LUẬN VĂN THẠC SĨ - BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LAO ĐỘNG VÀ VIỆC LÀM Ở NÔNG THÔN Ở TỈNH BÌNH PHƯỚC HIỆN NAY - Pdf 39

1. Tính cấp thiết của đề tài
Bình đẳng giới một cách toàn diện, triệt để là lý tưởng mà nhân loại đã
theo đuổi hàng nhiều thế kỷ. Đầu thế kỷ XIX, nhà tư tưởng xã hội chủ nghĩa
không tưởng Pháp S.Phuriê đã nhận định: trình độ giải phóng phụ nữ là
thước đo trình độ phát triển của xã hội.Luận điểm này tiếp tục được khẳng
định trong học thuyết Mác – Lênin ngay từ khi nó ra đời và được phát triển
ở trình độ mới cao hơn ở các giai đoạn tiếp theo. Những quan điểm trên đã
cổ vũ cho nhiều phong trào đấu tranh đòi quyền bình đẳng nam nữ, trở thành
một trong những mục tiêu phấn đấu của nhiều quốc gia, dân tộc trên thế giới
trước đây và cho tới hiện nay. Chính vì vậy từ giữa những năm 1980 đến
nay, bình đẳng giới là vấn đề thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học cũng
như quản lý trên thế giới và lĩnh vực này đã đạt được nhiều thành quả đáng
khích lệ. Trên bình diện xã hội, phụ nữ ngày càng được thu hút vào các hoạt
động của xã hội, trong phạm vi gia đình, người phụ nữ cũng đã nhận được
sự chia sẻ trách nhiệm của nam giới. Tuy nhiên, sự phân biệt đối xử, tư
tưởng trọng nam kinh nữ, áp lực công việc gia đình, những định kiến có tính
chất bất công đối với phụ nữ vẫn đang tồn tại ở những mức độ khác nhau
trong nhiều quốc gia, khu vực. Đặc biệt đối với các nước đang phát triển thì
khoảng cách bất bình đẳng giới đang còn khá lớn, hạn chế khả năng đóng
góp của mỗi giới vào sự phát triển nói chung làm ảnh hưởng tới sự phát triển
bền vững.
Ở Việt Nam, tư tưởng về bình đẳng giới đã có ngay từ khi Đảng Cộng
sản Việt Nam ra đời và được thể hiện trong văn kiện đầu tiên của Đảng.
Trong Chính cương vắn tắt của Đảng, Hồ Chí Minh đã long trọng tuyên bố
thực hiện nguyên tắc “nam nữ bình quyền”. Hiến pháp đầu tiên của nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa đã khẳng định: phụ nữ và nam giới được bình
đẳng với nhau trên mọi phương diện. Hơn 80 năm qua, tư tưởng bình đẳng
giới tiếp tục được Đảng,Nhà nước tích cực chỉ đạo triển khai thực hiện một
cách triệt để. Nhờ vậy, vị trí, vai trò củangười phụ nữ Việt nam đã có những
thay đổi cơ bản theo hướng ngày càng bình đẳng hơn với nam giới. Theo
báo cáo của Liên hiệp quốc, năm 2008, chỉ số phát triển con người (HDI) ở

đang phải đối đầu với những thách thức mới, đó là lực lượng lao động nữ
nông thôn của tỉnh tăng lên không ngừng và luôn nhiều hơn lao động nam,
trong khi việc làm dành cho lao động nữ ở nông thôn của tỉnh lại hạn chế,
khả năng cạnh tranh của họ trên thị trường lao động yếu hơn nam giới. Thực
tế cho thấy, vấn đề bình đẳng giới nói chung, bình đẳng giới trong lao động
và việc làm ở nông thôn tỉnh Bình Phước hiện nay vẫn còn là vấn đề cần
quan tâm giải quyết.
Từ những lý do nêu trên, với cương vị là một cán bộ công tác tại Hội
Liên hiệp phụ nữ tỉnh Bình Phước, học viên mạnh dạn lựa chọn đề tài Bình
đẳng giới trong lao động và việc làm ở nông thôn tỉnh Bình Phước hiện
nay làm luận văn tốt nghiệp hệ cao học,nhằm góp phần đề xuất một số giải
pháp tăng cường bình đẳng giới trong lao động và việc làm cho khu vực
nông thôn tỉnh Bình Phước hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Thúc đẩy bình đẳng giới là một trong những vấn đề có tính toàn cầu, là
mối quan tâm lớn của nhân loại nói chung và của mỗi quốc gia nói riêng.
Trong giai đoạn hiện nay, thúc đẩy bình đẳng giới là vấn đề hết sức quan
trọng góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững. Thực tiễn cho thấy, vấn đề
giải phóng phụ nữ từ lâu đã được các nhà tư tưởng và các nhà kinh điển của
chủ nghĩa Mác - Lênin quan tâm nghiên cứu và được đề cập rất sớm. Ở Việt
Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản và Nhà nước ta ngay từ những


ngày đầu của cách mạng đã quan tâm đến vấn đề này, coi việc giải phóng
phụ nữ, nâng cao vai trò, vị trí của phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội,
thực hiện bình đẳng nam nữ là một nội dung của cách mạng xã hội chủ
nghĩa.
Cùng với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế và tâm huyết của các nhà khoa
học, một số vấn đề lý luận và thực tiễn về vấn đề giới, bình đẳng giới đã
được đặt ra để xem xét và đề ra những biện pháp giải quyết. Những năm gần

thôn đối với sự phát triển nông nghiệp, nông thôn, qua đó kiến nghị một số
giải pháp chủ yếu về phát triển chuyên môn - kỹ thuật và nâng cao sức khỏe
cho phụ nữ nông thôn.


- TS Trần Thị Thu (2003) Tạo việc làm cho lao động nữ trong thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa (phân tích tình hình tại Hà Nội), Nxb Lao
động xã hội, Hà Nội. Cuốnsách đã chỉ ra, trong thời kỳ đổi mới đất nước đã
và đang tạo cơ hội tìm kiếm việc làm cho lao động nữ trong các khu vực
kinh tế với nhiều ngành nghề đa dạng và phong phú, nhưng cũng đặt ra
những khó khăn tìm kiếm việc làm, mà người chịu thiệt thòi là lao động nữ.
- Vũ Tuấn Huy (2004) “Xu hướng gia đình ngày nay” (một vài đặc điểm từ
nghiêncứu thực nghiệm tại tỉnh Hải Dương). Công trình nghiên cứu này đã
phân tích về sự biếnđổi gia đình ngày nay, cuốn sách cũng nhấn mạnh “Sự
biến đổi cơ cấu kinh tế - xã hội,các yếu tố thị trường, thay đổi công nghệ, di
cư, sự biến đổi của định hướng giá trị đã tác động đến sự hình thành hôn
nhân, quan hệ giữa các thế hệ, phân công lao động trong giađình, số con và
khoảng cách sinh con…”.
- PGS,TS Phan Thanh Khôi, PGS,TS Đỗ Thị Thạch (chủ biên) (2007)
“Những vấn đề giới: từ lịch sử đến hiện đại”, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội.
Công trình nghiên cứunày đã đi sâu phân tích về vấn đề giới trong tư tưởng
của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và Hồ Chí Minh, làm rõ địa vị của người
phụ nữ trong gia đình và xã hội ở các xã hội cótình trạng đối kháng giai cấp,
áp bức, bất công. Các tác giả còn đi sâu phân tích quanđiểm giới, bình đẳng
giới trong đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước…
- Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2007), Luật Bình đẳng giới,
Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội. Đề cập đến bình đẳng giới trong các lĩnh
vực của đời sống xãhội và gia đình như bình đẳng giới trong lĩnh vực: chính
trị; kinh tế; lao động; giáo dụcvà đào tạo; khoa học và công nghệ; văn hóa,
thông tin, thể dục, thể thao; y tế; gia đình.

việc làm ở nông thôn tỉnh Bình Phước hiện nay, luận văn nêu những định
hướng và đề xuất mộtsố giải pháp nhằm thúc đẩy bình đẳng giới ở lĩnh vực
này trong thời gian tới.
Nhiệm vụ
- Phân tích cơ sở lý luận của vấn đề bình đẳng giới trong lao động và việc
làm.
- Làm rõ thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với việc thực hiện bình
đẳng giới
trong lao động và việc làm ở nông thôn tỉnh Bình Phước hiện nay.
- Nêu lên những định hướng cơ bản và đề xuất một số giải pháp chủ yếu
góp phần thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động và việc làm ở
Bình Phước trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng: Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng bình đẳng giới trong
lao động và việc làm, các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia lao động của
phụ nữ và nam giớiở nông thôn tỉnh Bình Phước hiện nay.
Phạm vi: Đề tài tập trung nghiên cứu về tình hình thực hiện bình đẳng giới
trong lao động và việc làm ở nông thôn tỉnh Bình Phước từ khi tách tỉnh
(1997) đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về vấn đề
bình đẳng giới và mối quan hệ giữa bình đẳng giới với lao động và việc làm
nói riêng và sự phát triển của xã hội nói chung.
- Luận văn được thực hiện trên cơ sở sử dụng tổng hợp các phương pháp
kết hợp logic - lịch sử, phân tích - tổng hợp, điều tra xã hội học - so sánh.


6. Những đóng góp về khoa học của luận văn
- Trên cơ sở khái quát về giới, bình đẳng giới, lao động, việc làm và vai

[36, tr.2], là một thuật ngữ chỉ sự khácbiệt giữa nam giới và nữ giới xét về
mặt sinh học, sự khác biệt căn bản về hình dáng bênngoài của cơ thể, sự
khác nhau về chức năng sinh học tạo nên vai trò của giới tính như:phụ nữ
mang thai, sinh con và cho con bú bằng sữa mẹ. Về mặt sinh học, nam và nữ
không giống nhau trên nhiều phương diện nhưng chủ yếu nhất là hình dáng,
giọng nói vàchức năng sinh sản.


Giới tính có đặc trưng cơ bản như: Tính bẩm sinh: Về phương diện sinh
lý (hoóc môn, nhiễm sắc thể, bộ phận sinh dục…) nam giới và nữ giới đã
khác nhau ngay từ trongbào thai, được quy định bởi tự nhiên, không theo và
không phụ thuộc vào mong muốn của con người. Nó ổn định về tương quan
giữa hai giới trong quá trình sinh sản. Chức năng sinh sản của nữ giới hay
nam giới là không thể thay thế, thay đổi hay chuyển dịch cho nhau. Tính
đồng nhất: Nam giới hay nữ giới trên khắp thế giới đều có cấu tạo về mặ
tsinh lý học giống nhau, đều tham gia và mang các yếu tố đóng góp vào quá
trình sinh sản như nhau. Tính không đổi và không thay đổi: Về phương diện
sinh lý, chức năng sinh sảncủa nữ giới hay nam giới là không thể thay đổi
hay chuyển dịch cho nhau được. Sự khác biệt về giới tính hầu như bất biến
cả về thời gian cũng như về không gian. Ngoài nhữngkhác biệt sinh học như
đã nêu, giữa phụ nữ và nam giới còn khác nhau ở nhiều đặc điểm về mặt xã
hội, và những khác biệt này dùng để phân biệt giới.
Khái niệm Giới
Giới là khái niệm khoa học ra đời từ môn nhân loại học, chỉ sự khác biệt
giữa nam và nữ về mặt xã hội. Nói về giới là nói về vai trò, trách nhiệm và
quyền lợi mà xã hội quan niệm hay quy định cho nam và nữ.
Vai trò, trách nhiệm và quyền lợi đó thể hiện trước hết ở sự phân công lao
động,phân chia các nguồn của cải vật chất và tinh thần, tức là cách đáp ứng
nhu cầu của nam và nữ trong xã hội. Theo quan niệm và thói quen đã có từ
lâu đời ở nhiều nước, nhiều khu vực thìphụ nữ phải làm hầu hết các công

nào phù hợp với tính chất, trình độ của nền sản xuất thì nhóm đó tự nhiên có
đượcvị trí cao hơn. Ví dụ, thời kỳ đầu tiên của lịch sử loài người, đặc điểm
giới tính của phụnữ phù hợp hơn với nền kinh tế hái lượm và trồng trọt và
đó chính là cơ sở tự nhiên của chế độ mẫu quyền. Khi xã hội chuyển sang
nền kinh tế lấy chăn nuôi săn bắn là chính thìđặc điểm giới tính của đàn ông
tỏ ra phù hợp và họ đã giành được vị trí thống trị của phụnữ trước đó và chế
độ phụ quyền được xác lập.
Từ khi chế độ phụ quyền được xác lập, đàn ông với ưu thế sẵn có đã buộc
xã hội chấp nhận quan niệm và cách sắp xếp của họ. Điều đó được nâng lên
thành hệ tư tưởng vàđược thể chế hóa thành pháp luật, lâu dần thành thói
quen, thành nếp sống, phong tục tập quán… Đến lúc này, giới tính được
nhìn nhận và giải thích theo quan niệm thiên lệch củanam giới. Thực nghiệm
khoa học và thực tế xã hội đã chứng minh đầy thuyết phục rằng khảnăng tư
duy logic của nữ không kém nam, mặt khác, khả năng chăm sóc, nuôi dạy
con của nam cũng không khác nữ nhiều. Tuy nhiên từ trước đến nay, trong
xã hội gần như tuyệt đốihóa sự phân công, nam thì lao động trí óc, làm công
việc khoa học, phụ nữ thì nuôi con vàlàm mọi công việc nhà. Sự phân công
đó in sâu vào quan niệm của mọi người, cả nam và nữ.
Nhiều thế hệ được giáo dục theo tinh thần chấp nhận, tuân thủ sự phân công
đó từ trong gia đình, nhà trường và xã hội.
Trong xã hội, người ta thường lấy sự khác biệt về giới tính để giải thích sự
khác biệt về giới. Các quan niệm rập khuôn, những thói quen đã làm những
điều mà xã hộichấp nhận thường được coi là thước đo hành vi, là chuẩn mực
đánh giá phẩm chất của mỗi giới. Những tác động này làm duy trì và tăng
thêm khoảng cách khác biệt giữa nam giới và nữ giới trong xã hội.
Qua đó cho thấy, giới có đặc trưng là do dạy và học mà có: Đứa trẻ được
dạy dỗ để trở thành nữ giới hay nam giới theo khuôn mẫu của xã hội. Bắt
đầu từ khi sinh ra, đứatrẻ đã được đối xử và dạy dỗ tùy theo nó là trai hay là
gái. Đó là sự khác biệt về quần áo,đồ chơi, màu sắc, cách nói năng, thái độ
và có thể cả về thức ăn và tình cảm của cha mẹ,anh chị. Con trai không được

xử như nhau, cơ hội như nhaukhông đem lại kết quả như nhau đối với giới
nữ và giới nam. Vì vậy, bình đẳng giới cầnđược hiểu là sự đối xử ngang
quyền giữa hai giới nam và nữ có xét đến những đặc điểmgiống nhau và
khác nhau của mỗi giới, và được điều chỉnh bởi các chính sách đối vớitừng
giới một cách hợp lý.
Nếu như cả phụ nữ và nam giới cùng có điều kiện bình đẳng để phát huy
hết khảnăng và thực hiện các mong muốn của mình; có cơ hội bình đẳng để
tham gia, đóng gópvà hưởng thụ từ các nguồn lực của xã hội và quá trình
phát triển; được hưởng tự do vàchất lượng cuộc sống bình đẳng; được hưởng
thành quả bình đẳng trong mọi lĩnh vực củaxã hội, thì xã hội đó đã đạt được
bình đẳng giới. Nếu những tiêu chí này không được xác lập có nghĩa là trong
xã hội đang tồn tại bất bình đẳng giới.


Không nên hiểu bình đẳng giới theo cách đơn giản là nam giới và nữ giới
tham gia như nhau trong tất cả các hoạt động, cũng không phải phương
châm phụ nữ “vùng lên” đòi hỏi quyền lợi ngang bằng nam giới, bất chấp sự
khác biệt về đặc tính sinh học giữa nam và nữ. Hơn nữa, việc không phân
định rõ ràng sự khác biệt mang tính chất giới và giới tính lạichỉ thấy có một
phía là không bình đẳng nghiêng về nữ, chắc sẽ dẫn đến hệ quả ngược lạivới
mong muốn ban đầu mang tính nhân văn sâu sắc của nhận thức giới và cách
giải quyếtsẽ chỉ là: hoặc hoán vị vai trò giới một cách máy móc những gì
phụ nữ có và phải làm thì đem chuyển cho nam giới và ngược lại, hoặc đi
đến chủ nghĩa bình quân giữa nam và nữđể chỉ chia nhau cơ hội, lợi ích,
trách nhiệm…
Bình đẳng giới theo yêu cầu của xã hội hiện nay còn cần phải gắn với
quan điểm phát triển, sự tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội. Nó đòi hỏi
một sự chuyển biến đồng bộ của tất cả mọi thành phần, mọi lứa tuổi, nhưng
trước hết đối với nam giới trong hàng loạt vấn đề: từ nhận thức đến thái độ
ứng xử xã hội và hành vi cụ thể trong mối quan hệ với phái nữ. Để có thể

nhiên là giới cung cấp những vật liệu cho lao động đem biến thành của cải.
Nhưng lao động còn là một cái gì vô cùng lớn lao hơn thế nữa. Lao động là
điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người, và như thế đến
một mức mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: lao động đã sáng
tạo ra bản thân con người [23, tr.641].
Từ khi con người xuất hiện, con người đã tiến hành các hoạt động như
kinh tế, chính trị, văn hóa, nghệ thuật…, trong đó hoạt động kinh tế giữ vị trí
trung tâm và là cơ sở cho các hoạt động khác. Để tiến hành các hoạt động
này, trước hết con người phải tồn tại. Con người muốn tồn tại thì phải được
đáp ứng các nhu cầu cơ bản như ăn, mặc, ở, đi lại…Muốn vậy, con người
phải sản xuất và không ngừng sản xuất. C. Mác và Ph.Ăngghen đã khám phá
ra: sản xuất vật chất là cơ sở tồn tại và phát triển của con người và xã hội.
Sản xuất vật chất ngày càng phát triển thì càng đòi hỏi ở con người chức
năng sáng tạo và luôn đòi hỏi người lao động nâng cao trình độ mọi mặt
nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người. Có thể khái quát nhu
cầu của con người trên ba mặt: Thứ nhất là nhu cầu sinh tồn, phát triển và
hưởng thụ về vật chất; Thứ hai là nhu cầu về tinh thần; Thứ ba là nhu cầu
hoạt động lao động. C.Mác dự đoán trong xã hội cộng sản chủ nghĩa, năng
suất lao động xã hội cao, sản phẩm sản xuất ra quá dư thừa đủ để thực hiện
phân phối theo cơ chế làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu, khi đó lao
động là nhu cầu đầu tiên của đời sống con người; còn trong giai đoạn hiện
nay, thời kỳ đầu của quá trình xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, năng suất
lao động chưa cao, chưa đáp ứng được đầy đủ các nhu cầu của con người,
thì lao động vẫn còn là phương tiện sinh sống của con người.
Trong những điều kiện lịch sử nhất định và cho đến nay lao động là
phương tiện để sinh sống, là nguồn gốc chân chính của thu nhập đảm bảo sự
tồn tại và phát triển của mỗi thành viên và xã hội loài người. Do vậy, ở các
quốc gia cũng như ở nước ta, vấn đề lao động luôn luôn được coi trọng trong
quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Sau khi lãnh đạo nhân dân
ta làm Cách mạng Tháng Tám thành công, giành chính quyền về tay nhân

Trên thế giới có những cách hiểu không giống nhau về “người có việc
làm”,“người thất nghiệp”, theo ILO:
“Lực lượng lao động” hay “dân số hoạt động kinh tế” là một bộ phận
dânsố trong độ tuổi quy định, bao gồm người có việc làm và người thất
nghiệp.
Người có việc làm là những người làm một việc gì đó (không bị pháp luật
cấm) được trả tiền công, lợi nhuận hoặc thanh toán bằng hiện vật, hoặc
nhữngngười tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì
lợi ích hay vì thu nhập gia đình mà không được trả tiền công hoặc hiện vật.
Người thất nghiệp là người không có việc làm nhưng đang tích cực
tìmviệc làm hoặc đang chờ được trở lại làm việc.
Còn người không thuộc lực lượng lao động là một bộ phận dân số gồm
những người không có việc làm và cũng không phải là người thất nghiệp, đó
là học sinh, những người mất khả năng lao động, nội trợ và những người
thuộctình trạng khác [45, tr.49].


Từ quan niệm trên về việc làm cho thấy, dân số hoạt động kinh tế là một bộ
phận dânsố thường ở trong độ tuổi trên dưới 15-60 (có khác nhau ở các
nước).
Ở Việt Nam, trong công cuộc đổi mới, thực hiện nền kinh tế thị trường theo
định hướng xã hội chủ nghĩa đã có sự đổi mới trong quan niệm về việc làm.
Trước đây, ngườicó việc làm chủ yếu ở thành phần kinh tế nhà nước và tập
thể, lao động theo kế hoạch từtrên xuống, thu nhập bình quân là chính,
không thừa nhận hiện tượng thất nghiệp, laođộng dư thừa. Hiện nay ở nước
ta, lực lượng lao động là bộ phận dân số có độ tuổi từ 15 đến 55 đối với nữ
và từ 15 đến 60 đối với nam và tại Điều 13, chương II, Bộ luật Bộ luật
Laođộng bổ sung sửa đổi năm 2003 nêu rõ: Mọi hoạt động tạo ra thu nhập,
không bị phápluật cấm đều được thừa nhận là việc làm.
Vấn đề việc làm luôn được Đảng và Nhà nước Việt Nam quan tâm giải

chung về hai kháiniệm trên, nghĩa là trình bày cả cụm từ: lao động và việc
làm.
Khái niệm Bình đẳng giới trong lao động và việc làm
Theo Luật Bình đẳng giới (2007), bình đẳng giới trong lao động được xác
định:
“Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng, được đối xử bình
đẳng tại nơilàm việc về việc làm, tiền công, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội,
điều kiện lao động và cácđiều kiện làm việc khác. Nam, nữ bình đẳng về tiêu
chuẩn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm giữ các chức danh trong các ngành
nghề có tiêu chuẩn chức danh [36, tr.5].
Bình đẳng giới trong lao động, việc làm là đảm bảo cơ hội ngang bằng
cho cả nữ giới và nam giới trong lĩnh vực lao động và việc làm. Điều này
bao gồm cơ hội tiếp cậncác nguồn lực đầu tư cho “vốn con người”, các
nguồn lực sản xuất, cơ hội được tham giathị trường lao động và có được việc
làm phù hợp với khả năng, sở thích và có thể pháthuy hết tiềm năng của bản
thân.
Tuy nhiên, cùng với việc đảm bảo cơ hội ngang nhau giữa nam, nữ là việc
cầ thấy rõ vai trò giới, nhu cầu giới của nam, nữ có thể giống và khác nhau,
chỉ có một phầnnhỏ sự khác biệt này là do những khác nhau về đặc điểm
sinh học giữa nam và nữ, cònphần lớn là do những định kiến và quan niệm
xã hội tạo nên. Mức độ ảnh hưởng củanhững điểm bất lợi này đối với những
tầng lớp phụ nữ khác nhau là khác nhau. Chẳnghạn như, mức độ ảnh hưởng
sẽ trầm trọng nhất và sâu sắc nhất là đối với những em bégái phải bỏ học
hay đi làm sớm do gia đình quá nghèo, do đông anh em, hay do quanniệm là
con gái không cần học nhiều…Trong tương lai, các em sẽ phải chịu những
rủi rothất nghiệp cao hoặc làm những công việc đem lại thu nhập thấp, hoặc
những công việccó gây tổn hại cho bản thân như mại dâm. Những phụ nữ đã
có gia đình, những phụ nữ ở nông thôn, trong những hộ gia đình nghèo là
những người chịu nhiều thiệt thòi nhiều hơntrước những bất lợi này.
Không có công việc hay nghề nghiệp nào chỉ dành riêng cho nam hay cho

vớinam giới. Các hoạt động thuộc lĩnh vực công cộng như tham gia xây
dựng đường sá, vệ sinh và các công trình cộng đồng nói chung nam và nữ
đều tham gia, nhưng nam thường ở vị trí quyết định, làm công việc gián tiếp.
Riêng các công việc trong gia đình không được trả công như nấu ăn, chăm
sóc con cái, mua bán…khoảng cách giới rất lớn [45,tr.51].
Khoảng cách giới còn khá lớn, thể hiện ở thời gian làm việc giữa nam và
nữ. Phần lớn trong số lao động làm việc trên 50 giờ một tuần là phụ nữ. Ở
mọi lứa tuổi, phụ nữ phải làm việc nhà nhiều hơn nam giới. Ở lứa tuổi từ 25
đến 55, một năm người phụ nữ phải làm đến khoảng 700 giờ việc nhà, thì
người nam giới chỉ khoảng 300 giờ [50].
Nhìn chung, phụ nữ làm nhiều việc hơn, thời gian nhiều hơn, vất vả hơn và
thu nhập thấp hơn so với nam giới. Ngày nay, đang có sự san sẻ chuyển đổi
nhất định về vai trò giới trong xã hội, cộng đồng và gia đình nhưng rất chậm
chạp. Thực trạng đó cho thấy có những điểm chưa thật hợp lý.
Về tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực
Có việc làm mới chỉ là khởi đầu. Việc làm ấy được tiến hành trong thực tế,
tức là lao động, khi quá trình này “con người có công cụ sản xuất và nắm
được kỹ năng sản xuất, đã thay đổi ngoại giới và làm cho đối tượng lao động
phù hợp với nhu cầu của mình” [47, tr.299]. Nghĩa là tiếp cận và kiểm soát
được các nguồn lực cho hoạt động kinh tế. Các nguồn lực hoạt động kinh tế
của người lao động bao gồm các yếu tố hữu hình (công cụ sản xuất, đối


tượng lao động, hạ tầng cơ sở…) và vô hình (khả năng, chuyên môn làm
việc…)
Hiện nay, trên thế giới còn có khoảng cách giới trong tiếp cận và kiểm soát
các nguồn lực trong lĩnh vực lao động, việc làm, thậm chí mang tính phổ
biến như:
Do học vấn thấp hơn, hạn chế trong đào tạo nghề, lao động nữ trong gia
đình và xã hội (doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh…) tiếp cận các công cụ

mang tên cả hai người thì phần lớn vẫn do nam giới đứng tên. Theo số liệu
thống kê về giới của Ủy ban quốc gia Vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam thì:
trung bình đất đai canh tác do phụ nữ quản lý chỉ bằng khoảng một nửa đất


canh tác do nam giới quản lý. Điều này gây khó khăn cho việc vay vốn,
thiếu chủ động về vốn của lao động nữ khi đầu tư sản xuất kinh doanh.
Trong nông nghiệp, việc tiếp cận các hình thức chuyển giao khoa học, kỹ
thuật phục vụ sản xuất, chăn nuôi (tập huấn, hội thảo, mô hình, tham
quan…) phần lớn là nam giới. Qua công cụ phân tích giới tiếp cận và kiểm
soát “càng nhận thấy tình trạng bất hợp lý và bất bình đẳng giữa nam và
nữ, vì phần lớn phụ nữ nước ta ở nông thôn và làm nông nghiệp (75%)” [45,
tr.58]. Do vậy, sự hiểu biết về kiến thức khoa học, kỹ thuật canh tác chăn
nuôi của lao động nữ thấp hơn lao động nam, nên lao động nữ thường làm
những công việc giản đơn, năng suất lao động thường không cao, thu nhập
thấp.
Về điều kiện và môi trường làm việc
Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới đã có lồng ghép giới trong nghiên
cứu, giải quyết các vấn đề liên quan đến điều kiện và môi trường làm việc
của người lao động, nếu có khác biệt giới thì quy định riêng cho nam và nữ.
Ví dụ: danh mục việc làm, môi trường làm việc mà chỉ lực lượng lao động
nam mới làm được, được tuyển dụng; danh mục cấm lao động nữ (không lợi
cho sức khỏe và không phù hợp đạo đức…, điều kiện bảo vệ sản phụ trong
lao động…). Ở Việt Nam, đã có nhiều văn bản của Nhà nước về công tác
bảo hộ lao động. Bộ luật Lao động dành riêng một chương về vấn đề này.
Trong ý thức xã hội về an toàn lao động, vệ sinh lao động được nâng cao.
Việc giải quyết những hậu quả xấu do điều kiện và môi trường làm việc
không thuận lợi gây ra khá tốt, chính sách xã hội bảo hộ lao động
gây ra khá tốt, chính sách xã hội bảo hộ lao động nữ có nhiều tiến bộ. Tuy
nhiên, trong thực tế việc thực hiện các chính sách trên còn hạn chế, vấn đề

và nữ ở những công việc có giá trị như nhau.
Ở Việt Nam, từ khi đổi mới đến nay, thực hiện phân phối chủ yếu theo kết
quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp
vốn của các nguồn lựckhác vào sản xuất kinh doanh và thông qua phúc lợi
xã hội là cơ sở và điều kiện thuận lợi để bình đẳng giới hơn về lợi ích kinh
tế. Bộ luật Lao động, điều 111 ghi rõ “Người sử dụng lao động phải thực
hiện nguyên tắc bình đẳng nam nữ về tuyển dụng, sử dụng, nâng bậc lương
và trả công lao động”.
Trong nền kinh tế nhiều thành phần, người lao động cả nam và nữ có cơ
hội việc làm nhiều hơn, do vậy có quyền lựa chọn ngành nghề có thu nhập
cao. Tuy vậy, nền kinhtế nhiều thành phần, đã làm nảy sinh không ít vấn đề
giới trong phân phối, đó là: Thứ nhất, những công việc vệ tinh, những việc
làm thuộc vai trò tái sản xuất mà phần lớn do phụ nữ thực hiện, vẫn không
được xã hội nhìn nhận, đánh giá đúng mức. Thứ hai, laođộng nữ thường có
mức thu nhập thấp hơn lao động nam. Thứ ba, có không ít hiện tượng người
sử dụng lao động vi phạm luật Lao động về điều khoản quy định về tiền
lương (không đủ mức tiền lương tối thiểu, không đóng các loại bảo hiểm, trả
lương chậm và không đền bù, trả lương làm thêm giờ không tương xứng…),
nhưng phần lớn chịu hậu quả của sự vi phạm ấy là lao động nữ. Thứ tư, Lợi
ích kinh tế thể hiện ở thu nhập, nhưng đồng thời còn thông qua hưởng thụ.
Người lao động nam, nữ trở về nhà là thành viên giađình. Phụ nữ Việt Nam
thường quản tiền nong, nhưng trước hết họ là những người vợ, người mẹ,
tiêu thì nhiều nhưng hưởng thì ít hơn chồng con.
1.1.2. Ý nghĩa của bình đẳng giới trong lao động và việc làm
Thứ nhất: Vị trí quyết định của lao động và việc làm trong phát triển xã
hội,phát triển con người.


.Lao động, việc làm giúp con người từ vượn thành người, giúp con người
thành con người xã hội.

công việc làm, tiền bạc (do có thu nhập), quan hệ xã hội, môi trường. Do đó,
có việc làm, có thu nhập do việc làm đemlại được coi là hai yếu tố quan
trọng trong các yếu tố cấu thành chất lượng cuộc sống của con người.
Thứ hai: bình đẳng giới trong lao động và việc làm góp phần trực tiếp
phát huy lực lượng lao động nam, nữ trong gia đình và ngoài xã hội.
Để phát triển đất nước cần có nhiều nguồn lực, trong đó nguồn lực con
người trở thành yếu tố quan trọng nhất. Nguồn lực con người bao gồm cả lao
động nam và lao động nữ, khi có bình đẳng giới sẽ phát huy được cả hai lực


lượng lao động này, lao động nữ chiếm một nữa bầu trời, nếu họ được bình
đẳng với nam giới họ sẽ phát huy hết tiềm năng, như vậy nguồn lực lao động
sẽ có chất lượng hơn.
Thực hiện bình đẳng giới trong lao động và việc làm, đồng nghĩa với việc
giúp lao động nữ có điều kiện, cơ hội tìm kiếm việc làm như lao động nam,
từ đó giúp họ tự khẳng định mình trong gia đình và ngoài xã hội, đồng thời
cân bằng cuộc sống cho bản thân, cho con và các thành viên trong gia đình,
qua đó giúp họ có lòng tin đối với xã hội,và cũng chính là điều kiện thực
hiện quyền cơ bản nhất trong Hiến pháp, đó là quyền được làm việc.
Để thực hiện mục tiêu bình đẳng giới theo các cam kết quốc tế mà Việt
Nam đã ký thì việc khắc phục và xóa bỏ dần khoảng cách giới trong lĩnh vực
lao động, việc làm là điều kiện quan trọng nhất. Thực hiện bình đẳng giới
trong lao động và việc làm sẽ tạo điều kiện cho lực lượng lao động yếu thế
hơn (chủ yếu là lực lượng lao động nữ) có cơ hội tìm kiếm việc làm, góp
phần phát huy được vai trò của họ trong quản lý gia đình, nuôi dạy con cái,
giảm nghèo khổ, tăng thu nhập, đảm bảo sự bình đẳng nam nữ; phát triển thể
lực, trí lực, tài năng, sáng tạo, cũng như nâng cao nhân cách, địa vị của
người lao động, trong đó có lao động nữ, đó còn là một trong những biện
pháp hữu hiệu hạn chế sự phát sinh những tệ nạn xã hội, nhức nhối nhất là tệ
nạn mại dâm. Ý nghĩa sâu xa của việc thực hiện bình đẳng giới trong lao

vụ trọng tâm của công cuộc đổi mới hiện nay là phát triển kinh tế. Hiện nay,
trên thế giới, bất bình đẳng giới nói chung, bất bình đẳng giới trong lao động
và việc làm nói riêng mang tính phổ biến, nhiều nơi rất trầm trọng, là một
thực tế cản trở không nhỏ đến thực hiện đường lối phát triển nền kinh tế của
nhiều nước. Việt Nam hiện nay chưa ra khỏi tình trạng kém phát triển, thậm
chí vẫn đang có nguy cơ tụt hậu về kinh tế, cho nên, phát triển kinh tế được
xác định là nhiệm vụ trọng tâm của công cuộc đổi mới đất nước. Phấn đấu
bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động và việc làm là một nội dung quan
trọng trong phát triển kinh tế xã hội của đất nước, đồng thời là cơ sở để Việt
Nam thực hiện được những cam kết quốc tế trong việc thực hiện Các mục
tiêu thiên niên kỷ.
1.2. QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG
HỒ CHÍ MINH VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ BÌNH ĐẲNG
GIỚI TRONG LAO ĐỘNG VÀ VIỆC LÀM
1.2.1. Chủ nghĩa Mác - Lênin về bình đẳng giới trong lao động và việc
làm
Từ khi xã hội phân chia thành giai cấp và xuất hiện tình trạng áp bức bóc
lột, người phụ nữ luôn ở vị trí thấp kém nhất trong xã hội và là đối tượng bị
áp bức nhất trong tất cả những người bị áp bức. Do vậy, từ rất sớm, C.Mác
và Ph.Ăngghen đã làm rõ địa vị của người phụ nữ trong các xã hội cũ, nhất
là trong chủ nghĩa tư bản, đồng thời vạch trần tính chất tàn bạo và dã man
của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đối với lao động nữ, từ đó chỉ ra
con đường và điều kiện để giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng nam, nữ,
trong đó thực hiện bình đẳng nam, nữ trong lao động, việc làm là một lĩnh
vực quan trọng của đời sống.
Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, nhất là khi chế độ tư hữu
xuất hiện, địa vị của người phụ nữ trong gia đình cũng như ngoài xã hội bắt
đầu có những thay đổi, thậm chí là một sự hoán đổi vị trí một cách triệt để
nhất trong lịch sử: từ địa vị là người làm chủ gia đình và xã hội, giờ đây
người phụ nữ phải phục tùng tuyệt đối vào quyền lực của đàn ông. Tình

“Chúng tôi coi khuynh hướng của nền công nghiệp hiện đại thu hút trẻ em
và thiếu niên nam nữ tham gia vào công việc sản xuất xã hội lớn lao là một
khuynh hướng tiến bộ, lành mạnh và chính đáng, mặc dù, trong chế độ tư
bản đó đã mang những hình thức quái gở” [22, tr.216].
Việc sử dụng lao động nữ trong nền sản xuất công nghiệp tư bản chủ nghĩa
được xem là một khuynh hướng tiến bộ, bởi vì, nó là tác nhân quan trọng
làm thay đổi từng bước trong nhận thức của xã hội về vị trí và vai trò của
người phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội, từ đó dẫn đến những thay đổi
trong quan hệ giữa nam và nữ, đồng thời là yếu tố thúc đẩy tiến tới bình
đẳng giới trên thực tế sau này. Như vậy, quan điểm bình đẳng nam, nữ nói
chung và bình đẳng giới trong lao động, việc làm đã được C.Mác bàn đến từ
rất sớm. Mặc dù, trình độ phát triển kinh tế không hoàn toàn quyết định mức
độ bình đẳng nam, nữ, song nó là cơ sở vật chất kinh tế quan trọng, cần thiết


để tiến tới thực hiện giải phóng phụ nữ và bình đẳng nam nữ trên thực tế.
Vấn đề này được C.Mác khẳng định trong bộ Tư bản: “Trong khi đem lại
cho phụ nữ, thiếu niên và trẻ em gái một vai trò quyết định trong quá trình
sản xuất xã hội có tổ chức ngoài phạm vi gia đình, đại công nghiệp cũng vẫn
tạo ra một cơ sở kinh tế mới cho hình thức cao hơn của gia đình và của mối
quan hệ giữa nam và nữ” [25, tr.696].
Tuy nhiên, trong chủ nghĩa tư bản, việc sử dụng lao động nữ trong nền sản
xuất xã hội lại dẫn đến sự mâu thuẫn và sự xung đột gay gắt với việc thực
hiện chức năng gia đình và chức năng xã hội của người phụ nữ. Sự xung đột
này không thể giải quyết triệt để trong chủ nghĩa tư bản, trái lại, nó càng làm
trầm trọng thêm tình trạng “một cổ hai tròng” của người phụ nữ - vừa bị nô
dịch trong gia đình, vừa bị áp bức ngoài xã hội
Mặc khác, C.Mác và Ph.Ăngghen cũng chỉ ra “sự quái gở” và vạch trần
tích chất dã man, tàn bạo và vô cùng tinh vi của giới chủ tư sản khi sử dụng
lao động nữ trong quá trình sản xuất công nghiệp. Bọn chủ tư bản bóc lột

người phụ nữ chưa chồng và hơn nữa họ buộc phải làm việc cật lực để kiếm
được những tư liệu sinh hoạt cần thiết [25, tr.578].
Ở đây, sự khác biệt giới được giới chủ khai thác triệt để nhằm phục vụ cho
lợi ích của chúng. Bản chất của phụ nữ là thường xuyên chăm lo vun vén
cho gia đình, sẵn sàng hy sinh vì chồng vì con nên họ dễ dàng chấp nhận
một khoản lương ít ỏi miễn là có việc làm, có thu nhập để duy trì cuộc sống
và nuôi sống gia đình, con cái; hơn nữa, bản tính của phụ nữ là dịu dàng,
ngoan ngoãn, nhẫn nhục chịu đựng, ít chống đối… “Như vậy là những đức
tính đặc biệt của người phụ nữ lại quay trở lại làm hại họ, cũng như sự dịu
dàng và nết na trong bản chất người phụ nữ đã trở thành công cụ biến họ
thành nô lệ và làm cho họ đau khổ” [25, tr.578].
Có thể thấy rõ là, vì lợi nhuận, giới chủ tư bản một mặt không ngừng cải
tiến kỹ thuật, cải tiến công nghệ sản xuất để tăng cường bóc lột lao động làm
thuê nói chung, mặc khác, không ngừng thay thế lao động nam giới bằng lao
động phụ nữ vào tất cả các loại lao động, kể cả những công việc nặng nhọc
hao tổn nhiều sức lực và hoàn toàn không phù hợp với lao động nữ. Giới chủ
tư bản đã nhận thức rất rõ sự khác biệt giữa lao động nữ và lao động nam
nên họ đã khai thác triệt để sự khác biệt giới này vì mục đích lợi nhuận chứ
hoàn toàn không vì hướng tới cải thiện điều kiện lao động cho phù hợp với
từng giới. Điều này thể hiện ở chỗ mặc dù thích sử dụng lao động nữ thay
thế cho lao động nam trong các công xưởng, song giới chủ không hề quan
tâm đến điều kiện lao động của nữ, không chịu mở hầu bao để trích một
phần ít ỏi so với lợi nhuận kết xù mà họ đã thu được từ việc bóc lột lao động
làm thuê. Trái lại, họ bắt lao động nữ phải làm việc lẫn lộn với lao động nam
trong những điều kiện hết sức tồi tệ, thậm chí là sử dụng cả lao động nữ vào
những ngành nghề sản xuất đặc biệt có hại cho cơ thể của người phụ nữ và
không phù hợp với đạo đức.
C.Mác và Ph.Ăngghen đã phát hiện và vạch trần ra một xu hướng chung
về việc sử dụng lao động của giới chủ tư bản, đó là việc bọn chủ tư bản tăng
cường tuyển dụng lao động phụ nữ và trẻ em gái, tất cả vì mục đích lợi

những gia đình như vậy đang sống (hoặc nói cho đúng hơn đang bị đọa đầy)
trong kiếp “gia nô”, ra sức lo ăn, lo mặc cho cả gia đình bằng từng xu nhỏ
mà họ phải trả giá bằng những cố gắng phi thường hàng ngày và bằng “sự
tiết kiệm” tất cả mọi thứ, chỉ trừ có “tiết kiệm” lao động của bản thân”
[13,tr.173].
Trong bài Nền sản xuất nhỏ trong nông nghiệp [13, tr.173], V.I.Lênin
phân tích số liệu so sánh lao động của phụ nữ ở nước Áo với ở nước Đức và
đã chỉ ra rằng việc bóc lột sức lao động của phụ nữ trong nền sản xuất nhỏ
kiểu tư bản chủ nghĩa đã đạt tới một trình độ cao và quy mô sản xuất càng
nhỏ thì thành phần sức lao động càng tồi; tỷ lệ lao động nữ càng lớn, tức là
sự bóc lột sức lao động nữ càng nhiều. Ông viết:
Ở Áo, cuộc điều tra năm 1902 cho thấy rằng trong số 9.070.682 người
làm công trong nông nghiệp, thì có 4.422.981 phụ nữ, tức là 48,7% là phụ
nữ. Ở Đức là nơi mà chủ nghĩa tư bản phát triển cao hơn rất nhiều, thì phụ
nữ chiếm đa số trong tổng số người lao động làm việc trong nông nghiệp, cụ
thể là 54,8%. Chủ nghĩa tư bản càng phát triển trong nông nghiệp, thì nó
càng sử dụng lao động của phụ nữ nhiều hơn, nghĩa là càng làm cho điều
kiện sinh hoạt của quần chúng lao động thêm tồi tệ. Trong nền công nghiệp
Đức, phụ nữ chiếm 25%, còn trong nông nghiệp thì gấp hơn 2 lần. Điều đó



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status