LUẬN VĂN:
Giải quyết tranh chấp đất đai
(qua thực tiễn ở Hà Nội)
Nhà môi giới bất động sản giá rẻ
chuyên tư vấn mua bán thuê cho thuê đầu tư bất động sản tại hà nội việt nam
Hoàng mai chung 0936899868 email:
website: www.hoangmaichung.com
M đầu
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Kể từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, đặc biệt là những năm gần
đây tình hình tranh chấp đất đai ngày càng gia tăng về số lượng và phức tạp về tính chất,
nhất là ở những vùng đang đơ thị hóa nhanh. Các dạng tranh chấp đất đai phổ biến trong thực
tế là: tranh chấp hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho th, thừa kế, thế chấp quyền sử
dụng đất; tranh chấp do lấn, chiếm đất; tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với
đất; tranh chấp đất đai trong các vụ án ly hơn... Có thể liệt kê rất nhiều ngun nhân dẫn đến
tranh chấp đất đai như: Việc quản lý đất đai còn nhiều thiếu sót, sơ hở; việc giao đất và cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) tiến hành chậm; việc lấn chiếm đất đai diễn
ra ngày càng phổ biến nhưng khơng được ngăn chặn và xử lý kịp thời; đất đai từ chỗ chưa
được thừa nhận có giá trị nay trở thành tài sản có giá trị cao, thậm chí ở nhiều nơi, nhiều lúc
giá đất tăng đột biến...
Các tranh chấp đất đai diễn ra gay gắt và phát sinh ở hầu hết các địa phương. Tính
bình qn trong cả nước tranh chấp đất đai chiếm từ 55 - 60%, thậm chí nhiều tỉnh phía
Nam chiếm từ 70 - 80% các tranh chấp dân sự phát sinh (thành phố Hồ Chí Minh, An
Giang, Bạc Liêu, Long An...).
Nhà nước ta đã rất cố gắng trong việc giải quyết các tranh chấp đất đai nhằm ổn
định tình hình chính trị, xã hội. Hệ thống các văn bản pháp luật đất đai ngày càng được sửa
có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn hiện nay. Với nhận thức như vậy, tôi đã lựa
chọn vấn đề "Giải quyết tranh chấp đất đai (qua thực tiễn ở Hà Nội)" làm đề tài luận văn
thạc sĩ luật học của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu của luận văn là phân tích, đánh giá thực trạng tranh chấp và
giải quyết tranh chấp đất đai ở nước ta, qua đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật
đất đai và cơ chế áp dụng pháp luật để giải quyết có hiệu quả hơn các tranh chấp đất đai.
- Để đạt được mục đích này, luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu những quy định của
pháp luật đất đai liên quan đến việc giải quyết tranh chấp đất đai, thực trạng giải quyết
tranh chấp đất đai ở Hà Nội. Trên cơ sở đó chỉ ra những thiếu sót, tồn tại của pháp luật đất
đai hiện hành về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai; đề xuất các giải pháp nhằm
hoàn hiện pháp luật đất đai, nâng cao hiệu quả của công tác giải quyết tranh chấp đất đai
phúc đáp các đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong những
năm đầu của thế kỷ XXI.
3. Phương pháp nghiên cứu
- Để giải quyết các vấn đề do đề tài đặt ra, người viết luận văn sử dụng phương
pháp lịch sử, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, trao đổi chuyên gia.
4. ý nghĩa của các kết quả nghiên cứu
Các kết quả nghiên cứu của đề tài này có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo
tại các cơ sở đào tạo và nghiên cứu về luật học. Một số kiến nghị của đề tài có giá trị tham
khảo đối với các cơ quan xây dựng và thực thi pháp luật trong quá trình xây dựng, hoàn
thiện và tổ chức thực hiện pháp luật đất đai nói chung và pháp luật giải quyết tranh chấp
đất đai nói riêng ở nước ta.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có 3
chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất
đai.
Theo nghĩa hẹp, tranh chấp đất đai là tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham
gia quan hệ pháp luật đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá trình quản lý và sử dụng đất
đai [43, tr. 245].
Trong thực tế, tranh chấp đất đai được hiểu là sự tranh chấp về quyền quản lý,
quyền sử dụng xung quanh một khu đất cụ thể mà mỗi bên đều cho rằng mình phải được
quyền đó do pháp luật quy định và bảo hộ. Vì vậy, họ không thể cùng nhau tự giải quyết
các tranh chấp đó mà phải yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phân xử (giải quyết).
1.1.2. Phân loại tranh chấp đất đai
Trước những năm 1980, Nhà nước ta thừa nhận nhiều hình thức sở hữu đối với đất
đai: Sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân... Do đó ở thời kỳ này tranh chấp
đất đai bao gồm: Tranh chấp về quyền sở hữu đất đai, quyền quản lý và sử dụng đối với
đất đai. Sau Hiến pháp 1980 ra đời, Nhà nước trở thành đại diện chủ sở hữu duy nhất đối
với toàn bộ toàn bộ vốn đất đai trong cả nước, do đó các tranh chấp đất đai hiện nay chỉ
bao gồm tranh chấp về quyền quản lý và sử dụng đất đai. Theo quy định của pháp luật hiện
hành có ba loại hình tranh chấp đất đai:
+ Tranh chấp về quyền sử dụng đất đai;
+ Tranh chấp về tài sản có liên quan đến quyền sử dụng đất;
+ Tranh chấp về quyền sử dụng đất có liên quan đến địa giới đơn vị hành chính
(xã, huyện, tỉnh).
Tuy nhiên, trên thực tế thường xuất hiện dạng tranh chấp đất đai phổ biến sau đây:
- Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất:
Dạng tranh chấp này thường xảy ra ở vùng nông thôn, việc phát sinh thường là do
lúc chuyển đổi đất đai hai bên không làm hợp đồng hoặc hợp đồng có được soạn thảo
nhưng nội dung rất sơ sài, đơn giản. Vì thế, sau một thời gian một bên cảm thấy quyền lợi
bị thiệt thòi nên phát sinh tranh chấp, mặc dù vào thời điểm chuyển đổi hai bên đều đã nhất
trí về các điều kiện để chuyển đổi quyền sử dụng đất.
- Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất:
Hoàng mai chung 0936899868 email:
website: www.hoangmaichung.com
Loại tranh chấp này xảy ra do một hoặc cả hai bên đã chiếm dụng đất của nhau.
Có trường hợp trước đây khi thi hành chính sách cải tạo nơng nghiệp, Nhà nước đã giao
đất cho người khác sử dụng, nay chủ cũ tự động chiếm lại đất canh tác và dẫn đến tranh
chấp.
- Tranh chấp về cản trở việc thực hiện quyền sử dụng đất:
Loại tranh chấp này tuy số lượng tranh chấp phát sinh ít nhưng tính chất lại rất
phức tạp. Thơng thường, do mâu thuẫn phát sinh, bên sử dụng đất ở gần lối đi cơng cộng
có vị trí đất ở sâu hoặc xa mặt tiền và một bên do có thành kiến cá nhân đã cản trở người
sử dụng đất bên trong việc thực hiện quyền sử dụng đất như khơng cho đi qua phần đất của
mình, rào lại lối đi chung v.v... do đó dẫn đến tranh chấp.
Ngồi ra, còn tồn tại một số dạng tranh chấp đất đai cụ thể trên thực
tế như:
- Tranh chấp về việc làm thiệt hại đến việc sử dụng đất;
- Tranh chấp quyền sử dụng đất;
- Tranh chấp tài sản gắn liền với đất;
- Tranh chấp đất trong vụ án ly hơn.
1.1.3. Đặc điểm của tranh chấp đất đai
Quan hệ đất đai là một dạng đặc biệt của quan hệ dân sự nên bên cạnh những đặc
điểm chung của một tranh chấp dân sự, tranh chấp đất đai còn mang những đặc điểm đặc
trưng riêng khác với các tranh chấp dân sự, tranh chấp lao động, tranh chấp kinh tế... Sự
khác biệt đó thể hiện ở những điểm chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, chủ thể của tranh chấp đất đai chỉ có thể là chủ thể của quyền quản lý và
quyền sử dụng đất mà khơng phải là chủ thể của quyền sở hữu đất đai. Quyền sử dụng đất
của các chủ thể được xác lập dựa trên quyết định giao đất, cho th đất của Nhà nước hoặc
được Nhà nước cho phép nhận chuyển nhượng từ các chủ thể khác hoặc được Nhà nước
thừa nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đối với diện tích đất đang sử dụng. Như vậy, chủ
cách ruộng đất, xóa bỏ chế độ chiếm hữu ruộng đất của thực dân, phong kiến, thiết lập
quyền sở hữu ruộng đất cho người nơng dân. Năm 1960, thơng qua con đường hợp tác hóa
nơng nghiệp, ruộng đất của người nơng dân được đưa vào làm tư liệu sản xuất chung trở
thành sở hữu tập thể, do đó tình hình sử dụng đất đai tương đối ổn định.
ở miền Nam, sau hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm tình hình sử dụng đất đai
có nhiều diễn biến phức tạp hơn. Trong chín năm kháng chiến, Chính phủ đã tiến hành
chia ruộng đất cho người nơng dân hai lần vào các năm 1949 - 1950 và năm 1954, nhưng
Nhà môi giới bất động sản giá rẻ
chuyên tư vấn mua bán thuê cho thuê đầu tư bất động sản tại hà nội việt nam
Hoàng mai chung 0936899868 email:
website: www.hoangmaichung.com
đến năm 1957, ngụy quyền Sài gòn đã thực hiện cải cách điền địa, thực hiện việc "truất
hữu" nhằm xóa bỏ thành quả của cách mạng, gây ra những xáo trộn về quyền quản lý
ruộng đất của người nơng dân. Sau khi thống nhất đất nước, năm 1975, Nhà nước đã tiến
hành hợp tác hóa nơng nghiệp, đồng thời xây dựng hàng loạt các lâm trường, nơng trường,
trang trại. Những tổ chức đó bao chiếm q nhiều diện tích đất nhưng sử dụng lại kém hiệu
quả. Đặc biệt, qua hai lần điều chỉnh ruộng đất vào các năm 1977 - 1978 và năm 19821983, với chính sách chia cấp đất theo kiểu bình qn, "cào bằng" đã dẫn tới những xáo trộn
lớn về ruộng đất, về ranh giới, số lượng và mục đích sử dụng đất đai.
Khi đất nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường với sự thay đổi cơ chế quản lý làm
cho đất đai thì đất đai ngày càng trở nên có giá trị. Dưới góc độ kinh tế, đất đai được coi như
một loại hàng hóa trao đổi trên thị trường theo quy luật cung cầu, quy luật giá trị. Đây là quy
luật tự nhiên, nhưng đối với đất lại khơng được thừa nhận một cách dễ dàng ở nước ta trong
một thời gian khá dài. Do vậy Nhà nước chưa kịp thời có các chính sách để điều tiết và
quản lý có hiệu quả.
Từ khi nhà, đất trở nên có giá trị cao đã tác động đến tâm lý của nhiều người dẫn
đến tình trạng tranh chấp, đòi lại nhà, đất mà trước đó đã bán, cho th, cho mượn, đã bị
tịch thu hoặc giao cho người khác sử dụng hoặc khi thực hiện một số chính sách về đất đai
ở các giai đoạn trước đây mà khơng có các văn bản xác định việc sử dụng đất ổn định của
biện pháp mệnh lệnh hành chính mà chưa chú ý đến biện pháp quản lý về mặt kinh tế.
- Một số nơi ban hành văn bản pháp lý đất đai khơng rõ ràng, hoặc chủ trương sai
lầm của một số cán bộ đã làm cho một bộ phận nhân dân hiểu lầm là Nhà nước có chủ
trương "trả lại đất cũ", trả lại đất ơng cha, dẫn đến việc khiếu kiện đòi lại đất ngày càng
nhiều.
1.2.2.2. Về cơng tác cán bộ cơng chức thực hiện cơng vụ liên quan đến đất đai
Một bộ phận cán bộ, cơng chức được giao nhiệm vụ quản lý đất đai đã thực hiện
khơng tốt nhiệm vụ được giao, thiếu gương mẫu, lạm dụng chức quyền, vì lợi ích riêng tư,
bị kẻ xấu lợi dụng để "đục nước béo cò", thực hiện những âm mưu đen tối, gây mất ổn
định xã hội.
Lợi dụng chủ trương điều chỉnh ruộng đất, tổ chức lại sản xuất theo cơ chế mới,
một số cán bộ, đảng viên lợi dụng sơ hở trong các chế độ, chính sách đất đai của Nhà nước
và dựa vào chức quyền để chiếm dụng đất đai trái phép, gây bất bình trong nhân dân. Đặc
biệt, ở những nơi nội bộ mất đồn kết thì lại lấy vấn đề đất đai làm phương tiện để đấu
tranh với nhau, một số phần tử xấu lợi dụng cơ hội này để bao chiếm đất đai hoặc kích
Nhà môi giới bất động sản giá rẻ
chuyên tư vấn mua bán thuê cho thuê đầu tư bất động sản tại hà nội việt nam
Hoàng mai chung 0936899868 email:
website: www.hoangmaichung.com
động gây chia rẽ nội bộ và gây mất ổn định về tình hình chính trị- xã hội, làm mất uy tín
của tổ chức Đảng và chính quyền.
1.2.2.3. Về cơng tác lãnh đạo, chỉ đạo
Cơng tác lãnh đạo, chỉ đạo việc giải quyết tranh chấp đất đai ở nhiều nơi, nhiều lúc
còn hữu khuynh, mất cảnh giác. Chẳng những hồ sơ đất đai khơng đầy đủ, mà việc đăng ký
nhân khẩu, hộ khẩu ở nơng thơn cũng chưa chặt chẽ, kẻ xấu có điều kiện để hoạt động dễ
dàng. Khi phát hiện những kẻ cầm đầu, tổ chức gây rối, kích động vi phạm pháp luật thì lúng
túng trong xử lý, nương nhẹ trong thi hành pháp luật, khơng tổ chức được lực lượng quần
chúng cốt cán đấu tranh với mọi biểu hiện tiêu cực, mà trái lại, để quần chúng bị bọn xấu
làm cho nhiều văn bản pháp luật đất đai của Nhà nước chưa được phổ biến sâu rộng trong
nhân dân.
Tuy nhiên, việc tranh chấp đất đai ở mỗi địa phương khác nhau còn có những
ngun nhân đặc thù và việc tìm ra những ngun nhân đó phải căn cứ vào thực tế sử dụng
đất, và phong tục tập qn của từng địa phương để xây dựng được những giải pháp tốt nhất
nhằm giải quyết có hiệu quả từng vụ tranh chấp. Song trên thực tế khía cạnh này chưa
được các cơ quan nhà nước chú trọng, xem xét.
1.3. Khái niệm giải quyết tranh chấp đất đai và ngun tắc giải quyết tranh
chấp đất đai
1.3.1. Khái niệm giải quyết tranh chấp đất đai
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học: "Giải quyết tranh chấp đất đai là giải
quyết bất đồng, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, tổ chức và trên cơ sở đó phục hồi các
quyền lợi hợp pháp bị xâm hại đồng thời truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi
phạm pháp luật về đất đai" [42].
Trong quan hệ pháp luật đất đai, việc xem xét giải quyết tranh chấp đất đai là một
trong những biện pháp quan trọng để pháp luật đất đai phát huy được vai trò trong đời
sống xã hội. Thơng qua việc giải quyết tranh chấp đất đai, Nhà nước điều chỉnh các quan
hệ đất đai cho phù hợp với lợi ích của Nhà nước và của xã hội. Đồng thời, giáo dục ý thức
tn thủ và tơn trọng pháp luật cho mọi cơng dân, ngăn ngừa những vi phạm pháp luật có
thể xảy ra.
Giải quyết tranh chấp đất đai, với ý nghĩa là một nội dung của chế độ quản lý nhà
nước đối với đất đai, được hiểu là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền,
nhằm tìm ra các giải pháp đúng đắn trên cơ sở pháp luật, nhằm giải quyết các bất đồng, mâu
Nhà môi giới bất động sản giá rẻ
chuyên tư vấn mua bán thuê cho thuê đầu tư bất động sản tại hà nội việt nam
Hoàng mai chung 0936899868 email:
website: www.hoangmaichung.com
thuẫn giữa các bên, khơi phục lại quyền lợi cho bên bị xâm hại. Đồng thời xử lý đối với các
Hoàng mai chung 0936899868 email:
website: www.hoangmaichung.com
khẳng định tư tưởng đổi mới trong q trình Nhà nước điều hành các quan hệ xã hội về đất
đai. Do đó, việc tơn trọng các quyền của người sử dụng đất và tạo điều kiện để họ phát huy
tối đa các quyền đó là ngun tắc quan trọng của Luật Đất đai. Thực tế đã chứng minh
rằng, nếu lợi ích của người sử dụng đất khơng được đảm bảo, thì việc sử dụng đất khơng
thể mang lại hiệu quả kinh tế cao. Đó cũng chính là ngun tắc cơ bản trong q trình giải
quyết các tranh chấp đất đai.
Tơn trọng quyền định đoạt của các chủ thể khi tham gia các quan hệ pháp luật đất
đai là tơn trọng quyền tự do thỏa thuận, thương lượng của họ trên cơ sở các quy định của
pháp luật. Do vậy, hòa giải trở thành cách thức và cũng là ngun tắc giải quyết tranh chấp
đất đai quan trọng và đạt hiệu quả nhất.
1.3.2.3. Ngun tắc giải quyết tranh chấp đất đai phải nhằm mục đích ổn định tình
hình chính trị, kinh tế, xã hội, gắn việc giải quyết tranh chấp đất đai với việc tổ chức lại
sản xuất, bố trí lại cơ cấu sản xuất hàng hóa
Do ảnh hưởng tiêu cực của tranh chấp đất đai đến mọi mặt của đời sống chính trị,
kinh tế, xã hội nên việc giải quyết các tranh chấp đất đai phải nhằm vào mục đích bình ổn
các quan hệ xã hội. Chú ý đảm bảo q trình sản xuất của người dân, tránh làm ảnh hưởng
dây chuyền đến cơ cấu sản xuất chung. Đồng thời cải thiện và bố trí, sắp xếp lại cơ cấu sản
xuất hàng hóa theo chủ trương của Đảng: "Ai giỏi nghề gì, làm nghề ấy".
1.3.2.4. Ngun tắc đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa
Khi giải quyết tranh chấp đất đai phải chú ý và tn thủ các ngun tắc, trình tự,
thủ tục, thẩm quyền mà pháp luật đã quy định. Phát hiện và giải quyết kịp thời các vi phạm
pháp luật về đất đai, tránh tình trạng để tranh chấp đất đai kéo dài, làm ảnh hưởng tới tâm
lý và lợi ích của người dân.
1.4. Khái qt về pháp luật giải quyết tranh chấp đất đai
Hệ thống các văn bản pháp luật về đất đai được ban hành từ sau khi thành lập Nhà
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (năm 1945) tới nay được coi là một hệ thống rất phức
đã khơng xác định rõ ràng quyền lợi của người sử dụng đất đã làm hạn chế hiệu quả sử
dụng đất.
Trong giai đoạn này, nổi trội nhất phải kể đến chủ trương thực hiện cơ chế quản lý
kinh tế mới trong nơng nghiệp theo Nghị quyết 10 ngày 5/4/1988 của Bộ Chính trị. Mục
đích là gắn lợi ích của người lao động với từng mảnh đất được giao, đã thúc đẩy sản xuất
phát triển, người nơng dân đã nhận thức rõ những quyền lợi và nghĩa vụ của mình theo quy
định của pháp luật, thấy được lợi ích thiết thực từ việc sử dụng đất mang lại. Vì vậy, tình
trạng đòi lại ruộng đất trong nội bộ nhân dân tăng nhanh về số lượng. ở một số địa phương,
nhất là ở miền Tây và miền Đơng Nam Bộ, nhiều nơng dân đòi lại ruộng đất cũ, có nơi đã
xảy ra những vụ tranh chấp đất đai gay gắt. Những ruộng đất nơng dân đòi lại phổ biến là:
ruộng đất đã qua mấy lần điều chỉnh, ruộng đất bị cắt bớt và bị "xáo canh" khi thực hiện
khốn sản phẩm; ruộng đất do lâm, nơng trường và đơn vị qn đội quản lý nhưng khơng
sử dụng hết, trong đó có cả ruộng đất của nơng dân trước đây đã khai phá; ruộng đất do
một số cán bộ, đảng viên chiếm vì tư lợi. ở khu vực trung du, miền núi, có sự tranh chấp
ruộng đất giữa đồng bào dân tộc tại chỗ với đồng bào các địa phương khác đến sản xuất và
khai hoang xây dựng vùng kinh tế mới. Ngồi ra, còn tồn tại các tranh chấp giữa đất trồng
Nhà môi giới bất động sản giá rẻ
chuyên tư vấn mua bán thuê cho thuê đầu tư bất động sản tại hà nội việt nam
Hoàng mai chung 0936899868 email:
website: www.hoangmaichung.com
lúa với đất ni tơm; giữa đất trồng cao su với đất trồng cây tiêu, cà phê, cây điều, đất
hương hỏa, đất thổ cư…
Đối với nhà ở, các tranh chấp phát sinh trong giai đoạn này thường liên quan đến
nhà cải tạo, nhà vắng chủ, đòi lại nhà cho th trước ngày 1/7/1991 (là ngày Pháp lệnh về
nhà ở có hiệu lực). Ngồi ra, còn xuất hiện các tranh chấp về nhà ở khi vợ chồng ly hơn.
Để tạo cơ sở pháp lý giải quyết tình hình tranh chấp đất đai kể trên. Nhà nước ta
đã ban hành một số văn bản pháp luật như:
+ Luật Đất đai 1987 (Điều 21).
của bản thân. Khi cần, họ có thể đem quyền sử dụng đất đai đi thế chấp để vay vốn phát
triển sản xuất. Những quy định mới của Luật Đất đai 1993 đã đảm bảo quyền lợi và phát
huy khả năng của người sử dụng đất, khiến đất đai ngày càng trở nên có giá trị hơn.
Luật Đất đai 1993 đánh dấu một bước phát triển của quá trình hoàn thiện cơ chế
quản lý đất đai của Nhà nước ta, khắc phục tình trạng bao cấp về đất đai, giao đất sử dụng
không mất tiền, đảm bảo sử dụng đất đai đúng mục đích, có hiệu quả.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, khi mức độ đô thị hóa diễn ra nhanh chóng,
nhu cầu về nhà ở của người dân ngày càng trở nên bức xúc, việc sử dụng đất đai để xây
dựng cơ sở hạ tầng ngày càng khiến cho giá đất nhiều khi tăng đột biến chỉ trong thời gian
ngắn. Đây là nguyên nhân góp phần làm tăng các tranh chấp đất đai. Cùng với việc gia
tăng dân số, chính sách xã hội về nhà ở tại các đô thị lớn đang trở thành vấn đề bức xúc
cần được giải quyết.
Việc tranh chấp đòi lại nhà đất do Nhà nước quản lý, cải tạo thuộc diện cho thuê,
nhà vắng chủ, nhà cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh qua các thời kỳ trước đây
cũng diễn ra gay gắt tại một số đô thị như Hà Nội, Hải Phòng. Đây là những vấn đề lớn, đã
tồn tại từ nhiều năm nay nhưng vẫn chưa thể giải quyết dứt điểm được.
Trước tình hình đó, nhằm hoàn chỉnh thêm một bước các quy định pháp luật về
giải quyết tranh chấp đất đai, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Luật Đất đai năm 1993
đã được sửa đổi bổ sung một số điều vào các năm 1998 và 2001. Với hơn 171 văn bản
pháp luật đất đai được các cấp, các ngành ở Trung ương và hàng trăm các văn bản do các
cơ quan ở địa phương ban hành đã góp phần đáng kể vào việc giải quyết tranh chấp đất đai
nhằm phúc đáp các yêu cầu quản lý và sử dụng đất đai trong giai đoạn hiện nay. Trong đó
có thể đề cập đến một số các văn bản pháp luật tiêu biểu sau đây:
+ Thông tư liên tịch số 02/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-TCĐC của Tòa án nhân dân
tối cao (TANDTC), Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) và Tổng cục Địa chính
ngày 28/7/1997 hướng dẫn về thẩm quyền của TAND trong việc giải quyết các tranh chấp
quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 3 Điều 38 Luật Đất đai.
+ Thơng tư liên tịch số 01/2002/TTLT-TAND-VKSNDTC-TCĐC ngày 03/1/2002
(trong
đó
đất
đơ thị là 10,8 m2/người, đất ở nơng thơn là 33,2 m2/người). Đất nơng nghiệp 43.612,43 ha
chiếm 47,14%, tập trung chủ yếu ở 5 huyện ngoại thành, đất lâm nghiệp 6712,6 ha chiếm
7,3% chủ yếu ở huyện Sóc Sơn, đất ở 11.688,65 ha chiếm 12,7%, đất chun dùng
20.534,39 ha chiếm 22,3%, đất chưa sử dụng 9549,65 ha chiếm 10,3% [48, tr. 1].
Năm 1990, diện tích đất nơng nghiệp chiếm 48,24%, diện tích đất lâm nghiệp là
7,37 %, diện tích đất ở 13,76%, đất chun dùng 18,37%, đất chưa sử dụng 12,26% [49, tr.
145]
Như vậy tỷ lệ các loại đất trên địa bàn thành phố hiện nay so với năm 1990 giảm
khơng đáng kể từ 1 - 2%.
Luật Đất đai năm 1993 đã quy định các nội dung quản lý nhà nước về đất đai, quy
định về khung giá các loại đất, các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất; cùng với hệ
thống các văn bản pháp quy do Chính phủ ban hành và các Bộ, ngành Trung ương cụ thể
hóa bằng các thơng tư hướng dẫn trong nhiều lĩnh vực liên quan đến quản lý đất đai. Trên cơ
sở đó UBND thành phố đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, quy định và hướng
dẫn cụ thể việc thực hiện chính sách quản lý và sử dụng đất đai cụ thể là: Văn bản số 55/
Nhà môi giới bất động sản giá rẻ
chuyên tư vấn mua bán thuê cho thuê đầu tư bất động sản tại hà nội việt nam
Hoàng mai chung 0936899868 email:
website: www.hoangmaichung.com
CV-UB ngày 13/1/1994 và Quyết định số 1615/ QĐ-UB ngày 12/6/1995 hướng dẫn thực hiện
Nghị định 64/ CP của Chính phủ trên địa bàn thành phố, triển khai việc giao đất nơng
nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân ở các huyện ngoại thành;
Mới đây, ngày 5/5/2004, UBND thành phố đã ban hành Quyết định 16/2004/CT-UB về
việc triển khai Luật Đất đai năm 2003 trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Đánh giá chung về tình hình quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn thành phố
Hà Nội
* Việc thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về đất đai ở Hà Nội:
- UBND thành phố đã ban hành được nhiều văn bản pháp quy về lập quy hoạch,
giao đất, thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất, chuyển quyền sử dụng đất, đăng ký địa chính,
cấp GCNQSDĐ, thanh tra xử lý các vi phạm về đất đai...
- Đã hồn thành cơ bản cơng tác đo, lập Bản đồ Địa chính trên địa bàn thành phố
và giao cho UBND các quận, huyện, phường, xã, thị trấn, để phục vụ kịp thời cơng tác
quản lý đất đai.
- Quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất: Thành phố đã xây dựng kế hoạch sử dụng đất
hàng năm, quy hoạch kế hoạch sử dụng đất thành phố đến năm 2010.
- Giao đất, cho th đất, thu hồi đất:
+ Cơng tác giao đất, cho th đất trên địa bàn thành phố: đã đáp ứng được u cầu
sử dụng đất phục vụ phát triển kinh tế - xã hội song trong thực tiễn cơng tác này còn nặng
về thủ tục hành chính, thiếu kiểm tra xem xét sau khi có quyết định giao đất, cho th đất
đối với các dự án đầu tư. Do đó tình hình giao đất, cho th đất khơng đúng thẩm quyền,
sử dụng đất đai sai mục đích được giao, được th còn xảy ra khá phổ biến. Thành phố đã
cơ bản hồn thành cơng tác giao đất nơng nghiệp ổn định lâu dài và cấp GCNQSDĐ nơng
nghiệp cho các hộ gia đình và cá nhân theo Nghị định 64/CP, tồn thành phố đã cấp được
170.771 giấy chứng nhận đạt 87,7%.
+ Thu hồi đất: Một trong những khó khăn nhất trong thời gian qua là việc thu hồi
đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư cho người có đất bị thu hồi. Nói chung,
cơng việc này cũng đáp ứng được một phần việc xây dựng các cơng trình nhưng còn q
nhiều bất cập, cụ thể: Q trình tiến hành dài, khơng dứt điểm; giải quyết vấn đề giá trị bồi
thường chưa hợp lý đã gây nên tình trạng khiếu kiện nhiều của người bị thu hồi đất; có
Nhà môi giới bất động sản giá rẻ
chuyên tư vấn mua bán thuê cho thuê đầu tư bất động sản tại hà nội việt nam
đã nộp đủ hồ sơ để Sở Tài ngun, Mơi trường và Nhà đất thẩm định trình UBND thành phố
hợp thức hóa quyền sử dụng đất đạt tỉ lệ 30%. Đã có 32 tổ chức/ 150 tổ chức có giấy tờ sử
dụng đất hợp pháp đến Sở Tài ngun, Mơi trường và Nhà đất ký hợp đồng th đất theo quy
định đạt tỉ lệ 20% số đơn vị cần phải khắc phục, đồng thời thơng báo đến 83 tổ chức sử dụng
Nhà môi giới bất động sản giá rẻ
chuyên tư vấn mua bán thuê cho thuê đầu tư bất động sản tại hà nội việt nam
Hoàng mai chung 0936899868 email:
website: www.hoangmaichung.com