ĐẠI HỌC QUỐC GIA HẢ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ XUÂN
XÂY DỤNG VÀ PHÁT HUY NGƯỔN L ự c CON NGƯỜI
ở HẢI PHÒNG TRONG s ụ NGHIỆP
CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ DAT NƯỚC.
Chuycn ngành
Mã sô
: CNXHKH
: 5.01.03
LUẬN VÀN THẠC s ĩ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS. Dương Vãn Duyên
r ..
L___
11A NÔI 2001
)
J
.
CNH, HĐH
Giáo dục và đào tạo
GD - ĐT
Khoa học công nghệ
KHCN
Lực lượng sản xuất
LLSX
Nhà xuất bản
NXB
Quan hệ sản xuất
QHSX
Thành phố
TP
Ưỷ ban nhăn dân
UBND
1.1. Nguồrvlực con người đối với sự phát triển xã hội
1.1.1. Quan điểm M ácxit về nguồn lực con người
1.1.2. Vai trò của nguồn lực con người đối với sự phát triển xã hội
1.1.3. Những yếu tố tác động tới việc hình thành nguồn lực con người
1.2. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay và những yêu
cầu đặt ra đối với việc bổi dưỡng phát triển nguổn lực con người ở
nước ta.
1 .2 .1 . Quan điểm về Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện
nay
1.2.2. Những yêu cầu đặt ra đối với việc phát huy nguồn lực con người
trong sự nghiệp Công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước và Hải
Phòng.
Chương 2: THựC TRẠNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT HUY NGUỔN L ự c
CON NGƯỜI ở HẢI PHÒNG TRONG s ự NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ HIỆN
ĐAI HOÁ
2.1. Thực trạng nguồn lực con người hiện nay ở Hải Phòng
2.1.1. Những đặc điểm về địa lý - Kinh tế xã hội của Hải Phòng
2.1.2. Thực trạng nguồn lực con người ở Hải P hòng hiện nay
2.2. Những giải pháp phát huy nguồn lực con người ở Hải P hòng trong
sự nghiệp Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
2.2.1 Những định hướng ph át triển kinh tế xã hội của T h à n h p h ố
2.2.2. Những giải pháp xây dựng ng uồ n lực con người ở Hải Phòng
đáp ứng yêu cầu C ô ng ng hiệp hoá, hiện đại hoá
PHAN KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHẦN MỞ ĐẦU
2
Với mong muốn góp một ý kiến cùng với Đảng bộ và nhân dân, Hải
Phòng phấn đấu thực hiện thắng lợi nghị quyết XI của Đảng bộ Thành phố, tôi
chọn vấn đề “Xây dựng và phát huy nguồn lực con người (VHai Phòng trong sự
nghiệp CNH, HĐH đất nước” làm đề tài luận văn Thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Vấn đề con người, chiến lược phát triển con người vì sự nghiệp CNH,
HĐH đất nước được Đáng và Nhà nước ta hết sức quan tâm. Đảng ta đã khẳng
định, phát triển con người vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển kinh tế xã hội. Phát triển kinh tế - xã hội không ngoài mục đích vì con người, vì cuộc
sống ấm no tự do hạnh phúc và sự phát triển toàn diện cá nhân con người. Vấn
đề con người gắn với quá trình CNH, HĐH là nội dung nổi trội được trao đổi
sôi nổi trong nhiều lĩnh vực, trên nhiều phương tiện thông tin với những dung
lượng tri thức khác nhau. Giáo sư Trần Đức Thảo: “Vấn đ ề con người vờ chủ
nẹỉũa lí luận khô/iiỊ có con /lí^iíờr, đã luận giải khá chặt chẽ vấn đề con người
và bản chất con người theo quan điểm của Mác.
Gs Phạm Minh Hạc (1995):
“Vân âê con người Việt Nartì trong sư
nghiệp CNH, H Đ H '\ NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Đây là một công trình
lớn vể vấn đề con người và phát triển con người ở nước ta. Tập thể tác giả đề
cập một cách tổng quát, phân tích lí giải một cách khá sâu sắc vấn đề con
người với sự nghiệp CNH, HĐH clưới góc độ xã hội học.
GS. TS Lê Hữu Táng (1997): “V ề động lực phát triển kinh t ế - x ã hội” ,
NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội. Tác giả đã đưa ra và lý giải các động lực của
sự phát triển kinh tế - xã hội, trong đó đặc biệt nhấn mạnh vai trò động lực của
con người.
Sự phát triển của con người gắn với CNH, HĐH là đề tài được nhiều nhà
nói chung, Hải phòng nói riêng; tác giả đề xuất những giải pháp nhằm xây
dựng và phát huy đội ngũ lao động của Thành phố với chất lượng cao, đáp ứng
nhũng yêu cầu trong giai đoạn mới của cách mạng.
3.2. N h iệ m vụ
Đê đạt được mục đích trên luận văn có nhiệm vụ:
- Làm rõ quan điểm Mácxít về con người, nguồn lực con người và những
yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng và phát huy nguồn lực con người.
- Làm rõ thực trạng nguồn lực con người của Hải Phòng hiện nay so với
yêu cẩu của sự nghiệp CNH, HĐH.
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy những ưu điểm, khắc
phục những yếu kém của nguồn lự ' con người Hái Phòng hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng
Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng nguồn lực con người ở Hái
Phòng và các giải pháp nhằm phát huy nguồn lực đó trong sự nghiệp CNH,
HĐH của Thành phố.
4.2. P hạm vi
Tác giả nghiên cứu nguồn lực con người ở thành phố Hải Phòng giai
đoạn 1995 đến nay, song có đặt trong mối quan hệ chung của cả nước. Luận
văn giới hạn việc nghiên cứu dưới góc độ chính trị-xã hội của vấn đề.
5. Cơ SỞ lí luận và phương pháp nghiên cứu
- Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa M ác-L ênin, tư tưởng Hổ Chí Minh,
quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, chủ trương của Đảng bộ thành phố
Hải Phòng về con người và nguồn lực con người trong sự phát triển xã hội.
- Sử dụng các phương pháp: phân tích và tổng hợp, hệ thống hoá, thu
thập những tư liệu có liên quan tới đề tài.
hình ảnh tuyệt đối của thượng đế, hoặc là một thực thể tự nhiên - sinh vật
thuần tuý. Họ chưa thấy đựợc bán chất của con người ở tính chất xã hội, trong
đó tự nhiên là cơ sở sinh học của bán chất con người và xã hội là cơ sỏ' quyết
định của bản chất con người.
Tiếp thu có chọn lọc những tư tưởng tiến bộ của triết học tiền bối, vượt
lên trên tất cả những hạn chế về mặt lịch sử, xã hội, triết học Mác đã xuất phát
từ phạm trù thực tiễn để lý giải con người, bản chất con người.
Trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội, dựa trên thê
giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng, triết học Mác xem xét con
người như một chỉnh thể thống nhất của mặt xã hội và mặt sinh học, của bán
chất và tồn tại, trước hết là con người sinh vật, rồi sau đó mới là con người xã
hội. Đó là một thực thể song trừng tự nhiên và xã hội, cái sinh vật kết hợp hữu
CO' với cái xã hội.
Sự vận động và phát triển của con người không thể tách rời quá trình vận
động và phát triển giới tự nhiên. C.Mác đã khẳng định giới tự nhiên là môi
trường tồn tại và phát triển của con người. Trong tác phẩm “Tác dụng của lao
động trong quá trình chuyển biến từ vượn thành người” , Ph.Ảngghen cho
rằng, lao động là nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự chuyển hoá từ vượn thành
người. Lao động sán xuất là tiền đề đầu tiên cho sự tổn tại của con người và
6
lịch sử. Trong quá trình lao động sản xuất với tư cách là chủ thể, con người
không chí tác động vào tự nhiên mà
còn tác động lẫn nhau giữa người với
người trong các mối quan hệ giao tiếp, từ đó hình thành nên các quan hệ xã
hội.
Con người với tư cách cá thể và xã hội của nó, là một chủ thể có ý thức,
của nó bản chất co/ì nẹười ìà íổ/iiỊ ìtoà các mối quan hệ x ã hội” [12,tr. 493] Thấm nhuần quan niệm của C.Mác về bán chất con người, Đảng ta cho
rằng, sự nghiệp đổi mới của chúng ta xuất phát từ con người, lấy con người
làm trung tâm và trở về với con người trong sự phát triển xã hội. Sự phát triển
của lịch sử nhân loại được qui định bởi sự phát triển của LLSX, trong đó nhân
tố người lao động giữ vai trò quap trọng. Đảng ta đã khảng định rằng con
8
người là vốn quí nhất, chăm lo cho hạnh phúc con người là mục tiêu cao nhất
của c h ế độ ta. “ P ln ứ /IIÍỊ hướng IỚII n ia c h ín h sách x ã h ộ i là : p h á t h u y n h â n tô
con người trê n co’ sở đảm hảo cô /iiỊ b ằ iiiỊ, hình đẳ niỊ về n iỊỈiĩa VII và quyên lợ i
câng dân, kết hợp tốt tăng trưởniỊ kinh tứ với tiến bộ xã hội, giữa dời sống vật
chất và dời sốiìiị tình thần, giữa đáp ửinỊ /lìm cầu trước mắt và chăm ìo lợi ích
lâu dài, giữa củ nhân với tập tliể và CỘHÌỊ đồniỊ xã //(}/”,[ 18,tr. 13].CNH, HĐH
phải hướng tới mục tiêu con người bằng cách không ngừng cải thiện và nâng
cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân lao động, kết họp hài hoà giữa
tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội.
Vấn đề con người, nhân tố con người luôn luôn ở vị trí trung tâm của
nhiều hệ thống quan điểm chính trị-xã hội từ trước đến nay. Nhận thức và giải
quyêt đúng đắn vấn đề con người, phát huy nhân tố con người là điều kiện
đảm bảo cho sự phát triển và tiến bộ xã hội.
Nhưng nhăn tố con người là gì? Cấu trúc và nội dung của nó ra sao? Theo
quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin thì nhân tố con người dưới CNXH là
tổng thể những dấu hiệu đặc thù thể hiện vai trò chủ thể của con người trong
hệ thống các quan hệ kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội trong sự nghiệp xây
dụng CNXH. Phạm trù nhân tố con người có hai mặt cá thể và xã hội, có sự
thống nhất giữa số lượng và chất lượng. Nói đến nhân tố con người, cũng có
nghĩa là nói đến tính chất, ý nghĩa của nó như một động lực quan trọng bậc
thực tiễn là cơ sỏ' quyết định mọi đặc trưng và thuộc tính của nó.
Xuất phát từ quan niệm
cỈLiy
vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, việc
phân tích nội dung khái niệm nhân tố con người dựa trên những nguyên tắc
sau:
- Xét nhân tố con người trong tính hiện thực và cụ thể của nó trong
những điều kiện kinh tế-xã hội xác định.
- Nhân tố con người với tư cách là người lao động được giải phóng và là
chủ thể của quá trình cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới. Đồng thời xem
xét con người không chỉ đơn thuần từ góc độ kinh tế như nhu cầu lợi ích vật
chất mà còn tính đến các yếu tố tâm lý, đạo đức, văn hoá v.v... Do đó việc
nhận thức một cách toàn diện những nội dung của quan niệm nhân tố con
người có liên quan đến việc xác định tổng họp các biện pháp thưc tiễn nhằm
nâng cao và phát huy vai trò của nhân tố con người trong quá trình phát triển
kinh tế-xã hội.
10
Phát huy nhân tố con người trong cải tạo XHCN và xây dựng CNXH phải
tính đến đầy đủ những nội dung nói trên, từ đó mà hình thành chiến lược về
con người trong toàn bộ tiến trình cách mạng XHCN. Nhận thức đầy đủ về nội
dung nhân tố con người trong sự nghiệp đổi mới, Đáng ta cho rằng “Nguồ/I
lao động dồi dào, cun người Việt Nam có truyền thống yêu nước cần cù sáng
rạo có nền tániị văn ìitìá iỊÌáo (lục, có kìid Iiă/ÌÍỊ nắm bắt nhanh K H - CN v.v...
lù nguồn lực quan trong u h ấ f \ [ \ l , tr.8]•
Nguồn nhân lục (hay nguồn lực con người)
yếu tố của quá trình sản xuất, một phương tiện để phát triển kinh tế— xã hội.
Nơoài ra lý luận về vốn người còn xem xét con người từ quan điểm nhu cầu về
các nguồn lực của phát triển. Đầu tư cho con người được phAn tích tương tự
như đầu tư vào các nguồn vật chất, có tính đến tổng hiệu quá của đẩu tư này
hoặc thu nhập mà con người và xã hội thu được từ đầu tư đó. Cách tiếp cận
này được áp dụng phổ biến ở hầu hết các nước hiện nay,[48,tr. 138] •
Theo cách tiếp cận trên, Ngân hàng thế giới cho rằng: nguồn nhân lực là
toàn bộ vốn người (thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp v.v...) mà mỗi cá nhân
sỏ' hữu, ở đây nguồn nhân lực được coi như nguồn vốn bên cạnh các loại vốn
vật chất khác như vốn tiền, vốn công nghệ, tài nguyên thiên nhiên. Việc đầu tư
cho con người giữ vị trí trung tâm trong các loại đầu tư và được coi là cơ sở
chắc chắn cho sự phát triển bền vững. Vì vậy, nguồn nhân lực đirợc coi là một
nguồn vốn đặc biệt.
Dựa trên cách tiếp cận này, Liên Hiệp Quốc đưa ra khái niệm nguồn
nhân lực. và cho rằng, nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng và
năng lực của con người có quan hệ tới sự phát triển của đất nước. Đây là yếu
tố được coi là quan trong bậc nhất trong kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội.
Ổ Việt Nam, quan niệm cứa các nhà khoa học về nguồn nhân lực được
thể hiện trong chương trình KHCN cấp Nhà nước “Cơ// người Việt Nơm-mục
tiêu và độ/ig lực của sự phát triển kinh tế-xã hội” mang mã số KX07. Theo đó
nguồn nhân lực được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể
chất, thái độ và phong cách làm việc,[24,tr.328].
- Một hướng tiếp cận khác về nguồn nhăn lực được xem xét trong mối
quan hệ với các nguồn lực khác và nó được xem như nguồn lực cơ bản, quan
trọng, làm động lực cho sự phát triển xã hội: “Thông thường nhũng nguồn lực
làm cơ sở cho chiến lược phái í l iến của một nước có thổ là nguồn lực tự nhiôn
như tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, có thể là cơ sở vật chất kỹ thuật đã
được tạo ra trong các giai đoạn trước đó, có thể là nguồn lực ở bên ngoài tự
“Nguồn lực con người bao lỊồnt cả sức lao độ/iíỊ, trí tuệ vù tinh thần gắn
với truyền thống dân tộc t a \ [29, tr. 1].
Có thể hiểu đầy đủ hơn về nguồn nhân lực thông qua tìm hiểu khái niệm
phát triển nguồn nhân lực. Theo quan niệm của các tác giả Việt Nam thì phát
triển nguồn nhân lực về cơ bản là quá trình làm “ í>
tia tãno giá trị cho con người
trên cúc mặt như đạo cỉửc, trí tuệ, kỹ năng, tâm hồn th ể lực v.v... làm cho con
13
người trở thành những nqười lao động có năng lực, pììẩnt chất mới và cao, đáp
ứng yêu cầu to lớn của sự phát triển kinh tế-xã hội”. [24,tr.285]
T ừ vấn đ ề nê u trcn la c ỏ í he IhAy r ằ ng , n g u ồ n nhAn lực đ ư ợ c đồ c ậ p đ ế n
như một nguồn lực tổng hợp với các yếu tố hợp thành: sức lực và trí tuệ, số
lượng cùng với những đặc trưng về chất lượng lao động như trình độ văn hoá,
kỹ thuật, kinh nghiệm nghề nghiệp, thái độ, phong cách làm việc v.v... trong
đó con người được xem xét với tư cách là một nguồn lực chủ yếu để phát triển
kinh tế-xã hội, là một yếu tố cơ bản của phát triển sản xuất.
Nếu coi nguồn nhân lực là tiềm năng con người nói chung, những tiềm
năng mà con người có thể đóng góp vào sự phát triển kinh tế-xã hội, thì sử
dụng nguồn nhân lực chính là khơi dậy và phát huy những tiềm năng đó. Phát
triển nguồn nhân lực chính là quá trình khơi dạy những tiềm năng của con
người. Quá trình sử dụng, phát triển nguồn nhân lực bao gồm nhiều vấn đề
như giải quyết việc làm, sử dụng và bồi dưỡng lực lượng lao động, phát huy
tiềm năng trí tuệ, phát huy tính sáng tạo, yếu tố dân tộc, tạo ra những kích
thích và động cơ lao động v.v... Trong đó, giải quyết việc làm và sử dụng lao
động chỉ là một nội dung của nó mà thôi.
Tóm lại, nguồn nhân lực có nội hàm rộng lớn và phong phú, nó không
chỉ đon thuần là nguồn lao động mà còn bao gồm nhiều yếu tố vật chất và tinh
Phát triển nguồn nhân lực có liên quan đến giáo dục, đào tạo, sử dụng
những tiềm năng con người và tiến bộ kinh tế - xã hội. Theo UNDP có 5 điểm
“phát sinh năng lượng” của phát triển nguồn nhân lực là: giáo dục, sức khoẻ,
dinh dưỡng, môi trường, việc làm và tự do chính trị —kinh tế. Những điểm
phát sinh năng lượng đó thâm nhập vào nhau và phụ thuộc lẫn nhau. Giáo dục
là cơ sở cho những điểm khác, là nhân tố thiết yếu để cải thiện sức khoẻ và
dinh dưỡng, để duy trì một môi trường có chất lượng cao, để mở rộng và cải
thiện lao động, để duy trì sự đáp ứng về kinh tế và chính trị [28,tr. II].
Tóm lại:
-
Khái niệm nhân tố con người rất rộng nói lên cấu trúc toàn diện tạo nên
con người, khái niệm nhân tố con người “tĩnh” hơn so với khái niệm nguồn
lực con người. Nói tới nguồn lực con người là nói đến tính “động” của yếu tố
con người, là mặt hoạt động của nhân tố con người, như là lực lượng tham gia
vào quá trình xã hội, tác động đến các nguồn lực khác và cùng với các nguồn
lực: tài nguyên, điều kiện tự nhiên, thành tựu KHCN, nguồn đầu tư nước ngoài
15
v.v... tạo nên nguồn lực chung của xã hội. Nguồn lực con người giữ vai trò
quyết định và chi phối các nguồn lực khác.
-
Về mặt ngoại diên thì khái niệm nguồn lực con người rộng hơn khái
niệm nhăn tố con người, bởi vì, nó còn bao gồm cả những con người chưa
bước vào quá trình sán xuất xã hội. Nhân tố con người là những chủ thể người
đã bước vào quá trình sản xuất, hoạt động xã hội.
Con người một mặt là sản phẩm của tự nhiên, mặt khác là chủ thể cải tạo
tự nhiên, biến đổi tự nhiên. Sự tác động của con người vào tự nhiên theo hai
hướng, đụng qui luật thì tự nhiên ngày càng phong phú, tạo điều kiện thuận lợi
cho sản xuất và đời sống của con người (đắp đê, ngăn sông, lấn biển, lợi dụng
sức nước, sức gió v.v...), không đúng qui luật tự nhiên, thì sẽ làm tự nhiên
ngày càng nghèo đi, cân bằng sinh thái bị phá vỡ, đe doạ sự sống của con
người (phá rừng, ô nhiễm mỏi trường, săn bắt thú bừa bãi, sử dụng chất độc
hại v.v...).
Trong quá trình lao động, con người không những có quan hệ với tự
nhiên, mà còn có quan hệ với nhau. Xã hội chảng qua chỉ là sản phẩm của
quan hệ giữa người và người. Trong những quan hệ đó thì QHSX là cái quyết
định, chi phối những quan hệ khác (chính trị, đạo đức v.v...). QHSX này lại
phụ thuộc vàò sự phát triển của LLSX. Mỗi khi LLSX phát triển sẽ kéo theo sự
phát triển của QHSX và đi kèm với nó là sự phát triển tiến bộ của các quan hệ
chính trị, đạo đức pháp luật v.v... ngày càng hoàn thiện hơn qua các thời kì
lịch sử.
Hai /ờ, con người với trí tuệ của mình và sức mạnh cải tạo tự nhiên, xã
hội, cải tạo chính bản thân con người, là nguồn lực không bao giờ cạn kiệt, có
khả năng phục hổi và tự tái sinh ra chính nó, phát huy và tạo ra nguồn lực
khác. Tính vô hạn của trí tuệ con người biểu hiện ở chỗ nó có khả năng không
chỉ tự tái sinh về mặt sinh học mà còn tự đổi mới không ngìmg, phát triển về
chất. Nếu chăm sóc, bồi dưỡng và khai thác nguồn lực con người một cách
hợp lí có hiệu quả bởi tri thức của con người “có tính lấy không bao giờ hết”.
Chính vì vậy mà con người là nguồn lực quí nhất, quyết định nhất “nguồn lực
của mọi nguồn lực”.
Ba là, nguồn lực con người với tư cách là mục đích của sản xuất là đối
tượng phục vụ cua sán xuất với mong muốn nâng cao chất lượng cuộc sống.
Trong mọi phương thức sán xuất xã hội, sản xuất cái gì, sản xuất như thế
nào? và sản xuất cho ai? Suy cho cùng đều phục vụ nhu cầu của con người. Vì
kinh tê. Hơn thế nữa GD-ĐT là con đường và giải pháp cơ bản để phát huy
nhân tố con người.
Theo quan điểm triết học, GD-ĐT là những hiện tượng đặc biệt chỉ có
trong xã hội loài người, ở đâu có con người thì ở đó có giáo dục. Khi nào loài
người còn tồn tại, thì chừng đó còn GD-ĐT.
GD-ĐT đều có chung đối tượng là con người và chung bản chất là sự
định hướng của thế hệ trước đối với sự phát triển của thế hệ sau. Chúng đều là
con đường ngắn nhất, nhanh nhất bằng kinh nghiệm hiểu biết của thế hệ tnrớc
dẫn dắt thê hệ sau phát triển bỏ qua những mò mẫm không cần thiết trong
cuộc đời. GD-ĐT đều nhầm vào mục tiêu chung là nâng cao dân trí, đào tạo
nhân lực,bồi dưỡng nhàn tài.
I
$
y-u/iso
1
18
GD-ĐT tạo ra cơ cấu ngành nghề, cơ cấu trình độ, giúp cho những người
học có tính cơ động cao dễ thích nghi với những chuyển biến của kinh tế thị
trường, thị trường sức lao động.
Thứ hai, Hoạt động thực tiễn:
Đây là hoạt động bản chất của con người, nhờ nó mà con người cải tạo
thế giới theo nhu cầu của mình. Đcặc biệt là hoạt động sản xuất vật chất mà
con người biến đổi tự nhiên xã hội đổng thời biến đổi ban thân. Điểu kiện
quyết định cho sự hình thành con người là lao động. Lao động xuất hiện đánh
dấu sự chuyển biến từ tổ tiên động vật thành con người. Trong lao động con
người thường xuyên làm biến đổi những điều kiện tồn tại của mình, cải tạo
chúng cho phù họp với nhu cẩu, xây dựng nên thế giới văn hoá vật chất và tinh
hội một cách dân chủ, năng động đối với con người. Một cơ chế dân chủ có
tác động phát huy tính tích cực chính trị-xã hội của công dân, lôi cuốn họ
tham gia đông đáo tự giác vào công cuộc quản lý xã hội, quản lý nhà nước.
Thứ tư, việc sử dụng lao động:
Sử dụng là một khâu rất quan trọng để phát huy tiềm năng tri thức và kỹ
năng của người lao động đã được đào tạo. Sử dụng đúng ngành nghề và trình
độ thì họ sẽ phát huy được tài năng trí tuệ, tay nghề và ra sức phấn đấu vươn
lên về mọi mặt, ngược lại, sẽ hạn chế
Việc tạo ra mồi trường phấn đấu cho người lao động cũng vô cùng quan
trọng. Môi trường phù hợp thì người lao động phát triển nhanh chóng, môi
trường không thuận lợi thì phát triển khó khăn, môi trường xấu thì có khi bị
thui chột và phải đào tạo lại.
Thử năm, Khoa học công nghệ:
Cuộc CM KHCN đã làm thay đổi về chất LLSX. Cơ cấu kinh tế và cơ cấu
ngành nghề thường xuyên biến đổi. Nhiều ngành cũ mất đi, nhiều ngành mới
xuất hiện. Việc đổi nghề, chuyển nghề diễn ra thường xuyên hơn trước đây.
Trình độ của cuộc CM KHCN ngày càng cao, đòi hỏi trình độ tay nghề của
người công nhân ngày càng cao, trình độ tri thức của các nhà trí thức ngày
càng uyên thâm. Việc đào tạo nguồn nhân lực phải đáp ứng yêu cầu trên.
Như vậy, chúng ta có thể thấy, cuộc CM KHCN vừa tạo điều kiện nâng
cao năng lực người lao động, vừa dật ra yêu CÀU cao với ngirừi lao động bởi
vì, KHCN thường xuyên thay đổi thì người lao động cũng phái thường xuyên
thay đổi theo.
Thứ sáu, truyền thống đftn tộc:
20
Sức mạnh của con người Việt Nam đi vào CNH,HĐH không chỉ dựa vào
các giá trị của hiện tại, mà còn dựa vào các giá trị truyền thống của một dân
nay
* Tính tất yếu của CNH, HĐH:
21
CNH, HĐH là một quá trình tất yếu mà mỗi dân tộc không sớm thì muộn
cũnơ phải trải qua. Cách đây hơn 200 năm, nước Anh đã mở đầu quá trình này
trên thế giới, từ đó ỏ' những thời điểm khác nhau, hoàn cảnh khác nhau với
nhịp điệu và tốc độ khác nhau nhiều nước trên địa cầu đã hoàn thành CNH để
trở thành những nước phát triển.
Tuy có sự khác nhau vồ mổ hình, độ dài thời gian thực hiện, nội dung cụ
thể, các bước đi và phương cách liên hành, nhưng XỔI vồ mặt thực chất, CNH ở
các nước đều là quá trình chuyển từ một kiểu kinh tế chủ yếu dựa vào nông
nghiệp năng suất lao động thấp, tăng trưởng kinh tế chậm sang một kiểu kinh
tế cơ bản dựa vào công nghiệp có năng suất lao động và tăng trưởng kinh tế
cao.
Đối với nước ta hiện nay, CNH không chỉ là tất yếu lịch sử mà còn là vấn
đề cấp bách. Bởi vì, sau mấy chục năm thực hiện đường lối CNH, thực hiện
cải tạo và xây dựng CNXH nước ta vẫn còn là một trong những nước nghèo
nhất thế giói, vẫn là một nước nông nghiệp chậm phát triển, v ẫ n biết là một
nước nông nghiệp chậm phát triển thì nông nghiệp là vô cùng quan trọng,
nhưng nếu không đẩy mạnh CNH thì bản thân nông nghiệp không thể phát
triển thành nền nông nghiệp sán xuất hàng hoá lớn và đất nước cũng không
thể thoát khỏi vị thế yếu kém và phụ thuộc của một nước nghèo. Đã nghèo thì
không thể đủ mạnh để giữ vững chủ quyền quốc gia, giữ vững định hướng
XHCN trong bối cảnh thế giói mới và do đó, cũng không đem lại mức sống
cao và hạnh phúc cho nhân dân. CNH là con đường duy nhất tất yếu phải đi
qua để đấr nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu và nguy cơ tụt hậu xa hơn so với
các nước trong khu vực, giũ' vững ổn định chính trị-xã hội. Từ một nước nông
nghiệp lạc hậu đi lên CNH, Đáng ta luôn xác định CNH là nhiệm vụ trung tâm
nghiệp hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu làm trọng tâm. Phát triển công
nghiệp nặng phải trên cơ sở phát triển các lĩnh vực đó. CNH, HĐH, KHCN
được coi là nền táng của CNH, là yếu tố có ý nghĩa quyết định để chuyển lao
động thủ công lên lao động sử dụng kỹ thuật tiên tiến hiện đại.
Xuất phát từ kết quả hơn 15 năm đổi mới với những tiền đề đã được tạo
ra, Đảng ta nhận định rằng nước ta đã chuyển sang thời kỳ phát triển mới, thời
kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước vừa là
nhiệm vụ trung tâm lâu dài trong suốt thời kỳ quá độ, vừa là nhiệm vụ cấp
bách trước mắt. Ngày nay, CNH phải gắn với HĐH, với việc sử dụng rộng rãi
những thành tựu KHCN tiên liến của thời đại. CNH, HĐH được xác định là
quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện của các hocỊt động s ả n xuất kinh