LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở VIỆT NAM - Pdf 39

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Bản án, quyết định của Tòa án nhân danh Nhà nước khi được chấp
hành nghiêm chỉnh có tác động trực tiếp đến lòng tin của nhân dân đối với
pháp luật. Vì vậy, hoạt động thi hành án có một ý nghĩa vô cùng quan trọng
trong việc giữ vững kỷ cương phép nước, củng cố pháp chế và trật tự pháp
luật xã hội chủ nghĩa, đảm bảo cho quyền lực tư pháp được thực thi trên thực
tế. Hiến pháp 1992 khẳng định: "Các bản án và quyết định của Tòa án nhân
dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế,
tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng;
những người và đơn vị hữu quan nghiêm chỉnh chấp hành".
Nhận thức được tầm quan trọng trong công tác này, Đảng và Nhà
nước ta đã đề ra mục tiêu trong những năm tới đây là phải: "Tiếp tục tạo sự
chuyển biến mạnh mẽ trong công tác thi hành án dân sự, nâng cao hiệu quả
công tác thi hành án, giải quyết căn bản tình trạng án tồn đọng. Đổi mới tổ
chức và hoạt động của hệ thống cơ quan thi hành án dân sự, nâng cao vai trò
trách nhiệm của các cơ quan thi hành án" [1]. Nhiều năm qua, Chính phủ đã
xác định công tác thi hành án dân sự là một trong những nhiệm vụ trọng tâm
và đã đưa ra nhiều giải pháp hiệu quả nhằm tạo sự chuyển biến cơ bản trong
công tác này. Do vậy, công tác thi hành án dân sự trong những năm qua đạt
được một số kết quả đáng khích lệ, mà kết quả nổi bật nhất theo đánh giá của
Chính phủ là: "Hệ thống cơ quan thi hành án dân sự được hình thành trong cả
nước, công tác thi hành án dân sự đã được triển khai và hoạt động có hiệu quả
bước đầu" [35]. Tuy nhiên, bên cạnh đó, công tác thi hành án dân sự hiện vẫn
đang đứng trước những khó khăn, thử thách to lớn với nhiều vấn đề tồn tại,
bất cập đang đặt ra cần được giải quyết. Hiệu quả công tác thi hành án dân sự

1





Với tất cả những lý do nêu trên, việc chọn đề tài "Thực trạng và giải
pháp nhằm nâng cao hiểu quả thi hành án dân sự ở Việt Nam" làm luận
văn thạc sĩ luật học là cấp thiết và có ý nghĩa thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Những năm gần đây, trước những đòi hỏi khách quan của công tác thi
hành án dân sự, đã có một số công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề thi hành
án dân sự, cụ thể là: Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ "Những cơ sở lý luận và
thực tiễn về chế định Thừa phát lại", mã số 95-98-114/ĐT do Viện Nghiên
cứu Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp và Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh
chủ trì thực hiện; Đề tài nghiên cứu cấp Bộ: "Mô hình quản lý thống nhất công
tác thi hành án", mã số 96-98- 027/ĐT do Cục Thi hành án dân sự - Bộ Tư pháp
chủ trì thực hiện; Đề tài cấp Nhà nước đang thực hiện: "Luận cứ khoa học của
việc đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án ở Việt Nam trong giai đoạn mới"
do Bộ Tư pháp chủ trì; Đề tài: "Thi hành án dân sự, thực trạng và hướng hoàn
thiện của Dự án VIE/98/001" do Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện dự án. Một số
luận án và công trình nghiên cứu khác như: Luận văn thạc sĩ luật học: "Các
biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự, thực tiễn áp dụng và hướng hoàn
thiện" của tác giả Nguyễn Công Long; Luận văn thạc sĩ luật học "Hoàn thiện
pháp luật thi hành án dân sự" của tác giả Nguyễn Thanh Thủy; Luận văn thạc sĩ
luật học của tác giả Lê Xuân Hồng về "Xã hội hóa thi hành án dân sự ở Việt
Nam"; Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn Quang Thái về "Đổi mới tổ
chức và hoạt động thi hành án dân sự ở Việt Nam"; Luận văn thạc sĩ luật học
của tác giả Lê Anh Tuấn về "Đổi mới thủ tục thi hành án dân sự ở Việt Nam"...
Bên cạnh đó là Giáo trình môn Luật tố tụng dân sự của trường Đại học luật Hà
Nội và các trường Đại học có chuyên ngành luật; một số bài viết đăng trên các
tạp chí Dân chủ và pháp luật, Tạp chí Luật học, Tạp chí Nhà nước và pháp
luật…
Các công trình nêu trên đã có nội dung nghiên cứu về thi hành án dân


4


- Phương pháp luận của việc nghiên cứu đề tài là chủ nghĩa duy vật
biện chứng, duy vật lịch sử và phép biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật.
- Các phương pháp cụ thể được sử dụng kết hợp, đó là: Phương pháp
nghiên cứu lịch sử, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương
pháp thống kê, tổng hợp.
6. Ý nghĩa và những điểm mới của luận văn
- Luận văn đã đưa ra và luận giải được một số quan điểm cơ bản về
khái niệm thi hành án và thi hành án dân sự, tìm hiểu đặc điểm, bản chất của
thi hành án và thi hành án dân sự, góp phần bổ sung, làm phong phú thêm cho
hoạt động nghiên cứu khoa học về pháp luật thi hành án.
- Từ việc đánh giá thực trạng pháp luật thi hành án dân sự, tác giả đã
đưa ra được những điểm bất cập cần sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện hệ
thống pháp luật thi hành án dân sự.
- Từ việc đánh giá thực tiễn thi hành án dân sự, tác giả đã phân tích
những nguyên nhân và đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi
hành án dân sự.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thi hành án dân sự.
Chương 2: Thực trạng pháp luật thi hành án dân sự và thực tiễn thi
hành án dân sự.
Chương 3: Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự.

5


6


này có thể làm thay đổi kết quả thi hành án hay cách thức tiến hành thi hành
án của cơ quan thi hành án.
Với quan điểm này, thi hành án được hiểu là giai đoạn kết thúc trình
tự tố tụng, là khâu cuối cùng kết thúc một vụ án được xét xử làm cho phán
quyết của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Quan điểm thứ hai, coi thi hành án là hoạt động hành chính - tư pháp.
Theo quan điểm này, quá trình tố tụng mà trọng tâm là việc xét xử của Tòa án
chấm dứt khi Tòa án ra phán quyết nhân danh Nhà nước, trong đó Tòa án đã
xác định quyền, nghĩa vụ các bên, còn việc thi hành phán quyết đó là giai
đoạn khác, không thuộc quá trình tố tụng. Thi hành án không phải là giai đoạn
tố tụng, bởi vì "thi hành án có mục đích khác với mục đích tố tụng, tố tụng là
quá trình đi tìm sự thật của các vụ việc đã diễn ra trên thực tế, trên cơ sở đó
đưa ra phương án giải quyết vụ việc theo đúng quy định của pháp luật, còn thi
hành án là quá trình tiến hành các hoạt động nhằm thực hiện các bản án, quyết
định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật" [34, tr.21].
Ngoài hai quan điểm cơ bản nêu trên, còn có quan điểm khác về thi
hành án:
Quan điểm thứ ba khẳng định, thi hành án là hoạt động tư pháp [39, tr. 8].
Bởi vì, gốc của hoạt động thi hành án là bản án, quyết định của Tòa án và các
quyết định theo quy định của pháp luật. Khi thực hiện nhiệm vụ, Cơ quan thi
hành án phải thi hành theo đúng quyết định của Tòa án chứ không phải theo
mệnh lệnh hành chính. Thi hành án phần lớn thông qua vai trò hoạt động của
các cá nhân những người được Nhà nước giao trách nhiệm thi hành các bản
án, quyết định như Chấp hành viên, Giám thị viên hoặc các cơ quan tổ chức
và người có thẩm quyền khác. Hoạt động hành chính trong lĩnh vực thi hành
án chẳng qua cũng chỉ để đảm bảo phục vụ cho chức năng chính của cơ quan

trong hoạt động của mình. Vì thế nên coi thi hành án là hoạt động hành chính tư pháp.
* Thi hành án với những đặc điểm của hoạt động quản lý hành chính

8


- Thi hành án là một hoạt động diễn ra sau quá trình xét xử của Tòa
án. Các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật là cơ sở để
tiến hành các hoạt động thi hành án. Do đó, không có kết quả của hoạt động
xét xử thì không có hoạt động thi hành án. Là một dạng hoạt động hành chính
nhà nước, thi hành án thể hiện tính chấp hành, quản lý rất rõ "bởi toàn bộ quá
trình thi thành án với những hoạt động, biện pháp, cách thức khác nhau đều
nhằm thực hiện những nội dung đã được thể hiện trong các bản án, quyết định
của Tòa án và theo các quy định cụ thể của pháp luật" [34].
- Trong quá trình thi hành án, Cơ quan thi hành án tác động tới đối
tượng phải thi hành án để họ tự giác thi hành hoặc cơ quan thi hành án áp
dụng các biện pháp buộc họ phải thực hiện nghĩa vụ đã được xác định trong
bản án, quyết định của Tòa án, quyết định khác theo quy định của pháp luật.
Qua đó, giáo dục họ và những người xung quanh về ý thức tôn trọng pháp
luật, tôn trọng lợi ích của tập thể và cá nhân, kỷ cương của Nhà nước. Để thực
hiện được điều đó, yêu cầu của hoạt động thi hành án phải có tính kế hoạch,
tổ chức, đôn đốc, kiểm tra... đó là những tính chất của hoạt động quản lý.
- Đối với thi hành án, phương pháp giáo dục, thuyết phục là cần thiết
nhưng phương pháp mệnh lệnh, bắt buộc phải thực hiện lại mang tính đặc
trưng (đặc biệt là trong thi hành án hình sự).
Tuy nhiên, thi hành án không chỉ mang tính hành chính đơn thuần mà
nó còn thể hiện tính hành pháp.
* Thi hành án với những đặc điểm của hoạt động tư pháp
- Thi hành án chủ yếu do cơ quan tư pháp (theo nghĩa rộng) tiến hành.
Có nhiều cơ quan tham gia vào quá trình thi hành án, nhất là trong

bảo thi hành các bản án, quyết định về dân sự của Tòa án hoặc quyết định
khác của cơ quan có thẩm quyền.
Trong khái niệm này, vấn đề cần tiếp tục làm rõ là phải hiểu như thế
nào về "dân sự" trong thi hành án?

10


Theo ý kiến thứ nhất thì "dân sự" được hiểu theo nghĩa hẹp. Cơ sở để
đưa ra ý kiến này xuất phát từ quy định của Điều 1 Bộ luật dân sự năm 1995
cho rằng, quan hệ dân sự bao gồm quan hệ về tài sản và nhân thân phi tài sản
phát sinh trong giao lưu dân sự. Vì vậy, những bản án, quyết định dân sự
trong thi hành án bao gồm bản án, quyết định liên quan đến quan hệ tài sản và
nhân thân phi tài sản (như bản án, quyết định về tranh chấp các loại hợp đồng
dân sự, về hôn nhân gia đình và một số loại bản án, quyết định có tính chất dân
sự).
Ý kiến thứ hai hiểu "dân sự" theo nghĩa rộng. Theo pháp luật của nhiều
nước trên thế giới, việc tổ chức thi hành các bản án có nguồn gốc pháp luật về
nội dung là luật tư (luật dân sự, luật kinh doanh, thương mại, lao động) được
thực hiện theo một thủ tục chung qui định trọng bộ luật tố tụng dân sự [24].
Chúng tôi đồng ý với quan điểm thứ hai. Tuy nhiên, theo pháp luật
Việt Nam thì "dân sự" trong thi hành án cần được hiểu một cách cụ thể. Đó là:
Những bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân gia đình, lao động, kinh tế; bản
án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài; quyết định của Trọng tài nước
ngoài được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam; quyết
định về dân sự, phạt tiền, tịch thu tài sản, xử lý vật chứng, tài sản, truy thu
tiền, tài sản, thu lợi bất chính, án phí trong bản án, quyết định của Tòa án về
hình sự; quyết định về phần tài sản trong bản án, quyết định của Tòa án về
hành chính; quyết định tuyên bố phá sản, quyết định của Trọng tài thương mại
Việt Nam (Điều 1 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004).

hành án dân sự là một hoạt động không thể thiếu được trong quá trình bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Thông qua thi hành án, kết quả của
công tác xét xử được củng cố, hiệu lực các bản án, quyết định của Tòa án
được đảm bảo. Mặt khác, thi hành án dân sự còn là giai đoạn kiểm nghiệm
qua thực tiễn những phán quyết của Tòa án, phản ánh, trung thực chất lượng
và hiệu quả của hoạt động xét xử. Vì nếu như bản án tuyên đúng với bản chất,
hiện thực khách quan, có lý, có tình thì trong quá trình thi hành án sẽ thuận lợi
hơn những trường hợp bản án, quyết định của Tòa án không đúng sự thật,
không phù hợp với thực tế khách quan. Thực tế cho thấy có nhiều vụ việc

12


đương sự không tự nguyện thi hành hoặc gửi đơn khiếu nại, tố cáo đi nhiều
nơi không phải vì cơ quan thi hành án làm sai mà vì không đồng tình với
quyết định của Tòa án nên cố tình trì hoãn việc thi hành án.
* Thi hành án dân sự góp phần nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân
Đặc thù của thi hành án dân sự là sự kết hợp chặt chẽ giữa vai trò chủ
động, phát huy trách nhiệm của Chấp hành viên, cơ quan thi hành án và sự chỉ
đạo của chính quyền địa phương, sự phối hợp các cơ quan tổ chức có liên quan
và sự đồng tình của quần chúng, tạo ra sức mạnh tổng hợp, nâng cao ý thức trách
nhiệm của cộng đồng. Trong hoạt động thi hành án dân sự, thi hành án không chỉ
là hoạt động nghiệp vụ riêng của cơ quan thi hành án, Chấp hành viên mà còn là
trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, đoàn thể xã hội và
mọi thành viên trong cộng đồng. Thông qua công tác thi hành án, ý thức pháp
luật của nhân dân, vai trò, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức được nâng lên.
1.3. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THI HÀNH ÁN DÂN
SỰ VIỆT NAM

Dưới thời Pháp thuộc, thi hành án dân sự hình thành với tên gọi Thừa

của chính quyền cách mạng [6]. Ngày 20/11/1994, Chủ tịch Chính phủ lâm
thời Việt Nam dân chủ cộng hòa ký Sắc lệnh số 13 về tổ chức các Tòa án và
các ngạch thẩm phán đã đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho tổ chức thi hành án
dân sự Việt Nam. Tại khoản 3, Điều 3 của Sắc lệnh qui định: Ban tư pháp xã
có quyền thi hành những mệnh lệnh của thẩm phán cấp trên.
Như vậy, tổ chức thi hành án dân sự đã được hình thành ngay trong
những năm đầu Cách mạng tháng Tám thành công và tồn tại dưới hai hình
thức là: Thừa phát lại và Ban tư pháp xã. Tuy tồn tại hai lực lượng thi hành
án, nhưng việc thực hiện thi hành án do Thừa phát lại hay Ban tư pháp xã tiến
hành, đều thể hiện quyền lực nhà nước và được đảm bảo bởi sức mạnh cưỡng
chế của Nhà nước. Điều này được thể hiện tại Sắc lệnh số 130 ngày 19/7/1945
của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa. Điều thứ nhất của Sắc

14


lệnh này quy định: "Các bản toàn sao hoặc trích sao bản án hoặc mệnh lệnh
do các phòng Lục sự phát cho các đương sự để thi hành bản án, hoặc mệnh
lệnh của các Tòa án hộ đều có thể thức thi hành, ấn định". "Vậy, Chủ tịch
Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa truyền cho các Thừa phát lại theo yêu
cầu của đương sự thi hành bản án này, các ông Chưởng lý, và Biện lý kiểm
sát việc thi hành án, Cai thị chỉ huy binh lực giúp đỡ mỗi khi đương sự chiếu
luật yêu cầu".
Về trình tự thi hành án, Thông tư số 24-BK ngày 26/4/1949 của Bộ
trưởng Bộ Tư pháp về việc thi hành án Hình và Hộ đã qui định cụ thể những
nguyên tắc chấp hành, thể thức chấp hành, cách thức thi hành các bản án,
quyết định của Tòa án. Thông tư đã xác định trách nhiệm thi hành án của
Thừa phát lại, Ban tư pháp xã và nhấn mạnh vai trò của ủy ban nhân dân cấp
xã và các cơ quan liên quan trong việc hỗ trợ thi hành án.
* Thời kỳ 1950 - 1980

án nhân dân đôn đốc, kiểm tra công tác thi hành án tại các Tòa án nhân dân
cấp dưới. Chấp hành viên thực hiện nhiệm vụ dưới sự chỉ đạo của Chánh án
Tòa án nhân dân nơi mình công tác. Trong quá trình thực thi nhiệm vụ, Chấp
hành viên có quyền định cho đương sự một thời hạn để thi hành án, áp dụng
biện pháp cưỡng chế mà pháp luật cho phép sau khi có sự thỏa thuận của
Chánh án nơi Chấp hành viên công tác, yêu cầu lực lượng bảo vệ trật tự trị an
giúp sức khi cần thiết, đề nghị Tòa án cấp có thẩm quyền hoãn, tạm đình chỉ
thi hành án. Đồng thời, Chấp hành viên có trách nhiệm thi hành đầy đủ và
nhanh chóng bản án, quyết định của Tòa án (Điều 4, Điều 5 Quyết định số /86/
TC ngày 13/10/1972).
Ngoài ra, pháp luật còn quy định trách nhiệm của ủy ban hành chính
xã, phường cùng các cơ quan có liên quan trong việc tổ chức hỗ trợ thi hành
án.Viện kiểm sát nhân dân các cấp kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
việc chấp hành bản án, quyết định của Tòa án nhân dân (Điều7 Luật tổ chức
Viện kiểm sát nhân dân).
* Thời kỳ 1981 - 1989

16


Hiến pháp 1980 ra đời đã tạo tiền đề cho sự ra đời các văn bản pháp
luật khác. Trong đó có các Đạo luật về tổ chức của bộ máy nhà nước, nhằm
kiện toàn bộ máy nhà nước, phân tích rõ chức năng của từng loại cơ quan,
tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước bằng pháp luật. Theo qui định tại Điều 16
Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1981 thì việc quản lý Tòa án nhân dân địa
phương về mặt tổ chức được giao cho Bộ Tư pháp. Nghị định số 143 /HĐBT
ngày 22/11/1981 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã qui định: Bộ
Tư pháp có chức năng quản lý Tòa án nhân dân địa phương về mặt tổ chức,
trong đó bao gồm cả việc quản lý công tác thi hành án dân sự.
Sau khi thực hiện việc chuyển giao công tác thi hành án dân sự, ngày

thể và công dân như đối với những bản án, quyết định phạt tiền, tịch thu tài
sản và án phí, bồi thường thiệt hại tài sản xã hội chủ nghĩa…
Để hướng dẫn và cụ thể hóa Pháp lệnh 1981, hàng loạt những văn bản
pháp luật đã được ban hành như: Thông tư liên ngành số 06-89/ TTLN ngày
17/7/1989 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ
Tư pháp; Thông tư liên ngành số 07-89/TTLN ngày 10/12/1989 của Tòa án
nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ... Cùng với sự
hoàn thiện hơn về pháp luật, đội ngũ cán bộ làm công tác thi hành án cũng được
củng cố và tăng cường, được chuyên môn hóa, có chức danh, tiêu chuẩn riêng
và chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc thực hiện các phán quyết của Tòa
án.
Tuy vậy, sự điều hành chỉ đạo công tác thi hành án vẫn chưa được
thay đổi phù hợp. Cơ quan thi hành án, Chấp hành viên thuộc Tòa án, do Tòa
án trực tiếp chỉ đạo về nghiệp vụ và chịu trách nhiệm báo cáo trước cấp trên
về kết quả hoạt động thi hành án. Mọi quyết định quan trọng trong thủ tục thi
hành án đều thuộc thẩm quyền của Chánh án, Chấp hành viên với trách nhiệm
là "người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định của
Tòa án" thực ra chỉ là những người thừa hành sự chỉ đạo của Chánh án, không
có quyền năng thực sự để đảm bảo thực thi nhiệm vụ của mình. Mặt khác,
Chánh án với tư cách là người chịu trách nhiệm về tổ chức và hoạt động xét

18


xử lại là người chỉ đạo việc thi hành những phán quyết của Tòa án nên không
khách quan và quá tải về công việc. Đội ngũ cán bộ thi hành án luôn bị xáo
trộn, không được qui hoạch, đào tạo bồi dưỡng thường xuyên. Cơ sở vật chất,
phương tiện phục vụ hoạt động thi hành án hầu như không được trang bị làm
ảnh hưởng đến công tác thi hành án.
1.3.3. Giai đoạn từ 1993 đến nay

pháp và cải cách hành chính hiện nay.
1.4. THI HÀNH ÁN DÂN SỰ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

1.4.1. Về tổ chức thi hành án dân sự
Tùy theo đặc điểm về truyền thống pháp lý, điều kiện kinh tế - xã hội
ở từng quốc gia mà tổ chức thi hành án dân sự được pháp luật qui định là một
tổ chức công, bán công hoặc là do tư nhân đảm nhiệm [21].
* Thi hành án công
Ở mô hình này tổ chức thi hành án bao gồm hệ thống các cơ quan
thuộc bộ máy nhà nước, các Chấp hành viên và công chức, viên chức hưởng
lương từ Ngân sách Nhà nước. Mô hình tổ chức thi hành án công có thể phân
làm hai loại: Cơ quan thi hành án nằm trong cơ cấu tổ chức của Tòa án và các
cơ quan hành chính tư pháp hoặc cơ quan thuế.
- Cơ quan thi hành án nằm trong Tòa án
Tổ chức thi hành án ở các nước này là một bộ phận nằm trong cơ cấu
tổ chức của Tòa án, Chấp hành viên là công chức đặt tại Tòa án do Chánh án
hoặc Bộ trưởng Bộ tư pháp bổ nhiệm. Toàn bộ hoạt động thi hành án đặt dưới
sự giám sát chỉ đạo của Chánh án Tòa án địa phương hoặc thẩm phán thi hành
án. Mặc dù vậy, hoạt động thi hành án được tiến hành theo một thứ tự chặt
chẽ cho Chấp hành viên tiến hành theo quy định của pháp luật.
Điển hình là Trung Quốc. Tòa án đảm nhiệm việc thi hành án dân sự,
bản án, quyết định dân sự và phần tài sản trong bản án, quyết định hình sự đã
có hiệu lực pháp luật do Tòa án nhân dân sơ thẩm thi hành. Những bản án,
quyết định mà pháp luật qui định do Tòa án nhân dân thi hành sẽ do Tòa án
nhân dân nơi người phải thi hành án cư trú hoặc nơi có tài sản của người phải

20


thi hành án tiến hành. Công tác thi hành án do Thi hành viên đảm nhiệm. Căn

chức thi hành án công, tổ chức thi hành án bán công cũng có thể nằm trong cơ
cấu tổ chức của Tòa án, hoặc các cơ quan hành chính.
Ví dụ ở Đức: Việc thi hành án dân sự do Tòa án khu vực đảm nhiệm.
Ở Tòa án này có thẩm phán, nhân viên Tòa án, Chấp hành viên và nhân viên
thi hành án. Chấp hành viên chịu sự giám sát trực tiếp của Chánh án Tòa án
cấp khu vực. Tuy là công chức nhưng Chấp hành viên thực hiện công việc của
mình một cách độc lập, có con dấu riêng, được hưởng một khoản lương cố
định. Chấp hành viên không làm việc tại cơ quan Tòa án mà mở văn phòng
riêng và được quyền tuyển nhân viên giúp việc. Chấp hành viên được hưởng
lương, được hưởng 15% lệ phí thi hành án các khoản tiền thanh toán chi phí
khác như: đi lại, sao chụp tài liệu.
* Tổ chức thi hành án tư nhân
Là mô hình tổ chức chủ yếu theo quy chế Thừa phát lại. Thừa phát lại
do Nhà nước bổ nhiệm, là người hành nghề theo quy chế tự do, Nhà nước không
trả lương mà hưởng thù lao theo luật định. Thừa phát lại vừa thực hiện chức
năng công quyền (lập văn bản, thu hồi nợ, làm đại diện) và chức năng trợ giúp
khác cho người được thi hành án.Thừa phát lại - tổ chức nghề nghiệp, không
phải là cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, việc thi hành án có sự giám sát của Tòa án,
trực tiếp là thẩm phán thi hành án. Trong quá trình thi hành án, nếu có các vấn
đề tranh chấp phát sinh, thì thẩm phán thi hành án giải quyết. Thừa phát lại
không phải là công chức nhà nước mà là người được Nhà nước bổ nhiệm để
thực hiện sứ mệnh công, nhưng theo qui chế của người hành nghề tự do,
không ăn lương Nhà nước mà tự hạch toán. Điển hình cho mô hình này là
Cộng hòa Pháp.
1.4.2. Thủ tục thi hành án dân sự một số nước trên thế giới
Theo nghiên cứu của Thạc sĩ Nguyễn Thanh Thủy, thì thủ tục thi hành
án dân sự của một số nước trên thế giới được thể hiện qua những vấn đề sau:

22


23


nhập, tài sản của cá nhân, tổ chức nói chung và người thi hành án nói riêng rất
chặt chẽ, thể hiện ở hệ thống các cơ quan đăng ký tài sản. Mọi người đều có
quyền yêu cầu cơ quan này cung cấp các thông tin về tài sản, nhất là các
thông tin về bất động sản của một cá nhân hay một tổ chức nào đó phải nộp
một khoản lệ phí cho họ (Mỹ, Pháp, Nhật). Ngoài ra, giữa cơ quan thi hành án
và cơ quan đăng ký tài sản có thể trao đổi thông tin qua mạng máy tính khi
cần xác định điều kiện tài sản của người phải thi hành án.
* Về thời hiệu thi hành án
Ở các nước khác nhau, thời hiệu thi hành án được quy định cũng khác
nhau. Nhưng so sánh với Việt Nam, thì các nước qui định thời hiệu thi hành
án dài hơn. Ví dụ ở Cộng hòa Liên bang Đức, thời hiệu thi hành án là 30 năm
kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật; ở Thụy Điển thời hiệu thi
hành án là 10 năm. Hết 10 năm người phải thi hành án có đơn yêu cầu chấm
dứt việc thi hành án, nhưng sau 11 năm có đơn yêu cầu của người được thi
hành án thì Tòa án vẫn phải thi hành án.
* Các biện pháp chế tài đối với người cố tình không thi hành án
Pháp luật nhiều nước qui định các biện pháp chế tài có tính cưỡng bức
đối với người phải thi hành án, nếu họ cố tình không chấp hành các yêu cầu
của chấp hành viên, cố tình không thi hành án.
Ví dụ như ở Cộng hòa Liên bang Đức: chấp hành viên có quyền yêu
cầu cảnh sát áp giải đương sự theo giấy triệu tập đến cơ quan thi hành án nếu
đương sự cố tình trốn tránh, tuy được báo gọi nhiều lần mà không đến. Chấp
hành viên có quyền khám nhà và những nơi cất giữ tài sản của con nợ, có
quyền cho mở khóa nhà, khóa phòng hoặc ngăn có chứa đồ đạc bị khóa, nếu
thấy việc đó cần thiết cho việc thi hành án. Nếu con nợ chống đối hoặc phản
kháng lại, Chấp hành viên có quyền dùng vũ lực và yêu cầu cảnh sát hỗ trợ.
Trường hợp đương sự không có tài sản gì để thi hành án thì chủ nợ được

quan công chứng xác nhận.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status