LUẬN văn THẠC sĩ LUẬT học một số vấn đề lý LUẬN và THỰC TIỄN về dân CHỦ ở xã - Pdf 39

MỞ ĐẦU

1. Lý do lựa chọn đề tài
Tại Việt Nam, nghiên cứu về dân chủ ở các làng xã có vị trí đặc biệt
quan trọng. Ông Vũ Đình Hòe, trong Hồi Ký Thanh Nghị đã nhận định: "Muốn
tìm hiểu lịch sử hình thành dân tộc Việt Nam thì phải tìm hiểu cộng đồng làng
xã, và muốn xây dựng lại đất nước Việt Nam thì cũng phải bắt đầu bằng việc
xây dựng lại cộng đồng làng xã. Vì không có làng xã Việt Nam thì không có
quốc gia Việt Nam" [43, tr. 318].
Dân chủ là đề tài cũ nhưng luôn mới. Cũ vì sự thật dân chủ có những
tiền đề từ thời cổ đại được phát triển với rất nhiều tư tưởng, luận thuyết khác
nhau, nhưng đến hôm nay nó vẫn mới mẻ, vẫn là vấn đề mang tính thời sự,
vẫn mở ra rất nhiều cơ hội tiếp tục tìm tòi, khám phá tìm ra hướng phát triển
cho mỗi nhà nước, mỗi cộng đồng.
Dân chủ ở xã đang là vấn đề bức xúc hiện nay. Dân chủ ở xã nếu được
phát huy nghiêm túc, đúng hướng sẽ thực sự là đòn bẩy quan trọng, là chiếc
chìa khóa mở ra tạo sự chuyển biến quan trọng trên nhiều phương diện với đất
nước có hơn 80% dân cư làm nông nghiệp như Việt Nam. Dân chủ hóa cũng
chính là để phát huy các tiềm năng, tài năng của con người; các năng lực xã
hội, và cũng chính là phát huy nội lực của dân tộc.
Sở dĩ tác giả lựa chọn vấn đề dân chủ ở xã mà không phải dân chủ ở
cấp xã (bao gồm xã - phường - thị trấn) vì phường và thị trấn có những đặc
điểm riêng khác so với cơ sở xã. Phường và thị trấn ít bị các quan hệ dòng tộc,
làng xóm tác động, và có trình độ văn hóa cao hơn ở xã. Xã là nơi tập trung
chủ yếu của cư dân nông thôn, với địa bàn rộng lớn, chiếm khoảng 80% dân
số, 70% lao động xã hội, và chiếm tới 85% trong tổng số các đơn vị hành
chính cấp cơ sở: có đặc điểm chung là nơi vẫn còn chịu ảnh hưởng nặng nề tàn

1





gia, Hà Nội, 2004; Phan Ngọc: Bản sắc văn hóa Việt Nam, Nhà xuất bản Văn
hóa thông tin, Hà Nội, 1998; Vũ Minh Giang: Xây dựng lối sống theo pháp
luật nhìn từ góc độ lịch sử truyền thống, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số
3/1993; Đỗ Long - Phan Thị Mai Hương (chủ biên): Tính cộng đồng, tính cá
nhân và "cái tôi" của người Việt Nam hiện nay, Nhà xuất bản Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2002; Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh: Tâm lý xã hội
trong quá trình thực hiện qui chế dân chủ ở cơ sở, Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2004....
Khai thác dưới góc độ luật học liên quan đến đề tài có một số bài viết
như: Bàn về cải cách chính quyền nhà nước ở địa phương của tác giả Nguyễn
Đăng Dung, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 9/2003; Bài viết: Dân
chủ và pháp luật của PGS.TS Hoàng Thị Kim Quế đăng trên Tạp chí Dân chủ và
pháp luật, số 7(136), 2003; Bài viết: Dân chủ làng xã: truyền thống và hiện tại
của tác giả Nguyễn Việt Hương, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 8 (196)/2004...
Các tài liệu tham khảo nước ngoài nghiên cứu về dân chủ khá nhiều
nổi bật như cuốn A preface to Democratic Theory, của tác giả Robert A.Dahl.
The University of Chicago Press, Chicago 60637, 1956; cuốn Democracy: the
unfinished journey, 508B.C to 1993 A.D, của Đại học Oxford, Hoa Kỳ 1992...
Những tác phẩm đã được dịch sang tiếng Việt như: Phát triển là quyền tự do
của tác giả Amartya Sen (người đạt giải thưởng Nobel về kinh tế học), CIEM
(Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương) và Nhà xuất bản Thống kê, Hà
Nội, 2002; Alvin Toffler, Làn sóng thứ ba (The third wave), Nhà xuất bản
Thanh niên, Hà Nội, 2002. …
Tuy nhiên, chưa có bất kỳ công trình nào nghiên cứu đề tài "Một số
vấn đề lý luận và thực tiễn về dân chủ ở xã" nói trên.
3. Mục đích đề tài và phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu những vấn đề lý luận
và thực tiễn về việc thực hiện dân chủ ở xã dưới cách tiếp cận liên ngành,


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN
VỀ DÂN CHỦ VÀ DÂN CHỦ Ở XÃ

1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DÂN CHỦ

1.1.1. Khái niệm dân chủ
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về dân chủ, do cách thức tiếp cận,
mục đích tiếp cận khác nhau. Dân chủ có thể hiểu dưới nhiều phương diện,
nhiều góc độ: 1- Dân chủ có thể là một dòng triết học - chính trị (dân chủ phản
ánh các giá trị phổ quát như tự do cá nhân, bình đẳng về điều kiện, thống nhất
trong tính đa dạng); 2- dân chủ là một chỉnh thể hiện thực thâu tóm mọi khía
cạnh vật chất và tinh thần của dân chủ (nền dân chủ); 3- dân chủ là một khái
niệm chính trị - pháp lý (hình thức nhà nước); 4- dân chủ là một hiện thực kinh
tế (thị trường tự do); 5- dân chủ là một hiện thực xã hội (các tổ chức phi chính
phủ, các tổ chức xã hội, phong trào lao động và xã hội quốc tế); 6- dân chủ là
trạng thái của hệ thống quan hệ quốc tế (quyền tự quyết dân tộc, chủ quyền
quốc gia…). Căn cứ vào phạm vi có thể hiểu dân chủ ở nghĩa phổ quát: ở tầm
quốc tế, ở mỗi khu vực; mỗi quốc gia; từng cộng đồng dân cư; và ở sự cảm
nhận về dân chủ của từng người dân.
Lý thuyết về dân chủ đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài trong
lịch sử nhân loại. Thực tiễn của dân chủ là kết quả của sự đấu tranh bền bỉ của
các lực lượng tiến bộ chống lại các thể lực phản động. Cội nguồn của khái
niệm dân chủ bắt nguồn từ xã hội Athen cổ đại, dân chủ theo gốc tiếng Hy Lạp
là ''demokratia" nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân [85, tr. 86], nhân dân có
quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến cuộc sống, bản thân và xã hội. Dân
chủ cũng được hiểu là một trong những hình thức chính quyền tuyên bố chính
thức nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số và thừa nhận quyền tự do và bình
đẳng của công dân [85, tr. 87].

bản của nhà nước là ở chỗ nó là một quyền lực công cộng tách rời khỏi nhân
dân. Cho nên khi còn tồn tại nhà nước thì không thể tồn tại một nền dân chủ
trưc tiếp thuần túy. Dân chủ trực tiếp ở Hy Lạp và La Mã chỉ mang tính hình

6


thức. Nếu đó là một nền dân chủ trực tiếp thực sự thì Aten và La Mã không
phải là những nhà nước. Nếu toàn thể dân chúng đều có thể trực tiếp tham gia
quyết định các công việc của xã hội thì không còn khái niệm dân chủ nữa, và
cũng không có nhà nước nữa, mà chỉ có sự tự quản của nhân dân. Đó chỉ có thể
là xã hội cộng sản chủ nghĩa trong tương lai theo sự phát triển tất yếu của xã
hội loài người.
Như vậy, có thể thấy rằng dân chủ chỉ xuất hiện khi trước đó đã tồn tại
ba yếu tố: nhân dân, quyền lực công cộng và mối quan hệ giữa chúng. Trong
lịch sử của Hy Lạp cổ đại, hình thức quyền lực công cộng đầu tiên của các
quốc gia - đô thị được sử sách ghi lại chính là nhà nước. Xét về phương thức
tổ chức quyền lực, thì rõ ràng để có dân chủ thì nhân dân phải là chủ thể của
quyền lực, do đó người ta có thể đề cập đến nhà nước mà không có dân chủ,
nhưng không thể đề cập đến dân chủ mà không có nhà nước.
Dân chủ cũng không thể không đặt trong mối liên hệ với pháp luật.
Chính pháp luật là điều kiện, là đảm bảo để có dân chủ. Những biểu hiện xa lạ
với dân chủ có nguy cơ phá vỡ, làm biến dạng tập trung không phải là dân chủ
mà là tự do vô chính phủ, tính phân tán, tản mạn, cục bộ, vô kỷ luật, tính tự
phát, coi thường pháp luật, kỷ cương... Và cũng vậy những biểu hiện xa lạ với
dân chủ, dẫn tới vi phạm và triệt tiêu dân chủ không phải là tập trung mà là
tình trạng quan liêu, chuyên chế, độc tài, tính áp đặt mệnh lệnh, bao hàm cả
thói tùy tiện, hỗn loạn, vô chính phủ [67, tr. 55].
Tại sao cho tới tận thế kỷ XVII - XVIII, nhiều tên tuổi nổi tiếng như
Montesquieu hay Rousseau vẫn coi chính thể dân chủ là một thể chế chính trị

hiểu là hình thức nhà nước (dạng tổ chức quyền lực nhà nước) thể hiện mối
quan hệ giữa cộng đồng dân cư và nhà nước; hình thức hoạt động của mặt trận
tổ quốc và các tổ chức xã hội; là hình thức cụ thể trong các lĩnh vực của xã hội
công dân; là tự do cá nhân - một giá trị mang tính phổ biến trong cuộc sống
đời thường.
1.1.2. Xu hướng vận động, phát triển của dân chủ thế kỷ XXI

8


Trước khi tìm hiểu về dân chủ ở Việt Nam và dân chủ ở làng xã, chúng
tôi cho rằng, việc nhìn nhận đánh giá xu hướng vận động của vấn đề dân chủ
trên thế giới là vô cùng quan trọng, chính điều này sẽ giúp cho những kiến giải
của luận văn có cái nhìn tổng quan và phù hợp với xu hướng chung của thế
giới. Qua tìm hiểu, chúng tôi thấy rằng vấn đề dân chủ hiện nay đang diễn ra
rất phức tạp, nhiều quan điểm và nhiều luận thuyết khác nhau, nhưng cơ bản
đều thừa nhận những đặc điểm sau như những xu hướng vận động cơ bản của
dân chủ thế kỷ XXI:
1.2.1.1. Thừa nhận và tôn trọng lợi ích của thiểu số nhằm đạt được
lợi ích đa phương
Theo dự đoán của nhiều nhà khoa học nước ngoài thì tới đây (trong
suốt thế kỷ thứ XXI) nhân loại sẽ nếm trải những biến đổi mạnh mẽ của làn
sóng thứ ba (cuộc cách mạng công nghệ thông tin và sự xuất hiện nền kinh tế
tri thức) và làn sóng ấy sẽ làm biến đổi căn bản các thể chế chính trị quốc gia
và quốc tế theo chiều hướng dân chủ phổ biến và trực tiếp. Khi nói về dân chủ
thế kỷ XXI, Alvin Toffler - nhà tương lai học được đánh giá cao nhất trong
những năm gần đây đã khẳng định rằng:
Làn sóng chính trị sẽ không dừng lại ở cấp quốc gia. Trong
những thập kỷ sắp đến, toàn bộ "bộ máy luật pháp toàn cầu" từ Liên
hợp quốc đến Hội đồng thành phố, sẽ đối mặt với sự đòi hỏi không

là một công cụ đơn thuần về lượng, cái gì để đảm bảo cho chất lượng quan
điểm của một người.
Chúng tôi cho rằng, dân chủ trong thế kỷ XXI phải là dân chủ thực
chất. Dân chủ chẳng những chấp nhận sự khác biệt, mà còn lấy sự khác biệt,
tính đa dạng trong nhân cách để làm nền tảng cho phát triển. Mọi sự khác biệt
đều có quyền tồn tại và bởi vậy mà thế giới mới đa dạng, phong phú và nhiều
màu sắc. Thế nên những khác biệt là bình đẳng với nhau và dân chủ như môi
trường nuôi dưỡng và bảo tồn các bộ phận thiểu số trong xã hội, là sự khoan
dung và chấp nhận lẫn nhau giữa chủ quyền của thiểu số và đa số. Các đặc

10


trưng sắc tộc, các luật tục địa phương, các cộng đồng thiểu số, các nền văn hóa
độc đáo không lặp lại, các thổ ngữ, văn tự v.v… đều là những giá trị cần được
dân chủ tôn trọng và bảo tồn bằng những đặc lệ.
Hơn nữa, cần phải thấy được rằng, bản chất của dân chủ là chấp nhận
sự đa dạng hợp lý, dân chủ không xua đuổi, không áp đặt các ý kiến, dân chủ
thu nhận tất cả những khác biệt ấy, để làm gì? Để dung hợp hoặc tìm ra tiếng
nói chung, hoặc đi tới giải pháp tối ưu nhất nhằm đem lại lợi ích đa
phương. Tính linh hoạt của dân chủ trong việc tìm lợi ích đa phương đó sẽ là
giải pháp tối ưu, và là thách thức lớn đối với việc thực hành dân chủ.
Khả năng tự hoàn thiện và tiến bộ không ngừng của nền dân chủ chính
là nhờ sự chấp nhận tính đa dạng của các ý kiến, nó sử dụng tính đa dạng ấy
như cơ chế phản biện. Chính vì vậy, năng lực tự phê phán, tự so sánh đối
chiếu và luôn thay mới sẽ tự làm mới vấn đề dân chủ, và có lẽ đó cũng là xu
hướng của dân chủ trong thế kỷ XXI.
1.2.1.2. Phân công, phân cấp hợp lý
Yếu tố có tác động không nhỏ đến tính chất và mức độ dân chủ trong
tương lai là sự phân cấp, phân công hợp lý. Phân cấp hay phân công là việc giao

biểu ngày càng hiểu biết ít hơn về các việc mà họ phải quyết định. Khi năng
lực của đại biểu dân cử kém, mà lại bảo thủ, đóng kín, khi đó người dân đương
nhiên sẽ ít cảm thấy được đại diện đầy đủ. Người đại biểu muốn giải quyết
được công việc buộc phải dựa vào sức mạnh, nguồn lực từ bên ngoài. Hay nói
cách khác, nếu muốn thực sự là đại diện cho dân, cho tiếng nói của dân thì
không còn cách nào khác họ buộc phải dựa vào bộ máy giúp việc và chuyên
gia cố vấn (hình thức này mới là chủ đạo trong tương lai). Như vậy, dân chủ
về mặt hình thức là gián tiếp nhưng hóa ra lại có cả những yếu tố trực tiếp, từ
chỗ chỉ cần người đại biểu đại diện cho nhân dân thuần túy tới việc người đại
biểu phải chủ động huy động sức mạnh, trí tuệ của nhân dân, tranh thủ sự tự
vấn của các nhóm chuyên gia để đại diện cho dân. Dân chủ bán trực tiếp là
dân chủ không khép kín, nó sẽ bao gồm những thiết chế để đảm bảo sự giám
sát có hiệu quả, lâu dài từ phía thiểu số.

12


1.2.1.4. Pháp luật - công cụ, phạm vi, đảm bảo của dân chủ
Muốn có dân chủ thực sự thì dân chủ phải đặt trong mối liên hệ với
pháp luật. Pháp luật là đại lượng và phương tiện của dân chủ. Nhưng pháp luật
cũng có tính độc lập tương đối đối với dân chủ: pháp luật không sinh ra dân
chủ bởi dân chủ không tự trên trời rơi xuống mà là kết quả đấu tranh lâu dài
của nhân dân lao động, là kết quả của quá trình nhận thức, là tất yếu của tiến
bộ xã hội.
Ngoài sự quyết định và chi phối của các nhân tố kinh tế và phi kinh tế,
sự phát triển của pháp luật nhìn chung phụ thuộc vào trình độ nền dân chủ hiện
thời hoặc ảnh hưởng từ bên ngoài của các nền dân chủ khác. Đến lượt mình,
dân chủ lại phụ thuộc vào các điều kiện khách quan về kinh tế - chính trị - xã
hội. Pháp luật với ưu thế và nhược thế riêng của mình lại tác động trở lại đối
với dân chủ. Pháp luật có thể thúc đẩy, hỗ trợ cho dân chủ phát triển và ngược

hiện của nó ra sao để trên cơ sở đó ta có thể rút ra những bài học trong việc
xây dựng nền dân chủ hiện nay.
Sau khi Lý Công Uẩn lên ngôi, năm 1010 Lý Công Uẩn rời đô về
Thăng Long, nhà Lý đã chủ trương xây dựng một mô hình chính quyền thân
dân, phát huy sức mạnh của nhân dân, sử dụng kế sách: "Ngự binh ư nông",
nhà nước không xây dựng lực lượng quân đội thường trực mà xây dựng một
lực lượng dân đinh. Bản chất của kế sách "ngự binh ư nông" chính là sự vận
dụng khéo léo quan điểm "tĩnh vi nông, động vi binh", khi mà chiến tranh xảy
ra có thể huy động được mọi người cùng tham gia quân đội. Điểm tích cực ở
kế sách này đó là xây dựng được lực lượng quốc phòng đủ mạnh, nhưng
ngược lại nhà nước lại không tốn kém nhiều tiền, đồng thời vẫn phát huy được
sức mạnh của nhân dân. ý thức tôn dân được khẳng định rõ trong Chiếu dời đô
của Lý Công Uẩn: "Muốn mưu việc lớn, tính kế muôn đời cho con cháu thì
trên phải vâng mệnh trời, dưới theo ý dân"; ngay cả việc nhà Lý đặt Lầu
Chuông trong thành Thăng Long để "dân chúng ai có việc kiện tụng oan uổng
thì đánh chuông lên" cũng là một biểu hiện rất rõ ý thức dân chủ.

14


Thời kỳ từ 1225 - 1400 là giai đoạn cai trị của nhà Trần: Nhà Trần vẫn
tiếp tục dựa vào mô hình nhà nước thân dân, thậm chí đạt đến độ hoàn thiện.
Thời kỳ này nổi lên mô hình coi già làng là người có vai trò lớn trong những
quyết sách quan trọng của quốc gia. Dưới thời Trần có hai sự tích khiến không
chỉ những người nghiên cứu lịch sử trong và ngoài nước phải ngạc nhiên đó là
tích tha tội cho tiểu hiệu Hoàng Cự Đà và tích Hội nghị Diên Hồng.
Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Bản in nội các quan Bản Mộc bản khắc
năm Chính Hòa thứ 18 (1697):
Vào năm 1257 (Đinh Tỵ), năm thứ 7 trị vì của Vua Trần
Thái Tông có câu truyện: "Trước kia có lần vua Trần Thái Tông ban

biệt khi Trần Hưng Đạo sắp qua đời được vua Trần hỏi về kế giữ nước ông đã
nói rằng: "Thần nghĩ ta thắng giặc giữ là do trên dưới đồng lòng...vì vậy,
khoan thứ sức dân làm kế gốc rễ bền, ấy là thượng sách giữ nước" [75, tr. 80].
Có thể nói, tư tưởng dựa vào dân của Trần Quốc Tuấn là một minh chứng một tư tưởng đặc sắc về dân chủ trong lịch sử.
Đầu thế kỷ XI, Hồ Quý Ly chuẩn bị kháng chiến chống quân Minh
xâm lược, xây dựng lực lượng quân thường trực khá đông, có súng thần cơ, có
nhiều chiến thuyền, nhưng không đoàn kết được toàn dân, lòng dân ly tán nên
đã thất bại, cha con Hồ Quý Ly đều bị giặc Minh bắt, lúc đó Hồ Nguyên Trừng
đã chỉ rõ nguyên nhân của sự thất bại chỉ thông qua một câu nói: "Tôi không
sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo mà thôi"[75, tr. 235].
Dưới triều Lê, Nguyễn Trãi cũng ví dân như nước, nước có thể chở
thuyền và lật thuyền nên "phúc chu thủy tín dân do thủy" (thuyền bị lật mới
biết sức dân như nước). Đặc biệt ông đã nêu lên những tư tưởng sâu sắc về vai
trò cũng như sức mạnh của dân trong Bình Ngô đại cáo với tư tưởng an dân và
trừ bạo ngược: "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân. Quân điếu phạt trước lo trừ
bạo" [83, tr. 201]. Nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống quân
Minh đã được Nguyễn Trãi đúc kết: "Nêu hiệu gậy làm cờ, tập hợp khắp bốn
phương dân chúng. Thết quân rượu hòa nước, dưới trên đều một bụng cha con".
Ông ví dân như nước, các triều đại phong kiến như con thuyền; thuyền nổi

16


được là nhờ nước; khẳng định tư tưởng thái bình thịnh trị: "Cái gốc của nhạc
là ở nơi thôn cùng xóm vắng không có một tiếng hờn giận oán sầu" [83,
tr.202]; khẳng định trách nhiệm của người cầm quyền: "Phàm người có chức
vụ coi quan trị dân đều phải theo phép công bằng... đổi bỏ thói tham ô, sửa
trừ tệ lười biếng, coi công việc của quốc gia là công việc của mình; lấy điều lo
của sinh dân làm điều lo thiết kỷ" [83, tr. 199].
Thực tế là đất nước ta luôn luôn gặp thiên tai và ngoại xâm, làm cho

quyền của xã hội phương Tây.
Là người sáng lập và lãnh đạo của Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị
lãnh tụ thiên tài của cách mạng và nhân dân Việt Nam đã tiếp thu những tư tưởng
dân chủ tiên tiến khắp năm châu và đã phát triển lên những bước mới và thực
hiện thành công ở Việt Nam, ''có phát huy dân chủ đến cao độ thì mới động
viên được tất cả lực lượng của nhân dân đưa cách mạng tiến lên'' [57, tr. 556].
Hồ Chí Minh không những thấy rõ vai trò và sức mạnh quyết định của quần
chúng nhân dân, mà tư tưởng của người đã vượt lên trên tư tưởng của những
nhà cách mạng đương thời, trở thành tư tưởng tiên tiến, giải đáp được những
vấn đề cấp bách của dân tộc, của xã hội Việt Nam, của dân tộc Việt Nam trong
hoàn cảnh mới và thời đại mới.
Khi nghiên cứu các cuộc cách mạng tiêu biểu của thế giới, Hồ Chí
Minh quan tâm đầu tiên tới việc chính quyền nhà nước về tay ai, có thuộc về
nhân dân lao động không và điều quan tâm, trăn trở lớn nhất của Người là phải
giành chính quyền về tay nhân dân, xây dựng Nhà nước do nhân dân lao động
làm chủ và đây là điểm cơ bản khác biệt nhất của Nhà nước ta so với Nhà
nước thực dân, Nhà nước phong kiến. Hồ Chí Minh đã khẳng định rất rõ ràng:
"Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi
mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là
công việc của dân. Nói tóm lại quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân" [67, tr.
476]; đồng thời, Người đã thấy tất cả sức mạnh của chính quyền nhà nước là ở
nhân dân: '' Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng qua''.
Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân chủ bao gồm cả ba vấn đề: dân quyền,

18


dân sinh và dân trí. Quan điểm dân chủ của Người là quan điểm dân chủ thiết
thực và cụ thể. Theo Người, dân chủ, thứ nhất, là dân là chủ ''nước ta là nước
dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ''; ''chế độ ta là chế độ dân chủ tức

tính cộng đồng nên ai bỏ làng đi bị coi là biến chất, dẫn đến hệ quả là không

22


khuyến khích việc làm giàu, làng xã đã hình thành nên một vách ngăn vô hình
đã khiến người dân quê rất khó "mở mày mở mặt" với thiên hạ. Chính từ
những cơ sở của lịch sử, kinh tế và xã hội đã phân tích cho thấy yếu tố dân chủ
trong truyền thống Việt Nam chưa thực sự được quan tâm chú trọng. Dân chủ
trong lịch sử Việt Nam chủ yếu tồn tại ở hai dạng là dân chủ nông dân mà mục
tiêu cao nhất của nó là hướng đến bình quân chủ nghĩa, và dân chủ làng xã lấy
quan hệ cộng đồng để trói buộc con người, từ đó dẫn đến thủ tiêu vai trò cá
nhân.Trong đấu tranh xã hội, tư tưởng dân chủ của nông dân Việt Nam chỉ
dừng lại ở yêu cầu bình đẳng xã hội, bình đẳng tài sản mà mức độ phát
triển cao nhất là chủ nghĩa bình quân về kinh tế - xã hội và tư tưởng bạo
động về mặt chính trị. Tư tưởng đó gắn liền với tâm lý người nông dân công
xã, người sản xuất nhỏ, nó có mặt chính đáng và tích cực của nó trong cuộc
đấu tranh chống chế độ chuyên chế, chống những bất công của xã hội phong
kiến, nhưng cũng bộc lộ mặt không tưởng và bất lực của người nông dân trong
sự nghiệp tự giải phóng mình.
Khởi nguồn của dân chủ là từ thôn, làng - đơn vị hành chính tự nhiên
gần dân nhất. Trong lịch sử, quan niệm về đơn vị hành chính cơ sở đã có
những bước phát triển tiến bộ theo tiến trình phát triển của nhà nước phong
kiến Việt Nam. Làng là thuật ngữ thuần Việt, dùng để chỉ khối dân cư ở nông
thôn, tạo thành một đơn vị có đời sống riêng về nhiều mặt và vào thời kỳ đầu
của lịch sử nhà nước phong kiến Việt Nam, làng được xác định là đơn vị hành
chính cơ sở. Xã là một từ Hán Việt được hiểu với những nghĩa khác nhau,
trong đó có nghĩa là đơn vị hành chính cơ sở ở nông thôn. Thuật ngữ này bắt
đầu được sử dụng ở Việt Nam vào đầu thế kỷ thứ VII khi Khâu Hòa (Giao
châu tổng quản của nhà Đường) thực hiện chính sách cai trị đối với làng Việt

khi họ Khúc giành được quyền tự chủ, chính quyền nhà nước phong kiến lúc
đó mới thi hành những cải cách hành chính, biến công xã thành đơn vị hành
chính cấp cơ sở, gọi là "xã" [92, tr. 218].

24


Cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ XIV, nhà Minh chiếm nước ta và áp đặt y
nguyên mô hình nông thôn Trung Quốc (dưới triều Minh) vào Việt Nam. Nhà
Minh tổ chức thành các lý, mỗi lý có khoảng 110 gia đình và đứng đầu là lý
trưởng (chức danh lý trưởng lần đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam thời kỳ này,
sau này được phổ biến dùng ở triều Nguyễn).
Nếu như ở thời Trần xã quan là do nhà vua bổ nhiệm, thì bắt đầu từ
năm 1466, xã quan được đổi thành xã trưởng và từ năm 1483 vua Lê Thánh Tông
ra sắc chỉ về bầu xã trưởng dưới hình thức họp dân trong xã lại xét chọn. Xã
trưởng không phải là người của triều đình mà do dân trong xã đề cử, quan trên
bổ nhiệm. Thông qua việc chuyển từ cơ chế bổ nhiệm xã quan sang cơ chế bầu
xã trưởng ta có thể thấy tính chất dân chủ đã được thể hiện ở cấp độ cao hơn.
Theo thống kê vào những năm 1920 - 1921, ở Việt Nam đã có tới
22.565 hương đảng tiểu triều đình trong đó Bắc Kỳ có tới 10.887 làng xã,
Trung Kỳ có tới 9.871 làng xã và Nam Kỳ có 1.871 làng xã và Nam Kỳ có
1.861 xã ấp. Ngày nay làng, thôn, ấp, bản là đơn vị xã hội dưới đơn vị hành
chính cơ sở là xã, qui mô của xã cũng lớn hơn qui mô của làng xã trong lịch sử.
Vào những năm đầu khi mới giành được chính quyền từ tay thực dân
Pháp, nhà nước chủ trương hợp các xã nhỏ lại, bỏ cấp tổng, do vậy xã lúc đó
gồm 2, 3 xã cũ, có khi đến 4, 5 xã cũ. Dưới xã là thôn nhưng thôn không phải
là đơn vị hành chính cơ sở. Giai đoạn này, qui mô của xã được qui định cụ thể:
+ Xã đồng bằng dài từ 3 đến 10 km, trên 3.000 dân;
+ Xã trung du dài từ 10 đến 20 km, trên 2.000 dân;
+ Xã miền núi dài từ 30 đến 60 km, dân cư có từ 1 đến 2 hộ/ 1 km2


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status