Nghiên cứu cơ sở pháp lý và thực tiễn về quản lý hoạt động đổ thải chất nạo vét luồng cảng tại thành phố Hải Phòng - Pdf 39

Lời cảm ơn
Luận văn thạc sỹ khoa học chuyên ngành Quản lý môi trường “Nghiên cứu
cơ sở pháp lý và thực tiễn về hoạt động đổ thải chất nạo vét luồng cảng tại thành
phố Hải Phòng”đã được hoàn thành vào tháng 11/2015.
Để hoàn thành được luận văn, trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới
PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, giáo viên hướng dẫn trực tiếp, người đã tận tình chỉ bảo
cho việc định hướng cũng như hoàn thiện luận văn và đồng thời tạo mọi điều kiện
để tôi đạt được kết quả tốt nhất.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô Khoa Môi trường nói chung và các
thầy cô trong Bộ môn Quản lý Môi trường đã tận tâm hướng dẫn, truyền dạy cho tôi
kiến thức, phương thức tiếp cận những kiến thức trong suốt quả trình học tập tại
khoa, tạo nền tảng kiến thức để tôi đạt kết tốt trong quá trình học tập và làm việc.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn
giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình làm luận văn để tôi hoàn thành tốt mọi
công việc.
Học viên cao học

Nguyễn Thị Minh Hải


MỤC LỤC
MỤC LỤC ................................................................................................................... i
Bảng ký hiệu các chữ viết tắt .................................................................................. iv
Danh mục các bảng biểu ........................................................................................... v
Danh mục các hình vẽ ............................................................................................... v
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
1. Sự cần thiết nghiên cứu đề tài ..............................................................................1
2. Mục tiêu luận văn ................................................................................................2
3. Cấu trúc của luận văn ..........................................................................................3
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ ..................................................................... 4
1.1. Một số khái niệm liên quan ..............................................................................4

1.4.2. Các tác động tiêu cực của công tác nạo vét..............................................37
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU40
2.1. Đối tượng nghiên cứu .....................................................................................40
2.2. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................................40
2.3. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................40
2.3.1. Phương pháp kế thừa, tổng hợp tài liệu....................................................40
2.3.2. Phương pháp khảo sát thực tế ..................................................................41
2.3.3. Phương pháp chuyên gia ..........................................................................41
2.3.4. Phương pháp tiếp cận hệ thống ................................................................42
2.3.5. Phương pháp so sánh ................................................................................42
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.............................................................. 44
3.1. Cơ sở pháp lý quản lý hoạt động đổ thải vật liệu nạo vét ở Hải Phòng .........44
3.1.1. Các quy định quốc tế về hoạt động đổ thải vật liệu nạo vét.....................44
3.1.2. Các quy định chung về hoạt động nhận chìm (đổ thải) trong các quy định
quốc tế ................................................................................................................46
3.1.3. Các quy định chung về Quy trình đánh giá để cấp phép cho đổ, thải chất
thải tại bãi chứa chất thải trên biển.....................................................................48
3.1.4. Cơ sở thực thi luật pháp quốc tế về quản lý hoạt động đổ thải vật liệu nạo
vét trên biển tại Việt Nam ..................................................................................50
3.1.5. Các quy định pháp lý liên quan đến việc quản lý hoạt động đổ thải vật
liệu nạo vét .........................................................................................................51
3.2. Cở cở thực tiễn cho quản lý hoạt động đổ thải chất nạo vét của Hải Phòng ..60
3.2.1. Nhu cầu về nạo vét và đổ thải chất nạo vét của Hải Phòng .....................60
3.2.2. Thực trạng quản lý hoạt động nạo vét của Hải Phòng .............................66

ii


3.3. Đề xuất giải pháp cho việc quản lý hoạt động đổ thải vật liệu nạo vét .......66
3.3.1. Hoàn thiện khung pháp lý về quản lý hoạt động đổ thải vật liệu nạo vét

: Đánh giá tác động môi trường;

QLNN : Quản lý nhà nước;
QPPL

: Quy phạm pháp luật;

TNMT : Tài nguyên môi trường.
UBND : Ủy ban nhân dân

iv


Danh mục các bảng biểu
Bảng 1. 1. Danh sách quyết định về quy hoạch chi tiết các nhóm cảng biển ...........30
Bảng 1. 2. Khối lượng nạo vét các luồng cảng hàng hải năm 2015..........................31
Bảng 3. 1. Rà soát các quy định về đổ thải, nhận chìm trên biển của Việt Nam ......54
Bảng 3. 2. Bảng so sánh thực hiện các quy định quốc tế về đổ thải vật liệu nạo vét
trên biển tại Việt Nam ...............................................................................................56
Bảng 3. 3. Vị trí và khối lượng đổ chất nạo vét của luồng Hải Phòng .....................61
Danh mục các hình vẽ
Hình 1.1. Bản đồ hành chính thành phố Hải Phòng ....................................................7
Hình 1.2. Các Bang đã cấp phép chất thải trên biển của Mỹ đến năm 2000 ............16
Hình 1.3.Hình ảnh các vị trí nhận chìm trên biển của Ireland năm 2008 ................. 18
Hình 3.1.Khung đánh giá chất thải theo Công ước về ngăn ngừa ô nhiễm biển do
nhận chìm chất thải và các chất khác năm 1972 và Nghị định thư 1996 ..................49
Hình 3.2.Thực trạng công tác duy tu và đổ VLNV luồng Hải Phòng, Phà Rừng.....64
Hình 3.3. Bản đồ vị trí Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng .........................................64

v


1


Liên quan đến việc phát triển Cảng cửa ngõ Quốc tế Lạch Huyện và duy trì
hoạt động ‘bình thường’ cho hệ thống cảng Hải Phòng hiện tại, phải nạo vét luồng
cảng đến khoảng 3 triệu tấn hàng năm. Với một lượng chất nạo vét lớn như vậy,
việc quản lý hoạt động nạo vét và đổ thải chất nạo vét đang là một vấn khó khăn vì
những quy định về lĩnh vực này ở trong nước còn rất ít. Luật Tài nguyên, Môi
trường biển và hải đảo (ban hành ngày 25 tháng 6 năm 2015) mới có quy định
‘khung’ về ‘Nhận chìm ở biển’ tại Chương VI, Mục 3, các Điều 57-63. Theo đó
‘Chất nạo vét’ luồng cảng hoặc do thi công cảng biển sinh ra về bản chất là một loại
“Chất nhận chìm”và giao “Chính phủ quy định Danh mục vật, chất được nhận chìm
ở biển”[22].
Việc thiếu các quy định cụ thể khiến các cơ quan liên quan về quản lý môi
trường biển lúng túng khi hướng dẫn, đánh giá chất/vật nạo vét và bãi chứa chất/vật
nạo vét luồng cảng để quyết định việc cho phép đổ thải/nhận chìm, cũng như lúng
túng khi kiểm tra, giám sát các hoạt động nạo vét, vận chuyển, đổ thải tại bãi chứa
trên biển.
Vì vậy, việc chọn đề tài luận văn: “Nghiên cứu cơ sở pháp lý và thực tiễn về
quản lý hoạt động đổ thải chất nạo vét luồng cảng tại thành phố Hải Phòng”có ý
nghĩa cả về mặt thực tiễn và lý luận. Từ trường hợp nghiên cứu ở hệ thống cảng Hải
Phòng, học viên sẽ đề xuất một số giải pháp mang tính pháp lý phù hợp nhằm bảo
vệ môi trường cảng Hải Phòng và nhân rộng cho các vùng cảng tương tự ở ven biển
nước ta.
2. Mục tiêu luận văn
Luận văn được thực hiện nhằm đạt các mục tiêu cơ bản sau đây:
- Có được cơ sở pháp lý và thực tiễn trong nước, quốc tế trong quản lý hoạt
động đổ thải, nhận chìm ở biển.
- Khái quát được tình hình quản lý hoạt động đổ thải chất nạo vét luồng cảng

nghĩa là:
i. Bất kỳ sự đổ, thải có ý thức nào xuống biển các chất thải hoặc các chất
khác từ các tàu thuyền, phương tiện bay, giàn nổi hoặc các công trình nhân tạo khác
ở biển.
ii. Bất kỳ sự đánh chìm nào của tàu thuyền, phương tiện bay, giàn nổi hoặc
các công trình nhân tạo khác ở biển.
Việc nhận chìm không bao gồm:
i. Việc đổ, thải các chất thải hoặc các chất khác được sản sinh trực tiếp hoặc
gián tiếp trong việc khai thác bình thường của tàu thuyền, phương tiện bay, giàn nổi
hoặc các công trình khác trên biển, cũng như các thiết bị của chúng, ngoại trừ các
chất thải hoặc các chất khác được chuyên chở hoặc chuyển tải trên các tàu thuyền,
phương tiện bay, giàn nổi hoặc các công trình khác bố trí ở biển được dùng để đổ
thải các chất đó, trên các tàu thuyền, phương tiện bay, giàn nổi hay các công trình
đó tạo ra;
ii. Việc tàng chứa các chất với mục đích không phải chỉ là để đổ, thải chúng
với điều kiện là việc tàng chứa này không đi ngược lại những mục đích của Công
ước Luân Đôn 1972 và Nghị định thư Luân Đôn 1996.

4


Việc đổ, thải các chất thải hoặc các chất khác phát sinh trực tiếp từ hoặc liên
quan đến việc khai thác, thăm dò và quá trình chế biến tài nguyên khoáng sản lòng
đất dưới đáy biển ngoài khơi không áp dụng các quy định của Công ước Luân Đôn
1972 và Nghị định thư Luân Đôn 1996.
Ngoài ra, Nghị định thư Luân Đôn 1996 mở rộng phạm vi điều chỉnh để
quản lý hoạt động nhận chìm để cấm "thiêu hủy trên biển" đối với quá trình đốt
cháy trên tàu, dàn nổi hoặc cấu trúc nhân tạo khác trên biển, đối với chất thải hoặc
chất khác với mục đích đổ, thải nó một cách thận trọng bằng cách thiêu hủy bằng
nhiệt.

vào hoạt động để bốc dỡ hàng hoá, đón trả hành khách và thực hiện các dịch vụ
khác [15].
(6)Luồng cảng biển: Luồng cảng biển là phần giới hạn vùng nước từ biển
vào cảng được xác định bởi hệ thống báo hiệu hàng hải và các công trình phụ trợ để
bảo đảm cho tàu biển và các phương tiện thuỷ khác ra, vào cảng biển an toàn [15].
Hoạt động đổ thải vật liệu nạo vét theo quy định cũng là một hoạt động của
nhận chìm ở biển.

6


1.2. Tổng quan về khu vực nghiên cứu
1.2.1. Vị trí địa lý

Hình 1.1. Bản đồ hành chính thành phố Hải Phòng
Hải Phòng là thành phố ven biển, nằm phía Đông miền duyên hải Bắc Bộ,
cách thủ đô Hà Nội 102 km, phía Bắc và Đông Bắc giáp Quảng Ninh, phía Tây Bắc
giáp Hải Dương, phía Tây Nam giáp Thái Bình và phía Đông là bờ biển chạy dài
theo hướng Tây Bắc - Đông Nam từ phía Đông đảo Cát Hải đến cửa sông Thái
Bình. Là nơi hội tụ đầy đủ các lợi thế về đường biển, đường sắt, đường bộ và đường
hàng không, giao lưu thuận lợi với các tỉnh trong cả nước và các quốc gia trên thế
giới. Do có cảng biển, Hải Phòng giữ vai trò to lớn đối với xuất nhập khẩu của vùng
Bắc Bộ, tiếp nhận nhanh các thành tựu khoa học - công nghệ từ nước ngoài để rồi
lan tỏa chúng trên phạm vi rộng lớn từ bắc khu Bốn cũ trở ra. Cảng biển Hải Phòng
cùng với sự xuất hiện của cảng Cái Lân (Quảng Ninh) với công suất vài chục triệu
tấn tạo thành cụm cảng có quy mô ngày càng lớn góp phần đưa hàng hóa của Bắc

7



8


quây quần bên nó và nối tiếp với vùng đảo vịnh Hạ Long. Đảo chính Cát Bà ở độ
cao 200 m trên biển, có diện tích khoảng 100 km2, cách thành phố 30 hải lý. Cách
Cát Bà hơn 90 km về phía Đông Nam là đảo Bạch Long Vĩ, khá bằng phẳng và
nhiều cát trắng [1].
Đồi núi, đồng bằng:
Địa hình phía Bắc của Hải Phòng là vùng trung du, có đồi xen kẽ với đồng
bằng và ngả thấp dần về phía Nam ra biển. Khu đồi núi này có liên hệ với hệ núi
Quảng Ninh, di tích của nền móng uốn nếp cổ bên dưới, nơi trước đây đã xảy ra quá
trình sụt võng với cường độ nhỏ, gồm các loại cát kết, đá phiến sét và đá vôi có tuổi
khác nhau được phân bố thành từng dải liên tục theo hướng Tây Bắc - Đông Nam từ
đất liền ra biển gồm hai dãy chính. Dãy chạy từ An Lão đến Đồ Sơn đứt quãng, kéo
dài khoảng 30 km có hướng Tây Bắc - Đông Nam gồm các núi: Voi, Phù Liễn,
Xuân Sơn, Xuân Áng, núi Đối, Đồ Sơn, Hòn Dáu. Dãy Kỳ Sơn - Tràng Kênh và An
Sơn - Núi Đèo, gồm hai nhánh: Nhánh An Sơn - Núi Đèo cấu tạo chính là đá cát kết
có hướng Tây Bắc - Đông Nam gồm các núi Phù Lưu, Thanh Lãng và Núi Đèo; và
nhánh Kỳ Sơn - Trang Kênh có hướng Tây Tây Bắc - Đông Đông Nam gồm nhiều
núi đá vôi [1].
Bờ biển và biển:
Bờ biển Hải Phòng dài trên 125 km2, thấp và khá bằng phẳng, chủ yếu là cát
bùn do 5 cửa sông chính đổ ra biển. Chính vì điều này đã làm cho biển Đồ Sơn
thường xuyên bị vẩn đục nhưng sau khi cải tạo nước biển đã có phần sạch hơn, cát
mịn vàng, phong cảnh đẹp. Ngoài ra, Hải Phòng còn có đảo Cát Bà là khu dự trữ
sinh quyển thế giới có những bãi tắm đẹp, cát trắng, nước trong xanh cùng các vịnh
Lan Hạ.... đẹp và kì thú.
Sông:
Sông ngòi ở Hải Phòng khá nhiều, mật độ trung bình từ 0,6 - 0,8 km/1 km2.
Độ dốc khá nhỏ, chảy chủ yếu theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Đây là nơi tất cả

Hải Phòng có mạng lưới sông ngòi khá dày đặc, mang lại nguồn lợi rất lớn về nước.
Ngoài ra, tại Tiên Lãng còn có mạch suối khoáng ngầm duy nhất ở đồng bằng sông
Hồng.
Tài nguyên biển: Bờ biển Hải Phòng trải dài trên 125 km, mang lại nguồn lợi
rất lớn về cảng, góp phần phát triển thành cảng cửa ngõ quốc tế của cả miền Bắc và

10


cả nước. Ngành du lịch ở đây cũng rất phong phú với những bãi tắm sạch đẹp như
Cát Bà, Đồ Sơn cùng với phong cảnh hữu tình tạo nguồn lợi lớn cho du lịch, Cát Bà
còn có các rặng san hô, hệ thống hang động, biển có nhiều loại hải sản có giá trị
kinh tế.
Tài nguyên khoáng sản: Hải Phòng có tài nguyên đá vôi nhiều, và có mỏ đá
vôi ở Thuỷ Nguyên [1].
1.2.6. Chế độ thủy văn, hải văn
a. Hải văn
Mực nước
Chế độ mực nước thủy triều khu vực Hải Phòng thuộc chế độ nhật triều đều,
điển hình là Hòn Dáu. Hầu hết các ngày trong tháng (trên dưới 25 ngày) có 1 lần
nước lên và 1 lần nước xuống khá đều đặn.
Biên độ triều khu vực này thuộc loại lớn nhất nước ta, đạt từ 3,5 - 4,1m vào
kỳ nước cường. Vào kỳ nước kém mực nước lên xuống chậm, có lúc gần như đứng.
Hàng tháng có chừng 1-3 ngày có 2 lần nước lớn và 2 lần nước ròng.
Dòng chảy
Trong Vịnh Bắc Bộ, cả mùa đông và mùa hè đều tồn tại một xoáy thuận có
tâm nằm ở khoảng giữa Vịnh. Mùa Đông tâm này dịch xuống phía nam còn về mùa
hè thì dịch lên phía bắc. Khu vực ven biển Hải Phòng (nằm ở phía tây Bắc của Vịnh
bắc Bộ) thuộc rìa phía tây bắc của hoàn lưu này nên dòng chảy thường có xu hướng
đi từ bắc xuống nam cả mùa đông cũng như mùa hè.

1.2.7. Đặc điểm địa hình địa chất đáy biển
Khu vực biển Hải Phòng nằm trong phạm vi Vịnh Bắc Bộ. Vì vậy lịch sử
phát triển địa hình đáy biển khu vực Hải Phòng không thể tách khỏi quá trình tiến
hóa của Vịnh Bắc Bộ. Nên đặc điểm địa hình địa chất đáy biển của Hải Phòng được
hình thành chung trong quá trính hình thành địa hình địa chất của Vịnh Bắc Bộ.
Hầu hết diện tích đáy biển Vịnh Bắc Bộ có hành lang rộng và độ dốc thoải
(2-5o). Độ dốc và độ sâu tăng dần về phía Đông Nam Vịnh Bắc Bộ. Đặc trưng
chung là địa hình thoải dần tạo thành những trũng sâu khép kín dài. Trũng sâu nhất

12


nằm ở ngoài khơi trên độ sâu 108 m, về phía Bắc - Đông Bắc đảo Cồn Cỏ, cách đảo
này khoảng 120 km. Trũng kéo dài theo phương Tây Bắc - Đông Nam, là phần kéo
dài của bồn trũng Sông Hồng từ phía lục địa. Phía Bắc trũng này là một trũng có
quy mô nhỏ hơn với độ sâu cực đại đạt đến 75 m chạy dài theo phương Đông Bắc –
Tây Nam, trùng với phương cấu tạo chung của các cấu trúc ven rìa miền Đông Bắc
Việt Nam.
1.2.8. Các hệ sinh thái đặc biển của Hải Phòng
TP. Hải Phòng thuộc phía Tây vịnh Bắc bộ có vị trí địa lý đặc biệt, với
nguồn tài nguyên thiên nhiên vừa có giá trị khai thác, sử dụng, vừa có giá trị bảo
tồn, bảo vệ tạo ra lợi thế phát triển của TP theo định hướng phát triển bền vững. Hải
Phòng có 8/15, quận, huyện tiếp giáp với biển và 2 huyện đảo Cát Hải và Bạch
Long Vỹ. Hải Phòng có nguồn tài nguyên biển khá phong phú, đặc biệt là các hệ
sinh thái biển có giá trị cao đều như rừng ngập mặn, san hô, cỏ biển, rạn đá, tùng
áng, bãi triều, cửa sông và vùng đáy biển rộng lớn, với diện tích khoảng 4.000 km2.
1.3. Tổng quan về hoạt động đổ thải chất liệu nạo vét luồng cảng
1.3.1. Tổng quan quản lý hoạt động đổ thải trên biển của thế giới
Đối với các quốc gia có biển, việc nội luật hóa các quy định quốc tế để kiểm
soát chặt chẽ ô nhiễm biển không những là nghĩa vụ mà còn là trách nhiệm phải

nhận chìm trên biển của một số quốc gia tiên tiến trên thế giới, việc xem xét thể chế
luật pháp không thể tách rời với việc xác định mô hình quản lý bãi chứa chất thải
trên biển và quản lý hoạt động đổ thải chất thải trên biển. Vì vậy, Việt Nam cần
nghiên cứu, rút kinh nghiệm vì hiện tại cả chế độ luật pháp và mô hình tổ chức bộ
máy quản lý hoạt động đổ thải do nhận chìm trên biển hầu như chưa hình thành.
1.3.1.1. Mô hình quản lý bãi chứa chất thải trên biển và quản lý hoạt động
đổ thải chất thải trên biển của Mỹ
Những quy định về quản lý hoạt động nhận chìm trên biển (bao gồm cả quản
lý bãi chứa chất thải trên biển và chất thải được đổ thải trên biển) của Mỹ được quy
định tại Chương 27 Nhận chìm trên biển, Phần 33 về hàng hải và các vùng nước
hàng hải trong Bộ luật của Mỹ năm 2010 (US Code 2010 Title 33 NAVIGATION
AND NAVIGABLE WATERS CHAPTER 27 OCEAN DUMPING).

14


Các quy định về quản lý hoạt động nhận chìm trên biển (bao gồm cả quản lý
bãi chứa chất thải trên biển và chất thải được đổ thải trên biển) của Mỹ phù hợp với
Nghị định thư Luân Đôn 1996.
Mỹ có hệ thống các bãi đổ thải trên biển được đăng tải công khai.Việc kiểm
soát đổ thải thông qua các giấy phép được cấp trong suốt quá trình từ khâu nạo vét,
xếp hàng là chất thải, các vật, chất lên tàu đến việc nhận chìm tại các bãi đổ thải
trên biển.
Các chất thải hay vật, chất khác được phép đổ thải trên biển phù hợp Phụ lục
I của Nghị định thư Luân Đôn 1996.
Đây là mô hình phối hợp đa ngành, gồm có bốn cơ quan liên bang chịu trách
nhiệm chính theo Đạo Luật của Mỹ về nhận chìm trên đại dương (Ocean Dumping
Act): Cơ quan Bảo vệ Môi trường của Mỹ; Quân đoàn kỹ sư của Quân đội Mỹ (US
Army Corps of Engineers); Cơ quan Khí quyển và Đại dương Quốc gia của Mỹ
(NOAA); Cảnh sát biển Mỹ (US Coast Guard). Ngoài ra, các cơ quan đặc biệt về

Theo Báo cáo cuối cùng về giấy phép ban hành năm 2008 (Thông tư của
IMO số LC-LP.1/Circ.52 ngày 01/5/2012) thì trong năm 2008, Mỹ cấp 15 giấy phép
để nhận chìm trên biển (có 01 giấy phép đặc biệt).

Hình 1.2. Các Bang đã cấp phép chất thải trên biển của Mỹ đến năm 2000
[Nguồn: IMO, 2008]

16


1.3.1.2. Mô hình quản lý bãi chứa chất thải trên biển và quản lý hoạt động
đổ thải chất thải trên biển của Ireland
Luật pháp về quản lý hoạt động nhận chìm trên biển (bao gồm cả quản lý bãi
chứa chất thải trên biển và chất thải được đổ thải trên biển) của Ireland được quy
định tại Đạo luật về nhận chìm trên biển của Ireland (Dumping At Sea Act, 1981)
để quy định việc nhận chìm chất thải hoặc các chất khác trong vùng nội thủy và
lãnh hải, trên thềm lục địa và vào các khu vực biển khác thuộc thẩm quyền của
Ireland [27].
Bộ Giao thông vận tải là Cơ quan có thẩm quyền quản lý việc nhận chìm các
chất thải trên biển. Cơ quan này xác định các khu vực nhận chìm trên biển.
Bộ Giao thông vận tải có trách nhiệm xem xét và cấp phép nhận chìm, thời
hạn hiệu lực, số lượng, chủng loại chất thải, và phương pháp nhận chìm sau khi
tham khảo ý kiến của các Bộ: Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Thủy sản và Lâm
nghiệp, Bộ Công nghiệp, Thương mại và Du lịch, Bộ Năng lượng để quyết định cấp
hoặc từ chối cấp giấy phép.
Việc cấp giấy phép phải được kiểm soát nghiêm ngặt theo các quy định. Bộ
Giao thông vận tải có thể thay đổi hoặc thu hồi giấy phép căn cứ sự biến đổi của
môi trường sinh thái biển và sự phát triển của khoa học và công nghệ. Bộ Giao
thông vận tải sau khi tham khảo ý kiến với Bộ Môi trường, Bộ Thủy sản và Lâm
nghiệp, Bộ Công nghiệp, Thương mại và Du lịch và Bộ Năng lượng có thể thu hồi

tính chất, đặc điểm hóa học, vật lý, sinh học và thông tin của các vị trí (khu vực)
chìm vật liệu để xác định nguồn ô nhiễm cũng như phương án xử lý vật liệu đã bị ô
nhiễm trên đất liền. Các hướng dẫn đánh giá vật liệu đề xuất cho nhận chìm (của
Canada) được xác định theo các hướng dẫn đánh giá đối với chất thải của thủy sản,
đối với tàu, công trình, cấu trúc nhân tạo, đối với phế liệu kim loại và vật liệu cồng
kềnh cũng như đối với các vật liệu khác. Canada cũng sử dụng phương pháp thử
nghiệm theo từng cấp độ để xem xét đặc tính chất thải.
Yêu cầu của Canada khi xem xét đặc tính hóa học thường bao gồm các phân
tích về độ chính xác theo các giới hạn cụ thể. Phân tích phải bao gồm ít nhất là hai
kim loại vi lượng mà giới hạn đã được thiết lập theo quy định (thủy ngân và
cadmium), và hai hợp chất hóa học hữu cơ (hydrocarbon tổng poly-hạt nhân thơm,
PAH, và tổng số biphenyl đã polyclo hóa, PCB). Các tài liệu hướng dẫn cũng liệt kê
một số hợp chất hữu cơ và kim loại nặng mà cơ quan quản lý có thể yêu cầu phân
tích.
Việc cấp phép, giám sát việc chuyên chở lên tàu, phương tiện để đưa chất
thải đi nhận chìm trên biển, kiểm soát việc vận chuyển, đổ thải tại các Bãi chứa chất
thải trên biển được giao cho cơ quan quản lý hàng hải, cảng vụ và các lực lượng có
chức năng kiểm soát tàu, phương tiện hoạt động trên biển trong các hoạt động bảo
đảm an ninh, an toàn và môi trường hàng hải để thực thi đồng thời các quyền, nghĩa
vụ của quốc gia có tàu treo cờ, của quốc gia cảng biển và của quốc gia ven biển theo
Công ước về Luật Biển năm 1982, các điều ước quốc tế của Tổ chức Hàng hải Quốc
tế IMO trong quản lý, kiểm soát tàu, thuyền, cảng biển và bảo đảm an ninh, an toàn
và môi trường trên biển [1].
1.3.1.4. Mô hình quản lý bãi chứa chất thải trên biển và quản lý hoạt động
đổ thải chất thải trên biển của Trung Quốc
Luật pháp về quản lý hoạt động nhận chìm trên biển (bao gồm cả quản lý bãi
chứa chất thải trên biển và chất thải được đổ thải trên biển) của Trung Quốc được
quy định tại Quy định về nhận chìm trên biển của Trung Quốc (do Hội đồng Nhà

19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status