LUẬN VĂN:Giải quyết tranh chấp đất đai (qua thực tiễn ở Hà Nội) - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Giải quyết tranh chấp đất đai
(qua thực tiễn ở Hà Nội) M đầu

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Kể từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, đặc biệt là những năm gần
đây tình hình tranh chấp đất đai ngày càng gia tăng về số lượng và phức tạp về tính chất,
nhất là ở những vùng đang đô thị hóa nhanh. Các dạng tranh chấp đất đai phổ biến trong thực
tế là: tranh chấp hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử
dụng đất; tranh chấp do lấn, chiếm đất; tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với
đất; tranh chấp đất đai trong các vụ án ly hôn Có thể liệt kê rất nhiều nguyên nhân dẫn đến
tranh chấp đất đai như: Việc quản lý đất đai còn nhiều thiếu sót, sơ hở; việc giao đất và cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) tiến hành chậm; việc lấn chiếm đất đai diễn
ra ngày càng phổ biến nhưng không được ngăn chặn và xử lý kịp thời; đất đai từ chỗ chưa

đai và xác lập cơ chế giải quyết các tranh chấp đất đai thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả công
tác giải quyết tranh chấp đất đai, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho công dân là việc làm
có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn hiện nay. Với nhận thức như vậy, tôi đã lựa
chọn vấn đề "Giải quyết tranh chấp đất đai (qua thực tiễn ở Hà Nội)" làm đề tài luận văn
thạc sĩ luật học của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu của luận văn là phân tích, đánh giá thực trạng tranh chấp và
giải quyết tranh chấp đất đai ở nước ta, qua đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật
đất đai và cơ chế áp dụng pháp luật để giải quyết có hiệu quả hơn các tranh chấp đất đai.
- Để đạt được mục đích này, luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu những quy định của
pháp luật đất đai liên quan đến việc giải quyết tranh chấp đất đai, thực trạng giải quyết
tranh chấp đất đai ở Hà Nội. Trên cơ sở đó chỉ ra những thiếu sót, tồn tại của pháp luật đất
đai hiện hành về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai; đề xuất các giải pháp nhằm
hoàn hiện pháp luật đất đai, nâng cao hiệu quả của công tác giải quyết tranh chấp đất đai
phúc đáp các đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong những
năm đầu của thế kỷ XXI.

3. Phương pháp nghiên cứu
- Để giải quyết các vấn đề do đề tài đặt ra, người viết luận văn sử dụng phương
pháp lịch sử, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, trao đổi chuyên gia.
4. ý nghĩa của các kết quả nghiên cứu
Các kết quả nghiên cứu của đề tài này có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo
tại các cơ sở đào tạo và nghiên cứu về luật học. Một số kiến nghị của đề tài có giá trị tham
khảo đối với các cơ quan xây dựng và thực thi pháp luật trong quá trình xây dựng, hoàn
thiện và tổ chức thực hiện pháp luật đất đai nói chung và pháp luật giải quyết tranh chấp
đất đai nói riêng ở nước ta.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có 3
chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất

trực tiếp hoặc gián tiếp trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai.

Theo nghĩa hẹp, tranh chấp đất đai là tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham
gia quan hệ pháp luật đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá trình quản lý và sử dụng đất
đai [43, tr. 245].
Trong thực tế, tranh chấp đất đai được hiểu là sự tranh chấp về quyền quản lý,
quyền sử dụng xung quanh một khu đất cụ thể mà mỗi bên đều cho rằng mình phải được
quyền đó do pháp luật quy định và bảo hộ. Vì vậy, họ không thể cùng nhau tự giải quyết
các tranh chấp đó mà phải yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phân xử (giải quyết).
1.1.2. Phân loại tranh chấp đất đai
Trước những năm 1980, Nhà nước ta thừa nhận nhiều hình thức sở hữu đối với đất
đai: Sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân Do đó ở thời kỳ này tranh chấp
đất đai bao gồm: Tranh chấp về quyền sở hữu đất đai, quyền quản lý và sử dụng đối với
đất đai. Sau Hiến pháp 1980 ra đời, Nhà nước trở thành đại diện chủ sở hữu duy nhất đối
với toàn bộ toàn bộ vốn đất đai trong cả nước, do đó các tranh chấp đất đai hiện nay chỉ
bao gồm tranh chấp về quyền quản lý và sử dụng đất đai. Theo quy định của pháp luật hiện
hành có ba loại hình tranh chấp đất đai:
+ Tranh chấp về quyền sử dụng đất đai;
+ Tranh chấp về tài sản có liên quan đến quyền sử dụng đất;
+ Tranh chấp về quyền sử dụng đất có liên quan đến địa giới đơn vị hành chính
(xã, huyện, tỉnh).
Tuy nhiên, trên thực tế thường xuất hiện dạng tranh chấp đất đai phổ biến sau đây:
- Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất:
Dạng tranh chấp này thường xảy ra ở vùng nông thôn, việc phát sinh thường là do
lúc chuyển đổi đất đai hai bên không làm hợp đồng hoặc hợp đồng có được soạn thảo
nhưng nội dung rất sơ sài, đơn giản. Vì thế, sau một thời gian một bên cảm thấy quyền lợi
bị thiệt thòi nên phát sinh tranh chấp, mặc dù vào thời điểm chuyển đổi hai bên đều đã nhất
trí về các điều kiện để chuyển đổi quyền sử dụng đất.
- Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất:


chấp.
- Tranh chấp về cản trở việc thực hiện quyền sử dụng đất:
Loại tranh chấp này tuy số lượng tranh chấp phát sinh ít nhưng tính chất lại rất
phức tạp. Thông thường, do mâu thuẫn phát sinh, bên sử dụng đất ở gần lối đi công cộng
có vị trí đất ở sâu hoặc xa mặt tiền và một bên do có thành kiến cá nhân đã cản trở người
sử dụng đất bên trong việc thực hiện quyền sử dụng đất như không cho đi qua phần đất của
mình, rào lại lối đi chung v.v do đó dẫn đến tranh chấp.
Ngoài ra, còn tồn tại một số dạng tranh chấp đất đai cụ thể trên thực
tế như:
- Tranh chấp về việc làm thiệt hại đến việc sử dụng đất;
- Tranh chấp quyền sử dụng đất;
- Tranh chấp tài sản gắn liền với đất;
- Tranh chấp đất trong vụ án ly hôn.
1.1.3. Đặc điểm của tranh chấp đất đai
Quan hệ đất đai là một dạng đặc biệt của quan hệ dân sự nên bên cạnh những đặc
điểm chung của một tranh chấp dân sự, tranh chấp đất đai còn mang những đặc điểm đặc
trưng riêng khác với các tranh chấp dân sự, tranh chấp lao động, tranh chấp kinh tế Sự
khác biệt đó thể hiện ở những điểm chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, chủ thể của tranh chấp đất đai chỉ có thể là chủ thể của quyền quản lý và
quyền sử dụng đất mà không phải là chủ thể của quyền sở hữu đất đai. Quyền sử dụng đất
của các chủ thể được xác lập dựa trên quyết định giao đất, cho thuê đất của Nhà nước hoặc
được Nhà nước cho phép nhận chuyển nhượng từ các chủ thể khác hoặc được Nhà nước
thừa nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đối với diện tích đất đang sử dụng. Như vậy, chủ
thể của tranh chấp đất đai là các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tham gia với tư cách là người
quản lý hoặc người sử dụng đất.

Thứ hai, nội dung của tranh chấp đất đai rất đa dạng và phức tạp. Hoạt động quản
lý và sử dụng đất trong nền kinh tế thị trường diễn ra rất đa dạng, phong phú với việc sử
dụng đất vào nhiều mục đích khác nhau, với diện tích, nhu cầu sử dụng khác nhau. Trong
nền kinh tế thị trường, việc quản lý và sử dụng đất không đơn thuần chỉ là việc quản lý và

trang trại. Những tổ chức đó bao chiếm quá nhiều diện tích đất nhưng sử dụng lại kém hiệu
quả. Đặc biệt, qua hai lần điều chỉnh ruộng đất vào các năm 1977 - 1978 và năm 1982-
1983, với chính sách chia cấp đất theo kiểu bình quân, "cào bằng" đã dẫn tới những xáo trộn
lớn về ruộng đất, về ranh giới, số lượng và mục đích sử dụng đất đai.
Khi đất nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường với sự thay đổi cơ chế quản lý làm
cho đất đai thì đất đai ngày càng trở nên có giá trị. Dưới góc độ kinh tế, đất đai được coi như
một loại hàng hóa trao đổi trên thị trường theo quy luật cung cầu, quy luật giá trị. Đây là quy
luật tự nhiên, nhưng đối với đất lại không được thừa nhận một cách dễ dàng ở nước ta trong
một thời gian khá dài. Do vậy Nhà nước chưa kịp thời có các chính sách để điều tiết và
quản lý có hiệu quả.
Từ khi nhà, đất trở nên có giá trị cao đã tác động đến tâm lý của nhiều người dẫn
đến tình trạng tranh chấp, đòi lại nhà, đất mà trước đó đã bán, cho thuê, cho mượn, đã bị
tịch thu hoặc giao cho người khác sử dụng hoặc khi thực hiện một số chính sách về đất đai
ở các giai đoạn trước đây mà không có các văn bản xác định việc sử dụng đất ổn định của
họ.
1.2.2. Nguyên nhân chủ quan
1.2.2.1. Về cơ chế quản lý đất đai
Trong thời gian qua, công tác quản lý nhà nước về đất đai còn bị buông lỏng, nhiều
sơ hở, có khi phạm sai lầm, giải quyết tùy tiện, sai pháp luật
Trong cơ chế quản lý tập trung, kế hoạch hóa cao độ, Nhà nước phân công, phân
cấp cho quá nhiều ngành, dẫn đến việc quản lý đất đai thiếu chặt chẽ, nhiều sơ hở. Có thời
kỳ mỗi loại đất do một ngành quản lý dẫn đến việc tranh chấp về đất thuộc quyền quản lý
của nhiều ngành khác nhau.

Trong cơ chế thị trường, Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch
chung, có sự phân công, phân cấp trách nhiệm quản lý đất đai khá rõ. Tuy nhiên, trên thực
tế vẫn còn tồn tại nhiều sai phạm, non kém về trình độ quản lý của đội ngũ cán bộ làm
công tác quản lý đất đai. Điều này góp phần làm xuất hiện nhiều tranh chấp đất đai phức
tạp, khó giải quyết. Cụ thể:
- Hồ sơ địa chính chưa hoàn chỉnh, đồng bộ, nên thiếu căn cứ pháp lý và thực tế để

dàng. Khi phát hiện những kẻ cầm đầu, tổ chức gây rối, kích động vi phạm pháp luật thì lúng
túng trong xử lý, nương nhẹ trong thi hành pháp luật, không tổ chức được lực lượng quần
chúng cốt cán đấu tranh với mọi biểu hiện tiêu cực, mà trái lại, để quần chúng bị bọn xấu
lôi kéo. Tổ chức Đảng và chính quyền trở thành người bị động, phải chạy theo giải quyết
những vụ việc đã xảy ra hoặc xử lý những hậu quả nặng nề.
1.2.2.4. Về đường lối chính sách, pháp luật về đất đai
Chính sách đất đai và các chính sách khác có liên quan đến đất đai chưa đồng bộ, có
mặt không rõ ràng và đang còn biến động. Thực tế áp dụng các chính sách đất đai còn tùy
tiện dẫn đến tình trạng: Người có khả năng sản xuất nông nghiệp thì thiếu ruộng đất,
ngược lại, người có ruộng lại không có khả năng hoặc nhu cầu sản xuất, để đất đai hoang
hóa hoặc sử dụng đất kém hiệu quả. Tình trạng người nông dân phải ra các đô thị bán sức lao
động, gây mất ổn định cơ cấu lao động sản xuất cũng có nguyên nhân từ việc thiếu đất để sản
xuất.
Thực tiễn đã chứng minh những sai lầm trong phong trào hợp tác hóa nông nghiệp
như nóng vội, gò ép, đưa quy mô hợp tác xã (HTX) nhỏ lên quy mô HTX lớn không phù
hợp với trình độ năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ cán bộ cơ sở đã
dẫn đến hậu quả là đất đai sử dụng bừa bãi, lãng phí và kém hiệu quả.
Cùng với việc đổi mới cơ chế quản lý trong nông nghiệp được đổi mới, người sử
dụng đất có nhu cầu sử dụng đất ngày càng cao, đòi hỏi phải có một diện tích đất nhất định
để sản xuất. Do đó đã xuất hiện tư tưởng đòi lại đất để sản xuất. Chính sách đất đai chưa phù
hợp, chậm đổi mới đã tạo cơ sở cho việc lấn chiếm đất đai diễn ra khá phổ biến, song chưa
được giải quyết và xử lý kịp thời.

Bên cạnh đó, việc Nhà nước chia, tách, nhập hoặc thành lập mới những đơn vị
hành chính trong những năm gần đây dẫn đến việc phân địa giới hành chính không rõ ràng,
cụ thể làm cho tình hình tranh chấp đất đai ngày càng phức tạp và gay gắt hơn.
1.2.2.5. Về công tác tuyên truyền, giáo dục và phổ biến pháp luật
Công tác tuyên truyền, giáo dục và phổ biến pháp luật đất đai chưa được coi trọng,
làm cho nhiều văn bản pháp luật đất đai của Nhà nước chưa được phổ biến sâu rộng trong
nhân dân.

được những yêu cầu nhất định mà thực tế đã đặt ra. Muốn đáp ứng được các yêu cầu đó,
thì việc giải quyết tranh chấp đất đai phải quán triệt các nguyên tắc sau đây:
1.3.2.1. Nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất
quản lý
Điều 17 Hiến pháp 1992 khẳng định: "Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước
thống nhất quản lý". Cụ thể hóa Hiến pháp 1992, Luật Đất đai 2003 đã quy định: "Nhà
nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực
hiện các chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách
mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa
Việt Nam". Điều đó khẳng định toàn bộ đất đai trên lãnh thổ Việt Nam đều thuộc quyền sở
hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý. Các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân chỉ là
những người được Nhà nước giao đất cho sử dụng chứ không có quyền sở hữu đối với đất
đai. Do đó, đối tượng của mọi tranh chấp đất đai phát sinh chỉ là quyền quản lý và quyền
sử dụng đất chứ không phải là quyền sở hữu đối với đất đai. Vì vậy, khi giải quyết các
tranh chấp đất đai, phải tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai mà Nhà
nước là người đại diện; bảo vệ quyền đại diện sở hữu đất đai của Nhà nước; bảo vệ thành
quả cách mạng về đất đai mà nhân dân ta đã giành được.
1.3.2.2. Nguyên tắc bảo đảm lợi ích của người sử dụng đất, nhất là lợi ích kinh tế,
khuyến khích việc tự thương lượng, tự hòa giải trong nội bộ nhân dân
Luật Đất đai 1993 ra đời với việc thừa nhận năm quyền năng của người sử dụng đất
(quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất) đã

khẳng định tư tưởng đổi mới trong quá trình Nhà nước điều hành các quan hệ xã hội về đất
đai. Do đó, việc tôn trọng các quyền của người sử dụng đất và tạo điều kiện để họ phát huy
tối đa các quyền đó là nguyên tắc quan trọng của Luật Đất đai. Thực tế đã chứng minh
rằng, nếu lợi ích của người sử dụng đất không được đảm bảo, thì việc sử dụng đất không
thể mang lại hiệu quả kinh tế cao. Đó cũng chính là nguyên tắc cơ bản trong quá trình giải
quyết các tranh chấp đất đai.
Tôn trọng quyền định đoạt của các chủ thể khi tham gia các quan hệ pháp luật đất
đai là tôn trọng quyền tự do thỏa thuận, thương lượng của họ trên cơ sở các quy định của

là một quá trình lâu dài, thể hiện ở cả hai mặt: số lượng và chất lượng, gắn liền với lịch sử
hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật Việt Nam. Hệ thống pháp luật đất đai nói
chung và pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai nói riêng đã được xây dựng và từng
bước hoàn thiện nhằm phúc đáp các yêu cầu về quản lý và sử dụng đất đai qua các thời kỳ,
cụ thể đề cập đến một số văn bản pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai tiêu biểu qua
các giai đoạn như sau:
1.4.1. Thời kỳ trước khi ban hành Hiến pháp 1980
Trong thời kỳ này, các quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai chưa
rõ ràng, cụ thể, ngoại trừ các quy định về giải quyết tranh chấp đất bãi sa bồi (đất canh
tác).
Thông tư 45/NV-TC ngày 02/7/1958 của Bộ Nội vụ về việc phân phối và quản lý
đất bãi sa bồi quy định thẩm quyền giải quyết "tranh chấp hoa màu do chính quyền và nông
hội giải quyết, nếu đặc biệt khó khăn thì đưa ra Tòa án xét xử"; thẩm quyền giải quyết "tranh
chấp địa giới hành chính đất bãi sa bồi" do ủy ban hành chính xã đang quản lý giải quyết,
nếu ranh giới thuộc nhiều xã thì địa phận xã nào xã đó quản lý hoặc xã có điều kiện thuận
tiện hơn quản lý, nếu xen kẽ nhiều xã thì xã nào có nhiều số dân hơn trên đất bãi sa bồi
quản lý và chịu trách nhiệm đảm bảo cho các xã ít dân sản xuất trên bãi sa bồi.
Như vậy, giai đoạn này thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của ủy ban hành
chính các cấp chưa được quy định rõ ràng. Thực tế, việc giải quyết các tranh chấp đất đai
chủ yếu do ủy ban hành chính cấp xã thực hiện với vai trò của tổ chức nông hội địa

phương (tham gia nhiều vào công việc chính quyền), cơ quan tư pháp chỉ xuất hiện khi giải
quyết tranh chấp hoa màu trên đất bãi sa bồi.
1.4.2. Thời kỳ sau khi ban hành Hiến pháp 1980
1.4.2.1. Giai đoạn từ khi Hiến pháp 1980 có hiệu lực đến trước khi Luật Đất đai
1987 ra đời
Hiến pháp 1980 ra đời đã khép lại một chặng đường dài phấn đấu không ngừng của
Nhà nước ta nhằm mục tiêu xã hội hóa toàn bộ vốn đất đai trong phạm vi cả nước. Điều 19
và Điều 20 Hiến pháp 1980 quy định: "Đất đai, rừng núi, sông hồ, hầm mỏ, tài nguyên
thiên nhiên trong lòng đất, ở vùng biển và thềm lục địa là của Nhà nước, đều thuộc sở

Đất đai 1993 ra đời
Hiến pháp 1980 cũng như Luật Đất đai 1987 đều khẳng định đất đai thuộc sở hữu
toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý. Song các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành
đã không xác định rõ ràng quyền lợi của người sử dụng đất đã làm hạn chế hiệu quả sử
dụng đất.
Trong giai đoạn này, nổi trội nhất phải kể đến chủ trương thực hiện cơ chế quản lý
kinh tế mới trong nông nghiệp theo Nghị quyết 10 ngày 5/4/1988 của Bộ Chính trị. Mục
đích là gắn lợi ích của người lao động với từng mảnh đất được giao, đã thúc đẩy sản xuất
phát triển, người nông dân đã nhận thức rõ những quyền lợi và nghĩa vụ của mình theo quy
định của pháp luật, thấy được lợi ích thiết thực từ việc sử dụng đất mang lại. Vì vậy, tình
trạng đòi lại ruộng đất trong nội bộ nhân dân tăng nhanh về số lượng. ở một số địa phương,
nhất là ở miền Tây và miền Đông Nam Bộ, nhiều nông dân đòi lại ruộng đất cũ, có nơi đã
xảy ra những vụ tranh chấp đất đai gay gắt. Những ruộng đất nông dân đòi lại phổ biến là:
ruộng đất đã qua mấy lần điều chỉnh, ruộng đất bị cắt bớt và bị "xáo canh" khi thực hiện
khoán sản phẩm; ruộng đất do lâm, nông trường và đơn vị quân đội quản lý nhưng không
sử dụng hết, trong đó có cả ruộng đất của nông dân trước đây đã khai phá; ruộng đất do
một số cán bộ, đảng viên chiếm vì tư lợi. ở khu vực trung du, miền núi, có sự tranh chấp
ruộng đất giữa đồng bào dân tộc tại chỗ với đồng bào các địa phương khác đến sản xuất và
khai hoang xây dựng vùng kinh tế mới. Ngoài ra, còn tồn tại các tranh chấp giữa đất trồng

lúa với đất nuôi tôm; giữa đất trồng cao su với đất trồng cây tiêu, cà phê, cây điều, đất
hương hỏa, đất thổ cư…
Đối với nhà ở, các tranh chấp phát sinh trong giai đoạn này thường liên quan đến
nhà cải tạo, nhà vắng chủ, đòi lại nhà cho thuê trước ngày 1/7/1991 (là ngày Pháp lệnh về
nhà ở có hiệu lực). Ngoài ra, còn xuất hiện các tranh chấp về nhà ở khi vợ chồng ly hôn.
Để tạo cơ sở pháp lý giải quyết tình hình tranh chấp đất đai kể trên. Nhà nước ta
đã ban hành một số văn bản pháp luật như:
+ Luật Đất đai 1987 (Điều 21).
+ Chỉ thị số 154-HĐBT ngày 11/10/1988 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính
phủ) về triển khai thực hiện chỉ thị số 47-CT/TƯ của Bộ Chính trị về giải quyết một số vấn

nhu cầu về nhà ở của người dân ngày càng trở nên bức xúc, việc sử dụng đất đai để xây
dựng cơ sở hạ tầng ngày càng khiến cho giá đất nhiều khi tăng đột biến chỉ trong thời gian
ngắn. Đây là nguyên nhân góp phần làm tăng các tranh chấp đất đai. Cùng với việc gia
tăng dân số, chính sách xã hội về nhà ở tại các đô thị lớn đang trở thành vấn đề bức xúc
cần được giải quyết.
Việc tranh chấp đòi lại nhà đất do Nhà nước quản lý, cải tạo thuộc diện cho thuê,
nhà vắng chủ, nhà cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh qua các thời kỳ trước đây
cũng diễn ra gay gắt tại một số đô thị như Hà Nội, Hải Phòng. Đây là những vấn đề lớn, đã
tồn tại từ nhiều năm nay nhưng vẫn chưa thể giải quyết dứt điểm được.
Trước tình hình đó, nhằm hoàn chỉnh thêm một bước các quy định pháp luật về
giải quyết tranh chấp đất đai, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Luật Đất đai năm 1993
đã được sửa đổi bổ sung một số điều vào các năm 1998 và 2001. Với hơn 171 văn bản
pháp luật đất đai được các cấp, các ngành ở Trung ương và hàng trăm các văn bản do các
cơ quan ở địa phương ban hành đã góp phần đáng kể vào việc giải quyết tranh chấp đất đai
nhằm phúc đáp các yêu cầu quản lý và sử dụng đất đai trong giai đoạn hiện nay. Trong đó
có thể đề cập đến một số các văn bản pháp luật tiêu biểu sau đây:
+ Thông tư liên tịch số 02/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-TCĐC của Tòa án nhân dân
tối cao (TANDTC), Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) và Tổng cục Địa chính

ngày 28/7/1997 hướng dẫn về thẩm quyền của TAND trong việc giải quyết các tranh chấp
quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 3 Điều 38 Luật Đất đai.
+ Thông tư liên tịch số 01/2002/TTLT-TAND-VKSNDTC-TCĐC ngày 03/1/2002
của TANDTC, VKSNDTC và Tổng cục Địa chính "Hướng dẫn về thẩm quyền của Tòa án
nhân dân trong việc giải quyết tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất".
Mới đây, ngày 26/11/2003, Quốc hội khóa XI kỳ họp thứ 4 đã thông qua Luật Đất
đai mới - Luật Đất đai năm 2003 (trong đó quy định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai
từ Điều 135 đến Điều 137), có hiệu lực thi hành vào ngày 1/7/2004.

Chương 2
Thực trạng giải quyết tranh chấp đất đai

Luật Đất đai năm 1993 đã quy định các nội dung quản lý nhà nước về đất đai, quy
định về khung giá các loại đất, các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất; cùng với hệ
thống các văn bản pháp quy do Chính phủ ban hành và các Bộ, ngành Trung ương cụ thể
hóa bằng các thông tư hướng dẫn trong nhiều lĩnh vực liên quan đến quản lý đất đai. Trên cơ
sở đó UBND thành phố đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, quy định và hướng
dẫn cụ thể việc thực hiện chính sách quản lý và sử dụng đất đai cụ thể là: Văn bản số 55/

CV-UB ngày 13/1/1994 và Quyết định số 1615/ QĐ-UB ngày 12/6/1995 hướng dẫn thực hiện
Nghị định 64/ CP của Chính phủ trên địa bàn thành phố, triển khai việc giao đất nông
nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân ở các huyện ngoại thành;
Thực hiện Nghị định 60/CP của Chính phủ, UBND thành phố đã ban hành Quyết định
số 3564/ QĐ-UB ngày 16/9/1997 về việc thực hiện kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận
quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở tại đô thị (hiện nay Quyết định này đã được thay
thế bằng quyết định số 69/ 1999/QĐ-UB ngày 18/8/ 1999), Quyết định số 65/ 2001/ QĐ-UB
quy định về cấp GCNQSDĐ ở, đất ao và vườn liền kề khu vực dân cư nông thôn trên địa
bàn thành phố.
Thực hiện Nghị định 87/ CP của Chính phủ quy định về khung giá các loại đất, UBND
thành phố đã ban hành Quyết định số 2951/ QĐ-UB ngày 8/11/ 1994 quy định về khung giá
các loại đất trên địa bàn thành phố Hà Nội (hiện nay Quyết định này đã được thay thế bằng
quyết định số 3519/QĐ-UB ngày 12/9/1997).
Để tăng cường công tác quản lý nhà nước về đất đai, thực hiện phân cấp quản lý, xác
định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền cơ sở, UBND thành phố đã ban hành Quyết
định số 23/ 1998/ QĐ-UB ngày 17/7/1998 về quy định và phân cấp quản lý đất đai đối với
UBND quận, huyện, phường, xã, thị trấn đặc biệt là quản lý quỹ đất công và quỹ đất chưa sử
dụng trên địa bàn phường, xã, thị trấn, chống lấn chiếm đất đai, xử lý và ngăn chặn kịp thời
các trường hợp xây nhà không phép Để kịp thời ngăn chặn và xử lý các trường hợp để đất
hoang hóa không sử dụng, mua bán chuyển nhượng trái phép đất nông nghiệp, vi phạm Luật
Đất đai và đưa đất vào sử dụng có hiệu quả, UBND thành phố đã ban hành Chỉ thị số 15/CT-
UB ngày 24/4/2001 về tăng cường quản lý nhà nước về đất đai, kiên quyết xử lý thu hồi đất
đối với các trường hợp vi phạm Luật Đất đai trên địa bàn thành phố; Chỉ thị số 16/CT-UB

đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư cho người có đất bị thu hồi. Nói chung,
công việc này cũng đáp ứng được một phần việc xây dựng các công trình nhưng còn quá
nhiều bất cập, cụ thể: Quá trình tiến hành dài, không dứt điểm; giải quyết vấn đề giá trị bồi
thường chưa hợp lý đã gây nên tình trạng khiếu kiện nhiều của người bị thu hồi đất; có

những công trình đã giải quyết tốt việc tái định cư cho dân, nhưng cũng có nhiều công
trình chưa thỏa mãn được nhu cầu tối thiểu về chỗ ở được như chỗ ở cũ.
- Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về đất đai, công tác thanh tra, xử lý vi
phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo đã có nhiều chuyển biến, giải quyết tập trung có hiệu
quả, xử lý được một số điểm nóng, các vụ khiếu kiện chính sách nhà tồn đọng, không để
các vụ mới phát sinh, kiên quyết xử lý thu hồi đất của các tổ chức, đơn vị sử dụng đất để
hoang hóa không sử dụng, sử dụng sai mục đích đã đạt được những kết quả tích cực, các tổ
chức, cá nhân đã từng bước nhận thức đúng đắn việc quản lý, sử dụng đất theo đúng quy
định của pháp luật, khai thác sử dụng đất có hiệu quả:
+ Kết quả thực hiện Chỉ thị 15/CT-UB đã tập trung chỉ đạo bám sát cơ sở, nắm
chắc tình hình, phối hợp chặt chẽ với quận, huyện tranh thủ sự đồng tình của các cơ quan
trung ương và sự chỉ đạo của Thành ủy, UBND thành phố trong triển khai thực hiện Chỉ
thị 15/2001/CT-UB, trình UBND thành phố thu hồi đất của 31 đơn vị để đất hoang hóa, sử
dụng sai mục đích, vi phạm Luật Đất đai; UBND thành phố đã ký 19 quyết định thu hồi
đất với diện tích đất 12,05ha, hiện nay các quận, huyện đang triển khai công tác bồi
thường cho đơn vị bị thu hồi đất và lập phương án sử dụng diện tích đất thu hồi, phù hợp
với quy hoạch, có hiệu quả.
+ Kết quả thực hiện Chỉ thị 16/2002/CT-UB về khắc phục và xử lý vi phạm pháp
luật đất đai trên địa bàn thành phố: Sở Địa chính Nhà đất (nay là Sở Tài nguyên, Môi trường
và Nhà đất) đã thông báo hủy hợp đồng thuê đất tạm thời (mẫu II) theo Chỉ thị số 245/TTg của
1927 đơn vị chưa có giấy tờ đất và nộp tiền thuê đất theo quy định; đồng thời phối hợp với
UBND quận, huyện đôn đốc các đơn vị thực hiện, với các trường hợp cố tình không thực hiện
thì lập hồ sơ và xử lý thu hồi đất theo chỉ thị 15/CT-UB. Đến nay đã thông báo chấm dứt hợp
đồng thuê đất đối với 820 tổ chức chưa có giấy tờ sử dụng đất hợp pháp đã ký hợp đồng thuê
đất; năm 2003 có 1.110 tổ chức đã đến Sở Tài nguyên, Môi trường và Nhà đất để được hướng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status