1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Kể từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, đặc biệt là
những năm gần đây tình hình tranh chấp đất đai ngày càng gia tăng về số
lượng và phức tạp về tính chất, nhất là ở những vùng đang đô thị hóa nhanh.
Các dạng tranh chấp đất đai phổ biến trong thực tế là: tranh chấp hợp đồng
chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất;
tranh chấp do lấn, chiếm đất; tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền
với đất; tranh chấp đất đai trong các vụ án ly hôn... Có thể liệt kê rất nhiều
nguyên nhân dẫn đến tranh chấp đất đai như: Việc quản lý đất đai còn nhiều
thiếu sót, sơ hở; việc giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
(GCNQSDĐ) tiến hành chậm; việc lấn chiếm đất đai diễn ra ngày càng phổ biến
nhưng không được ngăn chặn và xử lý kịp thời; đất đai từ chỗ chưa được thừa
nhận có giá trị nay trở thành tài sản có giá trị cao, thậm chí ở nhiều nơi, nhiều
lúc giá đất tăng đột biến...
Các tranh chấp đất đai diễn ra gay gắt và phát sinh ở hầu hết các địa
phương. Tính bình quân trong cả nước tranh chấp đất đai chiếm từ 55 - 60%,
thậm chí nhiều tỉnh phía Nam chiếm từ 70 - 80% các tranh chấp dân sự phát
sinh (thành phố Hồ Chí Minh, An Giang, Bạc Liêu, Long An...).
Nhà nước ta đã rất cố gắng trong việc giải quyết các tranh chấp đất
đai nhằm ổn định tình hình chính trị, xã hội. Hệ thống các văn bản pháp luật
đất đai ngày càng được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện, trong đó quy định
việc giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân
(UBND) và Tòa án nhân dân (TAND) (các Điều 21, 22 Luật Đất đai năm
1987; Điều 38 của Luật Đất đai năm 1993; Điều 136 Luật Đất đai năm
2003). Tuy nhiên, các quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai
3
- Mục đích nghiên cứu của luận văn là phân tích, đánh giá thực trạng
tranh chấp và giải quyết tranh chấp đất đai ở nước ta, qua đó đề xuất các giải
pháp hoàn thiện pháp luật đất đai và cơ chế áp dụng pháp luật để giải quyết có
hiệu quả hơn các tranh chấp đất đai.
- Để đạt được mục đích này, luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu những
quy định của pháp luật đất đai liên quan đến việc giải quyết tranh chấp đất
đai, thực trạng giải quyết tranh chấp đất đai ở Hà Nội. Trên cơ sở đó chỉ ra
những thiếu sót, tồn tại của pháp luật đất đai hiện hành về thẩm quyền giải
quyết tranh chấp đất đai; đề xuất các giải pháp nhằm hoàn hiện pháp luật đất
đai, nâng cao hiệu quả của công tác giải quyết tranh chấp đất đai phúc đáp các
đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong những
năm đầu của thế kỷ XXI.
3. Phương pháp nghiên cứu
- Để giải quyết các vấn đề do đề tài đặt ra, người viết luận văn sử
dụng phương pháp lịch sử, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích,
trao đổi chuyên gia.
4. Ý nghĩa của các kết quả nghiên cứu
Các kết quả nghiên cứu của đề tài này có thể được sử dụng làm tài liệu
tham khảo tại các cơ sở đào tạo và nghiên cứu về luật học. Một số kiến nghị
của đề tài có giá trị tham khảo đối với các cơ quan xây dựng và thực thi pháp
luật trong quá trình xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực hiện pháp luật đất
đai nói chung và pháp luật giải quyết tranh chấp đất đai nói riêng ở nước ta.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn có 3 chương:
hình thái kinh tế - xã hội nào. Trong xã hội tồn tại lợi ích giai cấp đối
kháng thì tranh chấp đất đai mang màu sắc chính trị, đất đai luôn là đối
tượng tranh chấp giữa giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột. Việc giải
quyết triệt để các tranh chấp đất đai ở các xã hội phải được thực hiện
bằng một cuộc cách mạng xã hội. Ở xã hội không tồn tại mâu thuẫn về lợi
ích giai cấp đối kháng, tranh chấp đất thường là mâu thuẫn về lợi ích kinh
tế, quyền và nghĩa vụ của các bên. Việc giải quyết tranh chấp đất đai do
các bên tự tiến hành thông qua con đường thương lượng, hòa giải hoặc do
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện dựa trên việc áp dụng các
quy định của pháp luật.
6
Tranh chấp đất đai, hiểu theo nghĩa rộng là biểu hiện sự mâu thuẫn,
bất đồng trong việc xác định quyền quản lý, quyền chiếm hữu, quyền sử
dụng đối với đất đai, phát sinh trực tiếp hoặc gián tiếp trong lĩnh vực quản
lý và sử dụng đất đai.
Theo nghĩa hẹp, tranh chấp đất đai là tranh chấp phát sinh giữa các
chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá
trình quản lý và sử dụng đất đai [43, tr. 245].
Trong thực tế, tranh chấp đất đai được hiểu là sự tranh chấp về
quyền quản lý, quyền sử dụng xung quanh một khu đất cụ thể mà mỗi bên
đều cho rằng mình phải được quyền đó do pháp luật quy định và bảo hộ.
Vì vậy, họ không thể cùng nhau tự giải quyết các tranh chấp đó mà phải
yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phân xử (giải quyết).
1.1.2. Phân loại tranh chấp đất đai
Trước những năm 1980, Nhà nước ta thừa nhận nhiều hình thức sở
hữu đối với đất đai: Sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân... Do
đó ở thời kỳ này tranh chấp đất đai bao gồm: Tranh chấp về quyền sở hữu đất
nguyên nhân dẫn đến tranh chấp.
- Tranh chấp hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất:
Việc phát sinh dạng tranh chấp này là do một bên hoặc cả hai bên vi
phạm các điều khoản của hợp đồng như:
+ Hết thời hạn thuê đất nhưng không chịu trả lại đất cho bên cho thuê;
+ Không trả tiền thuê đất;
+ Sử dụng đất không đúng mục đích khi thuê;
+ Đòi lại đất trước thời hạn hợp đồng.
- Tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất:
Dạng tranh chấp này thường phát sinh sau khi thời hạn thực hiện nghĩa
vụ đã hết, nhưng bên vay đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đã cam kết.
- Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất:
Dạng tranh chấp này thường xảy ra do các nguyên nhân chủ yếu sau:
8
+ Người có quyền sử dụng đất chết không để lại di chúc và những
người thừa kế theo pháp luật không thỏa thuận được với nhau về việc phân
chia di sản thừa kế hoặc không hiểu biết về các quy định của pháp luật thừa
kế, nên dẫn đến việc phát sinh tranh chấp.
+ Người sử dụng đất trước khi chết có lập di chúc để lại thừa kế quyền
sử dụng đất nhưng di chúc đó trái pháp luật.
- Tranh chấp do lấn, chiếm đất:
Loại tranh chấp này xảy ra do một hoặc cả hai bên đã chiếm dụng đất
của nhau. Có trường hợp trước đây khi thi hành chính sách cải tạo nông
nghiệp, Nhà nước đã giao đất cho người khác sử dụng, nay chủ cũ tự động
chiếm lại đất canh tác và dẫn đến tranh chấp.
- Tranh chấp về cản trở việc thực hiện quyền sử dụng đất:
Loại tranh chấp này tuy số lượng tranh chấp phát sinh ít nhưng tính
Hoạt động quản lý và sử dụng đất trong nền kinh tế thị trường diễn ra rất đa
dạng, phong phú với việc sử dụng đất vào nhiều mục đích khác nhau, với diện
tích, nhu cầu sử dụng khác nhau. Trong nền kinh tế thị trường, việc quản lý và
sử dụng đất không đơn thuần chỉ là việc quản lý và sử dụng một tư liệu sản
xuất. Đất đai đã trở thành một loại hàng hóa đặc biệt, có giá trị thương mại,
giá đất lại biến động theo quy luật cung cầu trên thị trường, nên việc quản lý
và sử dụng nó không đơn thuần chỉ là việc khai thác giá trị sử dụng mà còn
bao gồm cả giá trị sinh lời của đất (thông qua các hành vi kinh doanh quyền
sử dụng đất). Tất nhiên, khi nội dung quản lý và sử dụng đất phong phú và
phức tạp hơn thì những mâu thuẫn, bất đồng xung quanh việc quản lý và sử
dụng đất đai cũng trở nên gay gắt và trầm trọng hơn.
Thứ ba, tranh chấp đất đai phát sinh gây hậu quả xấu về nhiều mặt
như: Có thể gây mất ổn định về chính trị, phá vỡ mối quan hệ xã hội, làm mất
đoàn kết trong nội bộ nhân dân, phá vỡ trật tự quản lý đất đai, gây đình trệ sản
xuất, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích không những của bản thân các bên tranh
chấp mà còn gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước và xã hội.
10
Thứ tư, đối tượng của tranh chấp đất đai là quyền quản lý và quyền sử
dụng đất. Đất đai là loại tài sản đặc biệt không thuộc quyền sở hữu của các
bên tranh chấp mà thuộc quyền sở hữu của Nhà nước.
1.2. NGUYÊN NHÂN TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI
1.2.1. Nguyên nhân khách quan
Tranh chấp đất đai ở nước ta phát sinh có nguồn gốc sâu xa do lịch sử
để lại. Ở miền Bắc, sau Cách mạng tháng 8 và sau năm 1953, Đảng và Chính
phủ đã tiến hành cải cách ruộng đất, xóa bỏ chế độ chiếm hữu ruộng đất của
thực dân, phong kiến, thiết lập quyền sở hữu ruộng đất cho người nông dân.
thực hiện một số chính sách về đất đai ở các giai đoạn trước đây mà không có
các văn bản xác định việc sử dụng đất ổn định của họ.
1.2.2. Nguyên nhân chủ quan
1.2.2.1. Về cơ chế quản lý đất đai
Trong thời gian qua, công tác quản lý nhà nước về đất đai còn bị
buông lỏng, nhiều sơ hở, có khi phạm sai lầm, giải quyết tùy tiện, sai pháp
luật
Trong cơ chế quản lý tập trung, kế hoạch hóa cao độ, Nhà nước
phân công, phân cấp cho quá nhiều ngành, dẫn đến việc quản lý đất đai
thiếu chặt chẽ, nhiều sơ hở. Có thời kỳ mỗi loại đất do một ngành quản lý
dẫn đến việc tranh chấp về đất thuộc quyền quản lý của nhiều ngành khác
nhau.
Trong cơ chế thị trường, Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo
quy hoạch chung, có sự phân công, phân cấp trách nhiệm quản lý đất đai khá
rõ. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn tồn tại nhiều sai phạm, non kém về trình
độ quản lý của đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý đất đai. Điều này góp
phần làm xuất hiện nhiều tranh chấp đất đai phức tạp, khó giải quyết. Cụ thể:
- Hồ sơ địa chính chưa hoàn chỉnh, đồng bộ, nên thiếu căn cứ pháp lý
và thực tế để xác định quyền sử dụng và quản lý đất đai của tổ chức, cá nhân,
12
đặc biệt là ở những vùng mà quan hệ đất đai phức tạp và có nhiều biến động.
Trong nhiều trường hợp, việc tranh chấp đất đai lại bắt nguồn từ những tài
liệu lịch sử của chế độ cũ để lại. Hơn nữa, việc giao đất lại không được tiến
hành theo một quy trình chặt chẽ, nên hồ sơ đất đai không đồng bộ và bị thất
lạc.
- Quy hoạch sử dụng đất đai chưa đi vào nề nếp, nên nhiều trường hợp
sử dụng đất không hợp lý khó bị phát hiện. Khi phát hiện thì lại không được
tổ chức gây rối, kích động vi phạm pháp luật thì lúng túng trong xử lý, nương
nhẹ trong thi hành pháp luật, không tổ chức được lực lượng quần chúng cốt
cán đấu tranh với mọi biểu hiện tiêu cực, mà trái lại, để quần chúng bị bọn
xấu lôi kéo. Tổ chức Đảng và chính quyền trở thành người bị động, phải chạy
theo giải quyết những vụ việc đã xảy ra hoặc xử lý những hậu quả nặng nề.
1.2.2.4. Về đường lối chính sách, pháp luật về đất đai
Chính sách đất đai và các chính sách khác có liên quan đến đất đai
chưa đồng bộ, có mặt không rõ ràng và đang còn biến động. Thực tế áp
dụng các chính sách đất đai còn tùy tiện dẫn đến tình trạng: Người có khả
năng sản xuất nông nghiệp thì thiếu ruộng đất, ngược lại, người có ruộng
lại không có khả năng hoặc nhu cầu sản xuất, để đất đai hoang hóa hoặc
sử dụng đất kém hiệu quả. Tình trạng người nông dân phải ra các đô thị bán
sức lao động, gây mất ổn định cơ cấu lao động sản xuất cũng có nguyên
nhân từ việc thiếu đất để sản xuất.
Thực tiễn đã chứng minh những sai lầm trong phong trào hợp tác hóa
nông nghiệp như nóng vội, gò ép, đưa quy mô hợp tác xã (HTX) nhỏ lên quy
mô HTX lớn không phù hợp với trình độ năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ,
đặc biệt là đội ngũ cán bộ cơ sở đã dẫn đến hậu quả là đất đai sử dụng bừa
bãi, lãng phí và kém hiệu quả.
Cùng với việc đổi mới cơ chế quản lý trong nông nghiệp được đổi
mới, người sử dụng đất có nhu cầu sử dụng đất ngày càng cao, đòi hỏi phải có
một diện tích đất nhất định để sản xuất. Do đó đã xuất hiện tư tưởng đòi lại đất
để sản xuất. Chính sách đất đai chưa phù hợp, chậm đổi mới đã tạo cơ sở cho
14
việc lấn chiếm đất đai diễn ra khá phổ biến, song chưa được giải quyết và xử lý
kịp thời.
Bên cạnh đó, việc Nhà nước chia, tách, nhập hoặc thành lập mới
tôn trọng pháp luật cho mọi công dân, ngăn ngừa những vi phạm pháp luật
có thể xảy ra.
Giải quyết tranh chấp đất đai, với ý nghĩa là một nội dung của chế độ
quản lý nhà nước đối với đất đai, được hiểu là hoạt động của các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền, nhằm tìm ra các giải pháp đúng đắn trên cơ sở pháp luật,
nhằm giải quyết các bất đồng, mâu thuẫn giữa các bên, khôi phục lại quyền lợi
cho bên bị xâm hại. Đồng thời xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật đất
đai.
Như vậy, giải quyết tranh chấp đất đai là việc vận dụng đúng đắn các
quy định của pháp luật để bảo vệ tốt nhất các quyền và lợi ích hợp pháp của
người sử dụng đất.
1.3.2. Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp đất đai
Trong nền kinh tế thị trường với sự tham gia của nhiều thành phần
kinh tế, quan hệ pháp luật đất đai đã trở nên đa dạng, phức tạp kéo theo
các tranh chấp đất đai phát sinh cũng đa dạng, phức tạp và gay gắt. Vì vậy,
việc giải quyết tranh chấp đất đai phải đáp ứng được những yêu cầu nhất
định mà thực tế đã đặt ra. Muốn đáp ứng được các yêu cầu đó, thì việc
giải quyết tranh chấp đất đai phải quán triệt các nguyên tắc sau đây:
1.3.2.1. Nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước
thống nhất quản lý
Điều 17 Hiến pháp 1992 khẳng định: "Đất đai thuộc sở hữu toàn
dân do Nhà nước thống nhất quản lý". Cụ thể hóa Hiến pháp 1992, Luật
Đất đai 2003 đã quy định: "Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã
giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách đất
đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm
16
thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội Chủ
18
hệ thống tương đối hoàn chỉnh, một bộ phận của hệ thống pháp luật Việt
Nam. Từ những văn bản đơn hành hiệu lực chưa cao (Sắc lệnh, Nghị định,
Quyết định, Thông tư…), đã ra đời văn bản luật hình thức cao nhất có hiệu
lực cao điều chỉnh các quan hệ đất đai ở nước ta, đó là Luật Đất đai.
Thứ hai, sự hình thành và phát triển của hệ thống các văn bản pháp
luật về đất đai là một quá trình lâu dài, thể hiện ở cả hai mặt: số lượng và chất
lượng, gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật
Việt Nam. Hệ thống pháp luật đất đai nói chung và pháp luật về giải quyết
tranh chấp đất đai nói riêng đã được xây dựng và từng bước hoàn thiện nhằm
phúc đáp các yêu cầu về quản lý và sử dụng đất đai qua các thời kỳ, cụ thể đề
cập đến một số văn bản pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai tiêu biểu
qua các giai đoạn như sau:
1.4.1. Thời kỳ trước khi ban hành Hiến pháp 1980
Trong thời kỳ này, các quy định về thẩm quyền giải quyết tranh
chấp đất đai chưa rõ ràng, cụ thể, ngoại trừ các quy định về giải quyết
tranh chấp đất bãi sa bồi (đất canh tác).
Thông tư 45/NV-TC ngày 02/7/1958 của Bộ Nội vụ về việc phân phối
và quản lý đất bãi sa bồi quy định thẩm quyền giải quyết "tranh chấp hoa màu
do chính quyền và nông hội giải quyết, nếu đặc biệt khó khăn thì đưa ra Tòa án
xét xử"; thẩm quyền giải quyết "tranh chấp địa giới hành chính đất bãi sa bồi"
do Ủy ban hành chính xã đang quản lý giải quyết, nếu ranh giới thuộc nhiều
xã thì địa phận xã nào xã đó quản lý hoặc xã có điều kiện thuận tiện hơn quản
lý, nếu xen kẽ nhiều xã thì xã nào có nhiều số dân hơn trên đất bãi sa bồi quản
lý và chịu trách nhiệm đảm bảo cho các xã ít dân sản xuất trên bãi sa bồi.
Như vậy, giai đoạn này thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của
Ủy ban hành chính các cấp chưa được quy định rõ ràng. Thực tế, việc giải
quyết các tranh chấp đất đai chủ yếu do Ủy ban hành chính cấp xã thực hiện
20
Thời kỳ này đã xuất hiện thêm các tranh chấp về đất hương hỏa, đất
thổ cư; tranh chấp đất giữa đồng bào địa phương với những người từ nơi khác
đến xây dựng vùng kinh tế mới. Tính chất của tranh chấp đất đai thời kỳ này
trầm trọng hơn và gay gắt hơn. Tuy vậy, việc giải quyết tranh chấp đất đai
còn quan liêu, mang nặng tính mệnh lệnh hành chính. Do đó, tranh chấp đất
đai vẫn còn tồn tại kéo dài, việc sử dụng đất kém hiệu quả, mâu thuẫn vẫn còn
trầm trọng kéo theo sự trì trệ của nền sản xuất hàng hóa.
* Các văn bản pháp luật quy định thẩm quyền giải quyết tranh chấp
đất đai trong giai đoạn này là:
- Quyết định số 201/CP ngày 01/7/1980 của Hội đồng Chính phủ về
việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất
trong cả nước lần đầu tiên quy định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai
theo ngành, theo cấp (phần VII).
- Thông tư 55-ĐKTK ngày 05/1/1981 của Tổng cục Quản lý ruộng đất
hướng dẫn việc giải quyết các trường hợp sử dụng đất không hợp pháp, không
hợp lý.
- Thông tư 293-TT/ RĐ ngày 22/10/1985 của Tổng cục Quản lý ruộng
hướng dẫn việc giải quyết tranh chấp đất bãi sa bồi.
1.4.2.2. Giai đoạn từ khi Luật Đất đai 1987 được ban hành đến
trước khi Luật Đất đai 1993 ra đời
Hiến pháp 1980 cũng như Luật Đất đai 1987 đều khẳng định đất đai
thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý. Song các văn bản
pháp luật hướng dẫn thi hành đã không xác định rõ ràng quyền lợi của
người sử dụng đất đã làm hạn chế hiệu quả sử dụng đất.
Trong giai đoạn này, nổi trội nhất phải kể đến chủ trương thực hiện cơ
chế quản lý kinh tế mới trong nông nghiệp theo Nghị quyết 10 ngày 5/4/1988
của Bộ Chính trị. Mục đích là gắn lợi ích của người lao động với từng mảnh
22
+ Quyết định số 13- HĐBT ngày 01/ 02/ 1989 của Hội đồng Bộ
trưởng (nay là Chính phủ) về việc giải quyết một số vấn đề cấp bách về ruộng
đất.
+ Nghị định 30-HĐBT ngày 23/3/1989 của Hội đồng Bộ trưởng (nay
là Chính phủ) về việc thi hành Luật Đất đai (Điều 15, 16).
+ Chỉ thị số 364-CT ngày 06/11/1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ
trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) về việc giải quyết tranh chấp đất đai
liên quan đến địa giới hành chính.
Các văn bản pháp luật này đã tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết
tranh chấp đất đai trong giai đoạn này, góp phần vào việc giải quyết mâu
thuẫn trong nội bộ nhân dân, ổn định sản xuất.
1.4.2.3. Giai đoạn từ khi Luật Đất đai 1993 ban hành đến nay
Sau khi Hiến pháp 1992 ra đời, với các quy định mang tính nền tảng
là đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý, Nhà
nước giao đất cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu
dài và người sử dụng đất, được để lại thừa kế và chuyển quyền sử dụng
đất theo quy định của pháp luật. Với định hướng cơ bản đó, Luật Đất đai
1993 ra đời đã mở rộng hơn các quyền của người sử dụng đất. Người sử
dụng đất có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, thừa kế
quyền sử dụng đất. Bộ luật Dân sự năm 1995 thừa nhận hộ gia đình là một
đơn vị kinh tế tự chủ, cụ thể hóa các quyền và nghĩa vụ của chủ thể khi tham
gia vào quan hệ giao dịch dân sự về đất đai. Hơn nữa, trong cơ chế kinh tế
thị trường, đất đai trở thành tài sản đặc biệt, có giá; người sử dụng đất có
thể chuyển đổi, chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhằm đáp ứng nhu cầu
sản xuất và đời sống của bản thân. Khi cần, họ có thể đem quyền sử dụng
đất đai đi thế chấp để vay vốn phát triển sản xuất. Những quy định mới
+ Thông tư liên tịch số 02/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-TCĐC của Tòa
án nhân dân tối cao (TANDTC), Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC)
24
và Tổng cục Địa chính ngày 28/7/1997 hướng dẫn về thẩm quyền của TAND
trong việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất theo quy định tại
khoản 3 Điều 38 Luật Đất đai.
+ Thông tư liên tịch số 01/2002/TTLT-TAND-VKSNDTC-TCĐC
ngày 03/1/2002 của TANDTC, VKSNDTC và Tổng cục Địa chính "Hướng
dẫn về thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong việc giải quyết tranh chấp liên
quan đến quyền sử dụng đất".
Mới đây, ngày 26/11/2003, Quốc hội khóa XI kỳ họp thứ 4 đã thông
qua Luật Đất đai mới - Luật Đất đai năm 2003 (trong đó quy định thẩm quyền
giải quyết tranh chấp đất đai từ Điều 135 đến Điều 137), có hiệu lực thi hành vào
ngày 1/7/2004.
25
Chương 2
THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI
(QUA THỰC TIỄN Ở HÀ NỘI)
2.1. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH QUẢN LÝ, SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI VÀ
TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1.1. Tình hình quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn thành
phố Hà Nội