Lời Cảm Ơn
Sau hơn 4 năm cố gắng vượt qua khó khăn để học tập nâng
cao trình độ chuyên môn; được sự quan tâm tạo điều kiện, giúp
đỡ của Cơ quan và các đồng nghiệp; sự ủng hộ giúp đỡ của gia
đình và bạn bè; Trường Đại học Kinh tế Huế và các thầy giáo, cô
giáo đã tận tình truyền đạt kiến thức; đến nay tôi đã hoàn thành
chương trình đào tạo đại học chuyên ngành kinh tế nông nghiệp
và chuyên đề này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Ban
Giám hiệu Nhà trường, Phòng Đào tạo, cô giáo chủ nhiệm lớp
cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo của Trường Đại học Kinh tế
và các thầy, cô giáo khác cùng tham gia giảng dạy đã nhiệt tình
giảng dạy, hướng dẫn, tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài
này.
Tôi xin chân thành cảm ơn UBND xã Hồng Lộc, các anh
chị, các cô chú đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này.
Đặc biệt, tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Trần Văn
Hòa đã trực tiếp hướng dẫn tận tình và đóng góp nhiều ý kiến
giúp tôi hoàn thành đề tài này.
Tuy đã có nhiều cố gắng những luận văn này cũng
không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong được các thầy
giáo, cô giáo và các đồng nghiệp tiếp tục chỉ bảo, giúp đỡ để luận
văn được hoàn thiện hơn.
Hà Tĩnh, ngày 10 tháng 03 năm 2013
Sinh viên
Hồ Sỹ Giang
MỤC LỤC
PHẦN I: MỞ ĐẦU ................................................................................... 1
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI ....................................................... 1
2.2.2.1. Cây trồng trên đất hàng năm ............................................... 22
2.2.2.2. Cây trồng trên đất lâu năm.................................................. 23
2.3. Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của các hộ nghiên cứu ............. 23
2.3.1. Thông tin cơ bản về các hộ nghiên cứu..................................... 23
2.3.2. Tình hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của các hộ điều tra .... 24
2.3.3. Hiệu quả sử dụng đất trồng cây hằng năm ................................ 24
2.3.3.1. Hiệu quả kinh tế cây lúa ..................................................... 24
2.3.3.2. Hiệu quả kinh tế của cây sắn .............................................. 26
2.3.3.3. Hiệu quả kinh tế của cây khoai ........................................... 28
CHƯƠNG III: QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI
PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT SẢN
XUẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN XÃ
HỒNG LỘC-
HUYỆN LỘC HÀ- TỈNH HÀ TĨNH ..................................................... 30
3.1. Vấn đề quy hoạch đất nông nghiệp xã Hồng Lộc........................... 30
3.1.1. Quan điểm sử dụng đất đến năm 2015 ...................................... 30
3.1.2. Định hướng sử dụng đất cho 20 năm tới và giai đoạn tiếp theo .... 31
3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất............................. 31
3.2.1. Giải pháp chung ....................................................................... 31
3.2.1.1. Giải pháp về quy hoạch, kế hoạch và chuyển dịch cơ cấu
đất sản xuất nông nghiệp ................................................................. 31
3.2.1.2. Giải pháp về giống và đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật
vào sản xuất .................................................................................... 32
3.2.1.3. Giải pháp thu hút vốn và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
nông nghiệp, nông thôn ................................................................... 33
3.2.1.4. Giải pháp về cơ chế, chính sách .......................................... 34
3.2.1.5. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực ................................... 35
Chữ viết tắt
Diễn giải
1
UBND
Ủy ban nhân dân
2
CSHT
Cơ sở hạ tầng
3
ĐNN
Đất nông nghiệp
4
BQC
Bình quân cộng
5
nhanh kéo theo những đòi hỏi ngày càng tăng về lương thực thực, thực
phẩm, chỗ ở cũng như các nhu cầu về văn hóa xã hội. Con người đã tìm
mọi cách để khai thác đất đai để thỏa mãn những nhu cầu ngày càng tăng.
Như vậy đất đai, đặc biệt là đất nông nghiệp mặc dù hạn chế về diện tích (9
triệu ha năm 2011), nhưng lại có nguy cơ suy thoái ngày càng cao dưới tác
động của thiên nhiên, của sức ép dân số và do sử dụng đất chưa hợp lý kéo
dài. Đó còn chưa kể đến sự suy giảm về diện tích đất nông nghiệp do quá
trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ, trong khi khả năng khai hoang đất
mới lại hạn chế. Do vậy việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp từ
đó lựa chọn các loại hình sử dụng đất có hiệu quả để sử dụng hợp lý theo
quan điểm sinh thái và phát triển bền vững đang trở thành vấn đề mang tính
toàn cầu đang được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm. Đối với một
nước có nền nông nghiệp chủ yếu như Việt Nam, nghiên cứu đánh giá hiệu
quả sử dụng đất nông nghiệp càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.
Hồng Lộc là một xã nằm ở phía nam của huyện Lộc Hà, cách thị trấn
Lộc Hà khoảng 10km; là một xã kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, với
lợi thế là có dân số đông, cơ cấu dân số trẻ, với diện tích đồi núi nhiều, tuy
nhiên đời sống của người dân đang gặp rất nhiều khó khăn, kinh tế chưa
phát triển tương xứng với tiềm năng của vùng. Nguyên nhân chủ yếu là do
cơ cấu ngành nghề chưa hợp lý, đặc biệt là đất đai sử dụng chưa hợp lí.
Xuất phát từ thực tế trên, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Giải
pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại xã Hồng
Lộc - huyện Lộc Hà - tỉnh Hà Tĩnh”.
1
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
+ Hệ thống hóa cơ sở lý luận của vấn đề sử dụng đất sản xuất nông nghiệp.
+ Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại xã Hồng
Lộc huyện Lộc Hà tỉnh Hà Tĩnh.
+ Phương pháp thống kê mô tả và hạch toán kinh tế: Hệ thống hoá các
số liệu dưới dạng các chỉ tiêu nghiên cứu từ đó phân tích, đánh giá theo các
chỉ tiêu qua thời gian.
+ Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến của những người có
kinh nghiệm, các cán bộ lãnh đạo am hiểu về lĩnh vực này.
3
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Khái niệm và phân loại đất sản xuất nông nghiệp
Đất nông nghiệp là tất cả những diện tích được sử dụng vào mục đích
sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, diện
tích nghiên cứu thí nghiệm phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Kể cả diện
tích đất lâm nghiệp và các công trình xây dựng cơ bản phục vụ cho sản
xuất nông lâm nghiệp.
Theo luật đất đai 2003, nhóm đất nông nghiệp được phân thành các
loại sau:
- Đất trồng cây hằng năm;
- Đất trồng cây lâu năm;
- Đất rừng sản xuất là diện tích đất được dùng để chuyên trồng các
loại cây rừng với mục đích sản xuất.
- Đất rừng phòng hộ: là diện tích đất để trồng rừng với mục đích
phòng hộ.
- Đất rừng đặc dụng: là diện tích đất được Nhà Nước quy hoạch, đưa
vào sử dụng với mục đích riêng.
- Đất nuôi trồng thủy sản là diện tích đất dùng để nuôi trồng thủy sản
thiên” (Dân lấy ăn làm trời). Con người chúng ta muốn tồn tại phải có cái
ăn, muốn có cái ăn không thể chỉ dựa vào những sản vật sẵn có trong tự
nhiên do thiên nhiên ban tặng mà phải lao động sản xuất ra
của cải vật
chất là lương thực thực phẩm để nuôi sống con người và đáp ứng nhu cầu
ngày càng cao của xã hội. Và nơi duy nhất để sản xuất ra của cải vật chất
chính là đất NN.
Lịch sử phát triển nền sản xuất xã hội đến nay đã trải qua các thời kỳ
khác nhau từ kinh tế tự nhiên, tự túc tự cấp chuyển sang kinh tế hàng hoá,
từ sản xuất hàng hoá nhỏ lên sản xuất hàng hoá có quy mô lớn và hiện đại,
5
tất thảy trong sản xuất NN thì bao giờ đất đai cũng đóng vai trò cực kỳ
quan trọng. Xã hội càng phát triển thì vai trò của đó của đất NN cũng phát
triển theo.
+ Đất NN là môi trường sống, môi trường không gian để SXNN
SXNN có đặc thù là sản xuất ở ngoài trời, phải tiếp xúc với tự nhiên.
Cây phải sống trên đất, quang hợp nhờ ánh nắng mặt trời, hút nước từ trong
đất, cá phải sống dưới nước sông, hồ, biển; gia súc, gia cầm phải có chuồng
trại, có bãi chăn thả; con vật nuôi phải có thức ăn, mà thức ăn lại chính là
các động thực vật được sản xuất từ trong NN. Tất cả những yếu tố đó
chính là môi trường sống, là không gian để sản xuất. Muốn sản xuất phát
triển thì chúng ta phải biết giữ gìn, bảo vệ môi trường, không vi phạm các
quy luật tự nhiên, không chỉ biết khai thác đất đai mà còn phải biết bồi bổ
đất đai, tạo lập môi trường sống tốt nhất cho cây trồng vật nuôi.
+ Đất NN là TLSX chủ yếu để sản xuất hàng hoá
Như đã nêu trong phần đặc điểm của đất NN, khi tham gia vào quá
trường, đi đôi với việc tạo lập các khung khổ pháp lý bảo đảm sự quản lý
và giám sát của Nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh
tế tiếp cận với thị trường trong đó có thị trường bất động sản.
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã nêu: “Phát triển thị
trường bất động sản, trong đó có thị trường quyền sử dụng đất, tạo điều
kiện thuận lợi để chuyển quyền sử dụng đất; mở rộng cơ hội cho các công
dân và doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế được dễ dàng có đất và
sử dụng đất lâu dài cho sản xuất kinh doanh”. “Tạo điều kiện thuận lợi cho
quá trình tích tụ và tập trung đất canh tác trong một số vùng có điều kiện”.
Nghiên cứu Luật Đất đai năm 2003 cho thấy: Tại Điều 105 Mục 1
quy định: “Quyền của người sử dụng đất được Nhà nước cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất”;
Điều 106 quy định: “Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê,
thuê lại, thừa kế, tặng, cho quyền sử dụng đất, quyền thế chấp, bảo lãnh,
góp vốn bằng quyền sử dụng đất”; Điều 113 Mục 7 quy định: “Thế chấp,
bảo lãnh, bằng quyền sử dụng đất tại tổ chức tín dụng được phép hoạt
7
động tại Việt Nam, tại các tổ chức kinh tế hoặc cá nhân để vay vốn sản xuất
kinh doanh”.
Đối với Luật Đầu tư số 59/2005/QH tại Điều 3 Mục 1 có nêu: “Đầu tư
là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để
hình thành tài sản, tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật
này và các quy định khác của pháp luật có liên quan” và Mục 7 có nêu: “
Vốn đầu tư là tiền và các tài sản hợp pháp khác để thực hiện các hoạt động
đầu tư theo hình thức đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp”.
Như vậy có thể nói đất SXNN có đầy đủ các yếu tố thuận lợi để tham
gia vào thị trường bất động sản, thị trường vốn trong quá trình đầu tư sản
xuất kinh doanh.
lao động vừa là đối tượng lao động. Đối với các loại đất chuyên dùng khác
thì đất đai chỉ là đối tượng lao động, con người phải sử dụng tư liệu lao
động để tác động vào tạo ra sản phẩm.
Đất nông nghiệp là đối tượng lao động khi con người sử dụng công cụ
sản xuất tác động vào đất làm cho đất thay đổi hình dạng, như cày, bừa, lên
luống... quá trình đó làm tăng chất lượng của ruộng đất, tạo điều kiện thuận
lợi để tăng năng suất và chất lượng cây trồng. Ngược lại, khi con người sử
dụng công cụ sản xuất tác động lên đất, thông qua các thuộc tính lý học, hoá
học, sinh vật học và các thuộc tính khác của đất để tác dụng lên cây trồng.
Trong quá trình này đất nông nghiệp đóng vai trò là tư liệu lao động.
Sự kết hợp của đối tượng lao động và tư liệu lao động đã làm cho đất nông
nghiệp trở thành tư liệu sản xuất trong sản xuất nông nghiệp.
Hai là, đất nông nghiệp có vị trí cố định và không thể di chuyển được
Đất đai nói chung, đất nông nghiệp nói riêng là tài nguyên thiên nhiên
không sinh sản được. Bởi vì, không giống như vốn, chúng không thể sản
sinh thêm thông qua quá trình sản xuất. Đất nông nghiệp có vị trí cố định
không di chuyển được và có khả năng tái tạo được.
Các tư liệu sản xuất khác có thể di chuyển đến những nơi thiếu và cần
thiết, nhưng hầu hết đều không có khả năng tái tạo lại được. Ngược lại, đất
nông nghiệp là tư liệu sản xuất chủ yếu, nhưng lại có vị trí cố định không
9
thể di chuyển từ vị trí này sang vị trí khác, nó gắn liền với điều kiện tự
nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi vùng. Đặc tính này đồng thời nó
quy định tính giới hạn về quy mô theo không gian gắn liền với môi trường
mà đất đai chịu sự chi phối, gắn liền với nguồn gốc hình thành của đất đai,
địa hình, khí hậu, kết cấu đất, độ màu mỡ, vị trí của đất... vị trí của đất
nông nghiệp có ý nghĩa lớn về mặt kinh tế trong quá trình khai thác sử
dụng đất. Thông thường, đất nông nghiệp ở gần các khu đô thị, thuận tiện
nông nghiệp hết sức tiết kiệm và xem xét kỹ lưỡng hợp lý khi bố trí sử
dụng các loại đất. Mặt khác, phải chú ý ứng dụng tiến bộ kỹ thuật để tăng
khả năng phục hồi và tái tạo của đất đai.
Bốn là, đất nông nghiệp vừa là sản phẩm tự nhiên, vừa là sản phẩm
của lao động
Đất nông nghiệp vốn là sản phẩm của tự nhiên, nó xuất hiện và tồn tại
ngoài ý muốn của con người. Đất nông nghiệp được hình thành do quá
trình phong hoá đá và sự tác động của vi sinh vật, nhiệt độ, độ ẩm, ánh
sáng... và do con người tiến hành khai phá, đưa vào sử dụng nhằm phục vụ
lợi ích của con người. Trong quá trình lịch sử lâu dài đó, lao động của con
người qua nhiều thế hệ đã được kết tinh vào đó. Do đó, ngày nay đất nông
nghiệp vừa là sản phẩm của tự nhiên, vừa là sản phẩm của lao động. C.Mác
viết: "Tuy có những thuộc tính như nhau, nhưng một đám đất được canh
tác có giá trị hơn một đám đất bị bỏ hoang"
Đặc điểm này đặt ra trong quá trình sử dụng con người cần phải không
ngừng cải tạo và bồi dưỡng, đồng thời phải khai thác đất nông nghiệp cho
hợp lý làm cho đất ngày càng màu mỡ hơn. Thực tế cho thấy, đất đai là tư
liệu sản xuất chủ yếu không bị đào thải khỏi quá trình sản xuất, nếu sử
dụng hợp lý thì đất đai ngày càng tốt hơn. Việc sử hợp lý ruộng đất hay
không là tuỳ thuộc vào quá trình sử dụng có kết hợp chặt chẽ giữa khai
thác, sử dụng ruộng đất với việc bảo vệ, bồi dưỡng và cải tạo đất đai hay
không. Vì thế trong quá trình sử dụng đất nông nghiệp phải tìm mọi biện
pháp để bảo vệ đất, chống xói mòn, rửa trôi. Phải thường xuyên coi trọng
công tác bồi dưỡng và cải tạo đất làm tăng độ phì nhiêu của đất đai.
11
Năm là, đất nông nghiệp có chất lượng không đồng đều
Đất nông nghiệp không đồng nhất về chất lượng do sự khác nhau
giữa các yếu tố dinh dưỡng vốn có của nó. Đó là kết quả một mặt là của
ĐNB chiếm 28,1% và ĐBSCL chiếm 15,3%. Xu hướng tăng diện tích
trồng cây lâu năm, trong khoảng năm năm (2006 – 2011) diễn ra mạnh và
trên tất cả 6 vùng. So với năm 2006, trên phạm vi cả nước đã tăng đến
634,4 nghìn ha (gần 21%).
Cả nước có gần 15,37 triệu ha đất lâm nghiệp, tăng trên 6,4%.
Đất nuôi trồng thuỷ sản giảm mạnh, chỉ còn 690 nghìn ha(2011), giảm
11,8 nghìn ha (-1,7%) so với năm 2006. Vùng có diện tích nuôi trồng thuỷ
sản lớn nhất là ĐBSCL giảm nhiều từ 502,9 nghìn ha năm 2006 xuống còn
468 nghìn ha năm 2011, giảm 35 nghìn ha (-6,9%).
1.1.4. Khái quát về hiệu quả sử dụng đất
Hiệu quả chính là kết quả như yêu cầu công việc mang lại. Do tính
chất mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên hữu hạn với nhu cầu ngày càng cao
của con người mà ta phải xem xét kết quả tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra
để tạo ra kết quả đó là bao nhiêu? Có đưa lại kết quả hữu ích không? Chính
vì thế khi đánh giá hoạt động sản xuất không chỉ dừng lại ở việc đánh giá
kết quả mà còn phải đánh giá chất lượng các hoạt động sản xuất kinh doanh
tạo ra sản phẩm đó. Đánh giá chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh
cũng là một nội dung đánh giá hiệu quả.
Như vậy bản chất của hiệu quả được xem là: Việc đáp ứng nhu cầu
của con người trong xã hội; việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và nguồn
lực để phát triển bền vững.
* Hiệu quả kinh tế: Hiệu quả kinh tế là một chỉ tiêu so sánh mức độ
tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu
ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng
thêm lợi ích của xã hội.
Hiệu quả kinh tế phải đạt được ba vấn đề sau:
- Một là: Mọi hoạt động của con người đều phải tuân theo quy luật tiết
kiệm thời gian
13
14
khi không có những ảnh hưởng tác động xấu đến môi trường đất, nước,
không khí, không làm ảnh hưởng tác động xấu đến môi trường sinh thái và
đa dạng sinh học.
1.1.5. Sự cần thiết phải đánh giá hiệu quả sử dụng đất
“Thế giới đang sử dụng khoảng 1,5 tỷ ha đất cho sản xuất nông
nghiệp. Tiềm năng đất nông nghiệp của thế giới khoảng 3 – 5 tỷ ha. Nhân
loại đang làm hư hại đất nông nghiệp khoảng 1,4 tỷ ha đất và hiện nay có
khoảng 6 – 7 triệu ha đất nông nghiệp bị bỏ hoang do xói mòn và thoái hóa.
Để giải quyết nhu cầu về sản phẩm nông nghiệp, con người phải thâm
canh, tăng vụ tăng năng suất cây trồng và mở rộng diện tích đất nông
nghiệp” (FAO, 1976).
Để nắm vững số lượng và chất lượng đất đai cần phải điều tra thành
lập bản đồ đất, đánh giá phân hạng đất, điều tra hiện trạng, quy hoạch sử
dụng đất hợp lý là điều rất quan trọng mà các quốc gia đặc biệt quan tâm
nhằm ngăn chặn những suy thoái tài nguyên đât đai do sự thiếu hiểu biết
của con người, đồng thời nhằm hướng dẫn về sử dụng đất và quản lý đất
đai sao cho nguồn tài nguyên này được khai thác tốt nhất mà vẫn duy trì
sản xuất trong tương lai.
Phát triển nông nghiệp bền vững có tính chất quyết định trong sự phát
triển chung của toàn xã hội. Điều cơ bản nhất của phát triển nông nghiệp
bền vững là cải thiện chất lượng cuộc sống trong sự tiếp xúc đúng đắn về
môi trường để giữ gìn tài nguyên cho thế hệ sau này.
1.1.6. Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất
Trong quá trình sử dụng đất đau tiêu chuẩn cơ bản và tổng quát khi
đánh giá hiệu quả là mức độ đáp ứng nhu cầu của xã hội và sự tiết kiệm lớn
nhất về chi phí các nguồn tài nguyên, sự ổn đinh lâu dài của hiệu quả. Do
đó tiêu chuẩn đánh giá việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên đất nông
trung gian (IC), là giá trị sản phẩm xã hội được tạo ra thêm trong thời kỳ
sản xuất đó: VA=GO - IC
- Hiệu quả kinh tế trên một đồng chi phí trung gian (IC):GO/IC;
VA/IC.
16
- Hiệu quả kinh tế trên một ngày công lao động (LĐ) quy đổi: GO/
LĐ; VA/LĐ.
Các chỉ tiêu phân tích được đánh giá định lượng (giá trị) bằng tiền
theo thời giá hiện hành và định tính (phân cấp) được tính bằng mức độ cao,
thấp. Các chỉ tiêu đạt mức càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn.
* Chỉ tiêu hiệu quả về mặt xã hội, bao gồm các chỉ tiêu:
- Bình quân diện tích đất nông nghiệp trên đầu người.
- Thu hút lao động, giải quyết công ăn việc làm.
- Thu nhập bình quân trên đầu người ở vùng nông thôn.
- Đảm bảo an toàn lương thực và gia tăng lợi ích của nông dân.
- Trình độ dân trí, trình độ hiểu biết xã hội.
* Chỉ tiêu hiệu quả về môi trường, bao gồm các chỉ tiêu:
Độ
che phủ
=
Hệ số sử
dụng đất
=
Diện tích trồng cây lâu năm + diện tích đất lâm nghiệp có rừng
Khí hậu thời tiết có bốn mùa rõ rệt: Xuân - Hạ - Thu - Đông. Nhưng
do dãy núi Hồng Lĩnh chắn ngang, cận kề ở phía bắc nên chịu ảnh hưởng
thời tiết cục bộ, khác với quy luật chung trong vùng. Đặc biệt là hạn hán và
lụt úng rất thất thường. Điều này đã tác động không nhỏ đến sản xuất và
đời sống của nhân dân địa phương.
2.1.2. Đặc điểm kinh tế xã hội xã Hồng Lộc
Là một xã vùng sâu còn nhiều khó khăn thuộc huyện Lộc Hà Hồng
Lộc luôn nhận được sự quan tâm, đầu tư phát triển của Đảng và Nhà Nước.
18
Toàn xã Hồng Lộc có 8622 người, sinh sống trong 7 xóm (Theo số
liệu thống kê 6 tháng đầu năm 2011). Mật độ dân số trung bình 500 người/
km2. Xã hiện có 28 dòng họ sinh sống, chủ yếu là dân tộc kinh, không có
tôn giáo. Hiện nay số người trong độ tuổi lao động của xã rất ít do phần lớn
thanh niên trong xã hoặc là đi học hoặc đi làm xa nhà.
Về giao thông, thủy lợi – xây dựng cơ bản: Hiện nay cơ sở hạ tầng của
xã cơ bản đã hoàn thiện, với giao thông thuận tiện, bê tông hoá các đường
từ huyện về thôn, xã và bê tông hoá đường trong xóm. Hệ thống thuỷ lợi
tuy được nâng cấp thường xuyên nhưng vẫn còn thiếu nước cho sản xuất
nông nghiệp vào mùa khô, thêm vào đó mùa mưa thường gây ra lũ lụt bất
thường, gây ngập úng ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp nơi đây.
Về sản xuất CN – TTCN: Về tiểu thủ công nghiệp, địa phương vẫn
duy trì nhịp độ phát triển. Tuy nhiên sản xuất TTCN địa phương vẫn mang
tính tự phát, nhỏ lẻ, chưa sản xuất tập trung, sản phẩm không mang tính
cạnh tranh.
Bảng 1: Một số chỉ tiêu phát triển KT-XH của xã Hồng Lộc năm 2012
Các chỉ tiêu đánh giá
Tốc độ tăng trưởng kinh tế
Thu nhập BQ/người/năm
%
19,8
Tỷ lệ hộ nghèo
(Nguồn: Báo cáo tình hình kinh tế xã hội của UBND xã Hồng Lộc)
Cụ thể: Trong năm 2012, tốc độ tăng trưởng kinh tế là 11 %, thu nhập
bình quân trên đầu người là 14,2 triệu đồng/người/năm, chủ yếu là thu nhập
từ nông lâm ngư nghiệp, chiếm 44,8 tổng thu nhập, nguồn thu từ thương
mại dịch vụ còn ít, chỉ 17% tổng thu nhập, 38% còn lại là từ CN-TTCN và
xây dựng. Chứng tỏ rằng kinh tế xã chưa phát triển mạnh về CNXD và dịch
19