1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đu đủ (Carica papaya L.), thuộc họ đu đủ (Caricaceae), bộ hoa tím
(Violales), liên bộ hoa tím (Violananae), phân lớp sổ (Dilleniidae), lớp mộc
lan (Magnoliopsida), thuộc ngành mộc lan (Magnoliophyta). Đu đủ là cây ăn
quả thuộc nhóm thực vật trung sinh (Mesophyta) thân thảo, có nguồn gốc từ
vùng nhiệt đới châu Mĩ, song nguồn gốc xuất hiện các giống trồng hiện nay
vẫn chưa được xác định rõ ràng. [32], [34]
Trên thế giới, nhiều nước trồng đu đủ có thể kể đến như: Ấn Độ,
Nigeria, Inđônêxia, Trung Quốc, Thái Lan, Philipine, Mianma, Malayxia,
Tazania, Uganđa, Braxin, Mĩ, Úc, ...
Theo tổ chức lương thực thế giới (FAO) sản lượng đu đủ trên thế giới
khoảng 5 triệu tấn vào năm 1997, sản lượng tăng dần và đạt khoảng trên 6,5
triệu tấn năm 2004 (FAO,2004) cho đến năm 2008 đạt khoảng 10 triệu tấn
(FAO,2008). Trong đó sản lượng tập trung đáng kể ở Ấn Độ (hơn 3.6 triệu
tấn), Braxin (hơn 1.9 triệu tấn), Nigeria (765 nghìn tấn).
Ở Việt Nam đu đủ được trồng rộng rãi khắp các tỉnh thành trong cả
nước. Theo thống kê sơ bộ hiện diện tích trồng đu đủ nước ta khoảng 25
nghìn ha với tổng sản lượng khoảng 100 nghìn tấn/năm [65], trong đó khoảng
50% diện tích đu đủ ở Việt Nam được trồng tại vườn nhà (số lượng cây ít từ 5
-10 cây), còn lại đu đủ được trồng tập trung. Xu hướng của thị trường thế giới
về quả tươi và sản phẩm chế biến từ quả đu đủ ngày càng tăng. Nhập khẩu
quả đu đủ tươi toàn cầu đạt khoảng 118 nghìn tấn vào năm 2005 (đặc biệt là
Mĩ chiếm khoảng 40 nghìn tấn), [3], [34]. Đu đủ là cây ăn quả có vòng đời
ngắn, ra hoa kết quả quanh năm, sau khi trồng 3 - 4 tháng cây bắt đầu ra hoa,
cho thu quả đầu tiên chỉ sau khi trồng 7 - 9 tháng và có thể cho quả liên tục
trong 1 - 3 năm, là cây có thể trồng xen với một số cây thân gỗ khác, là cây ăn
3
tích khá lớn, nên đu đủ là cây có sức chịu hạn hạn chế. Chính vì vậy việc so
sánh chọn ra các giống đu đủ có khả năng chịu hạn thích nghi với điều kiện
sinh thái trên các vùng đất cụ thể để đưa vào ứng dụng sản xuất là việc làm
hết sức cần thiết. Để giúp người sản xuất có căn cứ khoa học trong việc xác
định giống đu đủ chịu hạn, trong tuyển chọn giống phù hợp với điều kiện sinh
thái cụ thể, chúng tôi chọn đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh lý, sinh
hóa liên quan tới tính chịu hạn của cây đu đủ”.
2. Mục đích nghiên cứu
Xác định một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa liên quan tới khả năng chịu
hạn của 3 giống, đề xuất các ứng dụng kết quả nghiên cứu trên cây đu đủ.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lý: khả năng nảy mầm của hạt, khối
lượng tươi, khô của mầm trong dung dịch đường, tiến hành xác định chỉ tiêu
độ ẩm cây héo, khả năng giữ nước, huỳnh quang diệp lục của lá ở giai đoạn
cây non.
- Nghiên cứu chỉ tiêu sinh hoá là hàm lượng proline ở giai đoạn mầm và
cây non.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: gồm ba giống đu đủ
* Giống Hồng Phi (786): là giống lai F1, có xuất xứ từ Đài Loan, do
Công Ty Giống cây trồng Nông Hữu cung cấp.
* Giống Nông hữu số 1 (784): là giống lai F1, có xuất xứ từ Đài Loan,
do Công Ty Giống cây trồng Nông Hữu cung cấp.
* Giống lai F1 Sinta: xuất xứ từ Thái Lan, do Công ty TNHH Việt Nông
cung cấp.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
vết cuống lá đã rụng. Thân đu đủ có cấu tạo đặc biệt, phần trong là các mô
mềm, xốp, giòn là nơi dự trữ các chất dinh dưỡng (khi cây còn sung sức), khi
cây già yếu thân thường xốp rỗng. Trên thân có mô phân sinh bên có tác dụng
5
hình thành chồi (đa số chúng đều ở trạng thái ngủ), do vậy cây đu đủ ít hoặc
không phân nhánh.
Rễ đu đủ: nhỏ, giòn, dễ bị tổn thương do cơ giới, hạn, úng... Rễ đu đủ
thường ăn nông, tập trung ở tầng đất 0-30cm (có thể sâu 50-60cm nếu là đất
thoáng khí, tầng canh tác dày, tưới tiêu nước tốt). Rễ phân bố rộng tương
đương với độ rộng của tán lá trên mặt đất. Ngoài ra rễ còn rất mẫn cảm với
thành phần cơ giới của đất và nước trong đất.
Hoa: có màu vàng nhạt, nhóm thành chùm xim ở nách lá. Hoa đu đủ
được phân ra ba loại: hoa đực, hoa cái và hoa lưỡng tính, chúng thường khác
gốc. Xong có những kiểu tạp: cả ba loại hoa có thể ở cùng một cây, trong một
giống. Hay hoa đực cùng gốc (đực, lưỡng tính) hoặc cái cùng gốc (cái, lưỡng
tính). Thời gian từ khi hoa nở đến khi tàn kéo dài 3-5 ngày. Điều đặc biệt ở
cây đu đủ là sự phân hóa và phát triển của các nhóm hoa không chỉ phụ thuộc
vào đặc tính di truyền mà còn phụ thuộc vào tính trạng dinh dưỡng của cây,
ngoại cảnh, tuổi cây.
Trong thực tế trồng trọt, các nhà nông học thường căn cứ vào đặc điểm
hoa để chia ra ba kiểu hình cây khác nhau: cây đu đủ đực, cây đu đủ lưỡng
tính và cây đu đủ cái.
Cây đu đủ đực: cây chỉ mang hoa đực, với hoa từng chùm phân thành
nhiều nhánh. Hoa trên cây thường có cánh hoa đính liền nhau ở gốc cánh tạo
hoa hình ống. Nhị đực đính trên cánh hoa và rất phát triển, bầu hoa tiêu biến
không phát triển. Một số hoa ở đầu các nhánh có bầu hoa có thể phát triển
thành quả xong quả nhỏ, vị đắng, không có ý nghĩa về mặt năng suất, nhưng
Trong quá tŕnh sinh trưởng, phát triển của mình, tùy giai đoạn mà cây
đòi hỏi nhu cầu nước khác nhau. Nước vừa là sản phẩm khởi đầu, trung gian
và cuối cùng của các quá trình chuyển hóa, vừa là môi trường để các phản
ứng trao đổi chất xảy ra. Mức độ thiếu hụt nước càng lớn thì càng ảnh hưởng
7
đến quá trình sinh trưởng phát triển của cây: thiếu nước nhẹ làm giảm tốc độ
sinh trưởng, thiếu trầm trọng thì dẫn đến biễn đổi hệ keo nguyên sinh chất,
tăng quá trình già héo tế bào. Khi bị khô kiệt nước, nguyên sinh chất bị đứt vỡ
cơ học dẫn đến tế bào, mô bị tổn thương và chết [35]. Cây đặc biệt cần nhiều
nước ở giai đoạn nảy mầm của hạt, giai đoạn vươn cao (sau khi trồng khoảng
4-5 tháng), giai đoạn ra hoa và giai đoạn quả phát triển.
Cây đu đủ là cây ngắn ngày. Tùy giống và điều kiện canh tác mà chỉ sau
trồng 7-9 tháng đã cho thu hoạch. Quá trình sinh trưởng, phát triển của cây đu
đủ có thể chia thành các thời kỳ:
+ Thời kỳ nảy mầm của hạt: do hạt đu đủ có màng bao bọc, lớp vỏ dày,
hạt chứa dầu nên thời kỳ này thường kéo dài 10-12 ngày, khi hạt hút đủ nước,
hạt trương dần lên, các enzim bắt đầu phân giải chuyển hóa các hợp chất hữu
cơ tạo nguyên liệu cho quá trình sinh trưởng của rễ và mầm hạt nứt, rễ mầm
nhú ra, chui ra khỏi vỏ hạt cắm xuống đất, sau đó là mầm phát triển, phôi
mầm mọc thành cây đu đủ. Thời kỳ này đ̣òi hỏi nhu cầu về nước rất lớn, hạt
phải hút đủ nước thì mới có khả năng nảy mầm. Nếu bị hạn hán hay nhiệt độ
quá thấp hoặc quá cao làm hạt đu đủ nảy mầm gặp khó khăn, tỷ lệ nảy mầm
thấp.
+ Thời kỳ cây con: có thể chia làm nhiều giai đoạn nhỏ
Giai đoạn trong vườn ươm tính từ khi hạt nảy mầm đến khi cây được
khoảng 1,5 tháng tuổi (7-8 lá thật). Thường khi hạt nhú mầm, nứt nanh được
đưa vào túi bầu P.E có kích thước 12x7cm với đất trộn bầu đảm bảo tơi xốp
giống, đã tạo được một số giống tương đối chịu lạnh. Sản lượng đu đủ đạt khá
cao ở một số nước, thể hiện trong bảng.
9
Diện tích
Năng suất
Sản lượng
(ha)
(tấn/ha)
(tấn)
Ấn độ
98.000
37.0
3.629.000
Braxin
36.750
12.500
20.8
260.000
Côngô
13.500
16.6
223.770
Côlômbia
5.498
37.8
207.698
Guatemala
3.500
52.7
184.530
Vùng phân bố
Vùng núi và trung du phía Bắc (Sơn La, Lạng Sơn)
Đồng bằng sông Hồng (Hà Nội, Hưng Yên, Nam Hà,
Ninh Bình)
Ven biển miền Trung (Nghệ An, Thanh Hóa)
Đồng bằng sông Mê Kông (Ninh Thuận, Nha Trang,
Tây Ninh, Tiền Giang)
Diện tích (ha)
500
250
100
500-550
10
1.2. Ảnh hưởng của sự thiếu nước tới sinh trưởng, phát triển của thực vật
nói chung và cây đu đủ nói riêng
1.2.1. Tác hại của hạn đến thực vật
Hạn ở thực vật là khái niệm để chỉ sự thiếu nước của cây do môi trường
gây nên trong suốt quá trình hay từng thời kỳ làm ảnh hưởng đến sinh trưởng
phát triển. Hạn cũng có thể được hiểu là sự thiếu lượng nước do mưa hoặc
không tưới nước trong thời gian dài làm cạn kiệt độ ẩm trong đất hoặc đủ nước
nhưng do môi trường áp suất thẩm thấu cao cây không lấy được nước. Tùy
mức độ khô hạn mà có thể gây ra nhiều mức độ tổn thương khác nhau cho cây
trồng, như: phát triển không bình thường, chậm phát triển, chết. Những cây
trồng có khả năng duy trì sự phát triển và cho năng suất khá ổn định trong điều
kiện khô hạn gọi là cây chịu hạn và khả năng thực vật có thể giảm mức độ tổn
* Hạn sinh lý xuất hiện do trạng thái sinh lý của cây không cho phép cây
hút nước, mặc dù môi trường không thiếu nước, như khi đất kị khí thiếu oxi
cho rễ nên thiếu năng lượng cho cây hút nước hoặc do nồng độ các chất tan
trong dung dịch đất quá cao làm áp suất thẩm thấu của đất tăng. Khi đó rễ
không lấy được nước nhưng quá trình bay hơi nước ở lá vẫn diễn ra nên cây
mất cân bằng nước. Hạn sinh lí kéo dài gây ảnh hưởng rất nhiều đến năng suất
của cây, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng và năng suất của cây trồng.
1.2.2. Tính chịu hạn của thực vật nói chung và cây đu đủ nói riêng
- Tính chịu hạn của thực vật là sự thể hiện khả năng thích nghi hình thành
trong đời sống của cây giúp cây chống chịu với các điều kiện bất lợi của môi
trường. Theo nhận định của Nguyễn Huy Hoàng [14] sự thích nghi đó được
thực hiện nhờ sự điều chỉnh của các cấu trúc và các chức năng của cơ thể ở các
mức độ tổ chức khác nhau, như: sự tạo thành một hệ thống rễ rộng lớn, giảm
diện tích lá, đóng khí khổng, tạo thành những kho chứa nước, hình thành
những tuyến muối tập trung các chất hoà tan. Trong điều kiện đất bị khô, độ ẩm
12
thiếu, những giống chịu hạn tốt là những giống có hàm lượng nước liên kết
tăng, nồng độ dịch bào tăng, áp suất thẩm thấu cao, ngưỡng nhiệt độ đông tụ
của protêin cao hơn, duy trì khả năng tổng hợp ở mức độ cao. Chúng có khả
năng bảo tồn được quá trình trao đổi chất bình thường hoặc có tốc độ thiết lập
các phản ứng bảo vệ quá trình trao đổi chất lớn khi tác động của hạn vượt quá
giới hạn cho phép và ngược lại (là giống có khả năng chịu hạn kém, mẫn cảm
với điều kiện khô hạn).
Có hai cơ chế bảo vệ của thực vật chống lại sự mất nước, đó là cơ chế
tránh mất nước và cơ chế chịu mất nước. Tránh mất nước phụ thuộc vào sự
thích nghi đặc biệt về hình thái và cấu trúc của rễ nhằm giảm thiểu sự hút nước,
trong đó cây nào khi bị hạn có sự đâm sâu lan rộng của hệ thống rễ giúp hệ rễ
(cromatin) cần cho sự trao đổi chất bình thường của tế bào. Sau khi sốc đi qua,
ADN được giải phóng khỏi phức hệ ADN - chất nhiễm sắc và bắt đầu hoạt
động bình thường.
- Do có hệ rễ tập trung ở tầng đất mặt, diện tích lá lớn, khiến đu đu là cây
có sức chịu hạn hạn chế. Lượng mưa mà cây yêu cầu là 1300-1500mm trong
năm phân bố đều hoặc hàng tháng đạt 100mm. Đu đủ càng là cây ăn quả có
thể trồng được trên nhiều loại đất khác nhau, song cần đảm bảo đất thoáng,
tầng canh tác dày, đủ và cân đối chất dinh dưỡng, tiêu thoát nước tốt (đu đủ
chịu úng kém).
1.3. Một số yếu tố liên quan tới tính chịu hạn ở thực vật
1.3.1. Proline và vai trò của chúng đối với thực vật
Proline hay ỏ - pirolidin cacboxylic là một ỏ - iminoaxit ưa nước, có
công thức phân tử C5H9NO2, có mạch bên là hidrocacbua khác với các axit
amin khác ở chỗ nhóm amin bậc 1 ở C liên kết với cacbon của mạch bên tạo
thành vòng pirolidin.
Proline được tổng hợp từ L.glutamat bởi enzyme chìa khóa - pyrrolin carboxilat - synthetaza (P5CS), enzyme này được điều hòa bởi proline thông qua
14
cơ chế ức chế ngược. Thực vật chịu stress nước, sự điều hoà ngược này đã biến
mất và đây có thể là nguyên nhân làm tăng tích luỹ proline dưới các điều kiện
stress.
Công thức cấu tạo của proline
Proline thuộc nhóm các chất điều hoà thẩm thấu, chúng có khối lượng
phân tử nhỏ, các chất này có chung tính chất: không tích điện ở pH trung tính
(như các ion vô cơ) và có khả năng hoà tan tốt trong nước, không độc khi tập
trung với nồng độ cao và làm ổn định cấu trúc các phân tử protein, giúp thành
tế bào chống lại ảnh hưởng làm biến tính của sự tập trung muối cao và các
thiếu hụt nitơ, bor; ở củ cải đỏ dưới ảnh hưởng của sự thiếu hụt nitơ, photpho
và lưu huỳnh. Sự tăng lượng proline cũng được nhận thấy khi có sự kìm hãm
sinh trưởng của rễ thực vật bởi nồng độ cao của hoocmôn thực vật (như auxin).
Sự sinh trưởng của thực vật bị kìm hãm bởi sự khụ hạn có thể trở lại bình
thường dưới ảnh hưởng của axit gibberelic và nhận thấy đồng thời có sự giảm
của hàm lượng proline tự do trong các tổ chức thực vật. Sự tập trung proline
theo thời gian cũng xuất hiện ở những tổ chức thực vật được nuôi cấy nhân tạo
và ở những thực vật bị bệnh truyền nhiễm bởi những vi sinh vật gây bệnh.
Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy sự tích lũy proline có thể tăng từ 10 100 lần ở thực vật dưới tác động của áp suất thẩm thấu [28].
Có rất nhiều công trình đã phát hiện có mối quan hệ giữa sự tập trung
proline với sự có mặt của axit abscisic: axit abscisic đã kích thích sự sinh tổng
hợp axit ribonucleic, kích thích sinh tổng hợp protein trong tế bào. Điều đó đã
16
dẫn đến sự biến đổi hàm lượng của các amino axit tự do ở trong các tổ chức
thực vật, đặc biệt là hàm lượng proline tự do [18], [72].
Trong dòng tế bào thuốc lá được nuôi cấy thích nghi với nồng độ 428nM
NaCl, proline chiếm trên 80% axit amin tự do [71]. Người ta cũng thừa nhận
rằng có sự phân bố đồng đều proline trong toàn bộ thể tích nước của nội bào,
kết quả xác định axit amin tại thời điểm này vượt quá 129nM. Tuy nhiên, nếu
chỉ hạn chế trong nội bào thì sự tích luỹ proline có thể vượt quá nồng độ
200nM trong các tế bào này, vì thế giúp phần căn bản vào việc điều chỉnh thẩm
thấu nội bào. Tương tự như vậy, sự tích luỹ proline nội bào ở các tế bào
Distichlis spicata trong điều kiện stress muối (xử lý ở nồng độ 200nM NaCl)
ước tính trên 230 nM [48].
Cũng trên đối tượng cây thuốc lá, tác giả Kishor P.B.K và cộng sự [62]
nghiên cứu cây thuốc lá được chuyển gen (gen liên quan đến sinh tổng hợp
proline - P5CS) trong điều kiện stress nước. Kết quả cho thấy hàm lượng
trạng thái có năng lượng cao hơn gọi là trạng thái kích thích, trạng thái không
bền và sự quay trở lại trạng thái cơ bản diễn ra rất nhanh bằng các cách giải
phóng năng lượng hấp thụ theo những con đường sau:
- Một là nó có thể chuyển năng lượng tới một phân tử nhận năng lượng
khác và cuối cùng khởi động các phản ứng quang hoá, gây ra sự truyền điện tử
quang hợp.
- Hai là năng lượng được giải phóng ra dưới dạng nhiệt.
- Ba là năng lượng được giải phóng ra dưới dạng sóng điện từ. Có nghĩa là
có thể phát lại dưới dạng một photon có năng lượng nhỏ hơn (tức là có bước
sóng dài hơn). Hiện tượng này được gọi là huỳnh quang diệp lục.
Các quá trình truyền năng lượng nêu trên cạnh tranh nhau, những thay đổi
của hiệu suất quang hợp hoặc của sự hao phí dưới dạng nhiệt sẽ gây ra thay đổi
bổ sung của bức xạ huỳnh quang (trong cùng điều kiện sự hao phí dưới dạng
18
nhiệt là không đổi, chủ yếu là sự cạnh tranh giữa phản ứng quang hoá và huỳnh
quang diệp lục).
Ta có thể mô tả quá trình trên bằng sơ đồ:
K K K
f
d
ph
P *
P
P và P* là trạng thái cơ bản và trạng thái kích thích của phân tử diệp lục.
Kf, Kd, Kph là các hằng số tốc độ làm mất đi trạng thái kích thích bằng bức
QFm
kf
k f kd k ph
19
Hiệu số giữa cường độ huỳnh quang khi tâm phản ứng “đóng” và “mở”
(Fvm = Fm – F0) được gọi là huỳnh quang biến đổi của diệp lục. Nó tương ứng
với phần năng lượng ánh sáng được các tâm phản ứng “mở” sử dụng trong
phản ứng quang hoá. Một cách dễ dàng có thể chỉ ra rằng tỉ lệ giữa huỳnh
quang biến đổi và huỳnh quang cực đại bằng hiệu suất lượng tử của phản ứng
quang hoá đầu tiên phân chia các điện tích ở các tâm phản ứng quang hợp:
QFm QF0
QFm
k ph
k f kd k ph
QZ
Như vậy, đo cường độ huỳnh quang ổn định (F0) và cường độ huỳnh
quang cực đại (Fm) trong một thời gian tương đối cho phép nhận được giá trị
tuyệt đối về hiệu quả sử dụng năng lượng ánh sáng trong các phản ứng quang
hoá:
đến cường độ huỳnh quang ổn định tăng đồng nghĩa với khả năng chịu hạn
kém khi so sánh các giống các dòng với nhau, kết quả nhận được cũng tương
tự như kết quả nghiên cứu tính chống chịu mặn ở các loại tảo, dưa chuột chịu
lạnh. Theo Đặng Diễm Hồng và cộng sự khẳng định: Fm giảm ở nhiệt độ cao
trên 450C có liên quan đến sự phá hủy bằng nhiệt độ của một số protein của
PSII [13].
Ở Việt Nam, trong khoảng 10 năm trở lại đây bắt đầu xuất hiện một số
công trình nghiên cứu về huỳnh quang diệp lục trong điều kiện môi trường
bất lợi ở một số loài như: tảo [13], cà chua [15], lạc [24], lúa [4], [28], [29],
nhãn [30], đậu côve [38], đậu xanh [12], đậu tương [10], [23],...
1.3.3. Độ ẩm cây héo
Độ ẩm cây héo là giới hạn độ ẩm khi một loại cây bắt đầu héo ở một loại
đất nào đó. Độ ẩm này phụ thuộc vào thành phần cơ giới đất, điều kiện tự nhiên
và loại cây. Trong cùng một loại cây, các giống khác nhau cũng có độ ẩm cây
héo khác nhau. Độ ẩm cây héo có thể tính được lượng nước hữu hiệu trong một
giai đoạn nhất định, đánh giá khả năng chịu hạn của cây trên một loại đất nhất
định. Độ ẩm cây héo là một chỉ tiêu quan trọng được ngành nông nghiệp sử
dụng để khảo sát và đánh giá giống chịu hạn. Để xác định độ ẩm cây héo, cần
tiến hành gây hạn đến khi lá cây héo không còn khả năng phục hồi, dùng ống
21
có đầu vát nhọn cắm vuông góc với mặt đất để lấy đất đem về phòng thí
nghiệm cân lên được giá trị M1, sau đó đem sấy khô tuyệt đối đến khối lượng
không đổi M2 và xác định được độ ẩm cây héo. Giống nào có lượng nước còn
lại trong đất ít hơn thì khả năng chịu hạn cao hơn.
Thời kỳ cây đu đủ mẫn cảm mạnh với độ ẩm là thời kỳ cây non (trước ra
hoa), thời kỳ ra hoa, hình thành quả - quả phát triển. Nghiên cứu các chỉ tiêu
sinh lý, sinh hóa vào những thời kỳ này là phù hợp.
Masri, Razak A.S và Ghazalli Mz (1990) nghiên cứu về khả năng thích
ứng của cây đu đủ với độ ẩm đất [67]. Nghiên cứu về sự vận chuyển nước
trong cây và khả năng thẩm thấu của rễ cây đu đủ khi bị hạn [74]. Nghiên cứu
về phản ứng của cây đu đủ với sự thoát hơi nước và quá trình mất nước của
đất ảnh hưởng tới sản phẩm đu đủ [56].
Ở Việt Nam, cây đu đủ được xem là cây ăn quả có giá trị, có triển vọng
xuất khẩu [3]. Nhiều tác giả đã tập trung tìm hiểu, nghiên cứu về kỹ thuật
trồng cây đu đủ [1], [21], [34], [35]. Nghiên cứu về đối tượng gây bệnh và
hậu quả trên cây đu đủ: bệnh đốm hình nhầu và tác nhân gây bệnh [5], bệnh
do virut đốm vòng [6], [9], tìm hiểu và nghiên cứu ứng dụng sản phẩm của
cây đu đủ trong y học và đời sông [8], [17], [22]. Nghiên cứu về nuôi cấy vô
tính, nuôi cấy mô [26], [37]. Tuy nhiên nghiên cứu về khả năng chịu hạn của
cây đu đủ nói chung và cây đu đủ phù hợp với vùng sinh thái cụ thể thông qua
việc xác định các chỉ tiêu sinh lí, sinh hóa vẫn đang là vấn đề mở đòi hỏi các
nhà phân tích tập trung nghiên cứu.
23
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng
* Giống Hồng Phi (786): là giống có khả năng sinh trưởng mạnh, năng
suất cao, sớm cho quả, sau trồng khoảng 8-9 tháng cây bắt đầu cho quả, vị trí
quả thấp (60-80cm), cây cho trên 30 quả trong mỗi mùa, Trên cây cái, quả
thuôn ngắn, trên cây lưỡng tính quả khá dài. Trọng lượng quả đạt 1.5-2kg,
mùi thơm, vị ngọt (độ đường gần bằng 13%), thịt quả màu đỏ, thuận lợi cho
việc vận chuyển đi xa, sản lượng quả đạt 73.6 tấn/ha/năm.
* Giống Nông hữu số 1 (784): là giống được nhập vào nước ta trong thời
gian gần đây, giống có xuất xứ từ Đài Loan, sinh trưởng khỏe, có khả năng
định là đã nảy mầm dài tối thiểu 1.5cm.
- Khay đối chứng hạt được gieo trong nước cất, các khay thí nghiệm hạt
được gieo trong các dung dịch đường lần lượt từ 0.3%, 0.4%, 0.5%, 0.6%,
0.7%, 0.8%, 0.9%, 1.0%.
- Đưa các khay đă gieo hạt vào buồng khí hậu giữ ở nhiệt độ 320C, bổ
sung nước cất vào lô đối chứng, dung dịch đường tương ứng vào các lô thí
nghiệm.
Thí nghiệm 2: Trồng cây tại nhà lưới Trường ĐHSP Hà Nội II
Hạt đu đủ được ngâm, ủ trong buồng khí hậu đảm bảo nhiệt độ khoảng
32 0C, trong 4 - 5 ngày, khi hạt nứt nanh đem gieo vào các chậu thí nghiệm có
kích thước (cao x rộng) = (70 x 45 cm). Mỗi chậu gieo 3 hạt, hạt nảy mầm (10
- 12 ngày) và khi cây nhô cao (45 ngày sau gieo) chỉ để lại 1 cây.
Chọn đất đưa vào chậu là đất tơi xốp, thoáng khí, có được bổ sung lân
với lượng 200g trên 1 chậu. Chậu được đặt trong nhà lưới (có mái che bằng
nilon)
25
Chậu được chia làm hai lô: lô thí nghiệm và lô đối chứng, mỗi lô nhắc lại
3 lần. Lô thí nghiệm được gây hạn nhân tạo bằng cách không tưới nước và
cách li với nước mưa cho đến khi lá dưới cùng của cây có biểu hiện héo (tiến
hành giai đoạn cây con, 3 tháng tuổi). Lô đối chứng được tưới nước bình
thường, các điều kiện khác là tương đương, sau khi gieo hạt 45 ngày tưới bổ
sung 4g Ure kết hợp 5g DAP/cây, sau đó 30 ngày bón lượng 10g Urê và 30g
DAP cho 1 cây (xới nhẹ, bón nông cách gốc khoảng 20cm).
2.2.2. Phương pháp phân tích các chỉ tiêu
* Xác định khả năng nảy mầm của hạt trong dung dịch đường theo
Volcova [39].
Khi tiến hành thí nghiệm gieo hạt( thí nghiệm 1) trong phòng thí nghiệm,