọng.
Những sáng tạo không mệt mỏi của con người chính là quá trình liên tục đổi mới
nhằm tạo chỗ đứng vững chắc cho doanh nghiệp trong quá trình cạnh tranh.

lan, lãng phí; các hành vi lừa gạt, trục lợi… của các chủ thể tham gia thị trường.
“Bàn tay vô hình” chỉ có vai trò điều tiết khi mối quan hệ giữa các chủ thể là bình
đẳng và lành mạnh, trong khi thực tế để có được và duy trì được mối quan hệ này là
điều không thể, chính vì vậy, cần phải có “bàn tay hữu hình” của nhà nước - bộ máy
quyền lực tối cao để khắc phục và sửa chữa những khuyết tật của nền kinh tế.
1.1.3.2. Căn cứ vào tính chất và mức độ biểu hiện
Cạnh tranh hoàn hảo
Cạnh tranh hoàn hảo là hình thức cạnh tranh mà quyết định của người mua và
người bán không làm ảnh hưởng đến giá cả của thị trường. Trên thị trường cạnh
tranh hoàn hảo, giá cả của sản phẩm được hình thành hoàn toàn dựa trên quan hệ
cung cầu, quy luật giá trị, không có sự chi phối, can thiệp của bất cứ quyền lực nào.
Cạnh tranh hoàn hảo chỉ tồn tại được khi có đủ các điều kiện sau: i) mỗi doanh
nghiệp trong ngành chỉ chiếm một thị phần đủ nhỏ sao cho không can thiệp được
đến sự biến động của giá cả; ii) sản phẩm tham gia trên thị trường phải đồng nhất vì
nếu có sự khác biệt trong các sản phẩm sẽ tạo ra quyền lực cho doanh nghiệp ở các
mức độ khác nhau; iii) các yếu tố đầu vào của quy trình sản xuất được lưu thông tự
do và các doanh nghiệp có cơ hội như nhau trong tiếp cận các yếu tố đầu vào; iv)
thông tin trên thị trường là hoàn hảo, các chủ thể tham gia thị trường có nhận thức


10

đầy đủ, kiến thức hoàn hảo về giá hiện tại, giá tương lai, chi phí và những cơ hội
kinh tế; v) không có sự tồn tại của bất cứ rào cản gia nhập thị trường nào, thị trường
cạnh tranh hoàn hảo cho phép sự gia nhập thị trường một cách tự do đối với tất cả
các doanh nghiệp tiềm năng.
Trong mô hình cạnh tranh hoàn hảo, các quan hệ thị trường tồn tại trong trạng
thái tĩnh. Tuy nhiên, trên thực tế mối quan hệ qua lại giữa các chủ thể, sự biến động
không ngừng của các yếu tố, cũng như việc trang bị một “kiến thức hoàn hảo” cho
các chủ thể tham gia thị trường là điều không thể nên cạnh tranh hoàn hảo là hình

yêu cầu nên khi tiến hành đầu tư họ đã tạo được thế độc quyền; iii) từ sự tồn tại của
các rào cản thị trường. Chính sách bảo hộ của nhà nước, sự trung thành của khách
hàng, doanh nghiệp có lợi thế chi phí tuyệt đối… đều là những rào cản làm hạn chế
các doanh nghiệp khác gia nhập thị trường; iv) từ sự tích tụ tập trung kinh tế. Tập
trung kinh tế diễn ra thông qua hoạt động mua lại, sáp nhập, liên doanh, hợp nhất
doanh nghiệp.
Độc quyền có vai trò thúc đẩy sự tích tụ và tập trung các nguồn lực, phát triển
về khoa học kỹ thuật; tuy nhiên độc quyền sẽ thủ tiêu cạnh tranh và gây ra những
tác động tiêu cực như người tiêu dùng bị thiệt hại, gây ra lãng phí cho xã hội do chi
phí doanh nghiệp bỏ ra để củng cố và giữ vững vị trí độc quyền bằng mọi giá, bóp
méo chi phí sản xuất, tạo ra sức ỳ cho chính bản thân doanh nghiệp độc quyền…
1.1.3.3. Căn cứ vào mục đích, tính chất của các phương thức cạnh tranh
Cạnh tranh lành mạnh là hình thức cạnh tranh trong sáng, cạnh tranh bằng
tiềm năng vốn có của doanh nghiệp, phù hợp với các chuẩn mực đạo đức kinh
doanh. Cạnh tranh lành mạnh mang lại lợi ích cho người tiêu dùng thông qua nâng
cao chất lượng sản phẩm, giá thành hợp lý; mang lại lợi ích cho xã hội thông qua
phát triển khoa học kỹ thuật, sử dụng hợp lý và tiết kiệm các nguồn lực sản xuất…
Cạnh tranh không lành mạnh là hình thức cạnh tranh trái ngược với cạnh
tranh lành mạnh, trong đó, các doanh nghiệp cạnh tranh bằng các hành vi không phù
hợp với chuẩn mực đạo đức kinh doanh, vô tình hoặc cố ý gây thiệt hại cho đối thủ
cạnh tranh hoặc bạn hàng. Một trong các điều kiện để cạnh tranh tồn tại là tôn trọng
quyền tự do của các chủ thể tham gia thị trường nên đây là lý do để các chủ thể có
thể có những hành vi cạnh tranh không lành mạnh, chính vì vậy, cần phải có pháp
luật cạnh tranh để hạn chế, xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh.


12

1.2. Sự phát triển của lý thuyết cạnh tranh
1.2.1. Lý luận cạnh tranh cổ điển

“Của cải của các dân tộc“ giả định rằng con người hành động theo lợi ích cá nhân,
với lập luận rằng một cá nhân hành động vì bản thân sẽ đóng góp tốt cho cộng
đồng[13, trang 56, 57]. Adam Smith cũng là người đầu tiên nhìn thấy lợi ích từ việc có
cạnh tranh nhiều hơn và ủng hộ các chính sách thúc đẩy cạnh tranh. Điều này đòi
hỏi nhà nước giảm bớt sự can thiệp vào nền kinh tế, cũng như những hành động
ngăn chặn khuynh hướng và tình trạng độc quyền.
Adam Smith chủ trương tự do cạnh tranh. Ông cho rằng, cạnh tranh có thể
phối hợp với kinh tế một cách nhịp nhàng, có lợi cho xã hội. Cạnh tranh trong quá
trình của cải của quốc gia tăng lên chủ yếu diễn ra thông qua thị trường và giá cả,
do đó, cạnh tranh có quan hệ chặt chẽ với cơ chế thị trường. Với quan điểm lấy chủ
nghĩa cá nhân làm cơ sở, Smith nhận định rằng, trong tự do cạnh tranh, các cá nhân
chèn ép nhau khiến cho mỗi cá nhân phải thực hiện công việc của mình một cách tốt
nhất, cố gắng ở mức độ cao nhất. Cạnh tranh có thể khơi dậy nỗ lực chủ quan của
mỗi người, từ đó, của cải tăng lên. Quan điểm của Adam Smith về vai trò của cạnh
tranh được thể hiện trên các khía cạnh sau[3, trang 73, 74, 75]:
- Cạnh tranh có thể khiến cho cung cầu cân bằng nhau. Trong điều kiện cạnh
tranh, nhiều nhà sản xuất phải cạnh tranh với nhau nên họ phải thường xuyên quan
tâm đến những biến động của cầu, bên cạnh đó, còn phải đánh giá sự biến động của
cung tùy theo sự biến động của tình hình cầu, từ đó phán đoán chính xác số lượng
các loại hàng hóa có thể thích ứng với những thay đổi của cung cầu, của cạnh tranh.
- Cạnh tranh thúc đẩy lao động và điều tiết việc phân phối yếu tố tư bản một
cách hợp lý. Cạnh tranh kích thích nhiệt tình lao động, kích thích người lao động
nắm vững và thành thạo các kỹ năng, kỹ xảo, nâng cao năng lực làm việc. Việc
tuyển chọn lao động khiến cho các chủ thể phải cạnh tranh với nhau làm cho tiền
lương có xu hướng tăng lên hoặc giảm xuống, tự do di chuyển sức lao động giữa
các ngành. Về tư bản, do cạnh tranh các nhà tư bản theo đuổi lợi nhuận khiến cho tư
bản chảy vào ngành có lợi nhuận nhiều nhất.
- Cạnh tranh có lợi cho xã hội. Cạnh tranh giữa các ngành khiến cho tiền
lương và lợi nhuận có xu hướng tiến tới quyền lợi ngang bằng và tài nguyên xã hội


cách giàu nghèo... Tuy nhiên, những phân tích về tác động tích cực của cạnh tranh
và sự điều tiết của thị trường trong sự vận hành kinh tế vẫn có giá trị lý luận lớn cho
đến thời đại ngày nay.


15

1.2.1.2. Lý luận cạnh tranh của John Stuart Mill
John Stuart Mill sinh năm 1806 tại London, là một nhân vật chuyển tiếp quan
trọng trong kinh tế học. Mặc dù ông được xem là một phần của trường phái cổ điển
nhưng trên những phương diện khác, ông là bậc tiền bối quan trọng của trường phái
biên bắt đầu nổi lên vào cuối thế kỷ XIX[13, trang 106].
Với rất nhiều tác phẩm như “Hệ thống logic“ (1843), “Các nguyên lý của Kinh
tế chính trị học“ (1848), “Bàn về tự do“ (1859), “Chủ nghĩa công lợi“ (1863)..., Mill
đã có nhiều cống hiến quan trọng cho kinh tế học. Một vài trong số những đóng góp
này đã mở rộng và hoàn thiện phân tích kinh tế cổ điển, những đóng góp khác mở ra
những lối đi mới bằng phân tích các hiện tượng kinh tế như là những mối quan hệ
so sánh và sự đánh đổi. Mill cũng có những đóng góp trong phạm vi rộng mà ở đó
kinh tế học và triết học đan xen nhau. Những đóng góp này giải thích nền tảng triết
học của kinh tế học, và bắt đầu đưa ra những lý lẽ chứng minh cho tự do cá nhân và
hạn chế sự can thiệp của nhà nước vào các vấn đề kinh tế và xã hội.
Về cạnh tranh, Mill đã bổ sung lý luận cạnh tranh của Adam Smith, ông cho
rằng, có thể cạnh tranh không phải là sự kích thích tốt nhất như mong muốn, nhưng
là sự kích thích cần thiết và đến bao giờ những tiến bộ mới không cần dựa vào cạnh
tranh nữa thì chưa ai đoán được. Nếu Smith ủng hộ cạnh tranh, ủng hộ chủ nghĩa tự
do cạnh tranh thì trong lý luận về tự do của Mill, tự do không chỉ là mấu chốt trong
chính trị học và đạo đức học - tự do theo nghĩa hẹp, mà còn là tự do xã hội - tự do
theo nghĩa rộng. Chủ nghĩa tự do của Mill xây dựng theo nguyên tắc của chủ nghĩa
công lợi, ông đưa mọi vấn đề liên quan đến phạm trù đạo đức như theo đuổi lợi ích
cá nhân, thỏa mãn dục vọng... vào phạm trù công lợi và tôn là nguyên tắc đạo đức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status