ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
---------------------------
ĐOÀN VĂN THUYÊN
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA THỜI VỤ GIEO HẠT ĐẾN
KHẢ NĂNG NẨY MẦM VÀ CHẤT LƢỢNG CÂY GIỐNG SƠN ĐẬU
TRONG GIAI ĐOẠN VƢỜN ƢƠM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành
: Khoa học cây trồng
Khoa
: Nông học
Khóa học
: 2011 – 2015
Thái Nguyên - năm 2015
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình, em đã nhận đƣợc sự quan
tâm của nhiều tập thể và cá nhân. Em xin tỏ lòng biết ơn và kính trọng tới Ban
giám hiệu Trƣờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và tập thể các thầy giáo, cô
giáo Khoa Nông học , đã tạo điều kiện thuận lợi và nhiệt tình giúp đỡ em trong
quá trình học tập và thực hiện đề tài tốt nghiệp.
Khóa luận đƣợc hoàn thành là nhờ sự quan tâm giúp đỡ của các đơn vị
,cơ quan và nhà trƣờng. Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
tới thầy giáo TS. Nguyễn Minh Tuấn đã tận tình chỉ bảo, hƣớng dẫn và
giúp đỡ em vƣợt qua khó khăn để hoàn thành luận văn tốt nghiệp. Em xin
chân thành cám ơn sự giúp đỡ của Hạt kiểm lâm phia đén đã tạo điều kiện
giúp đỡ trong quá trình nghiên cứu đề tài
Em cũng chân thành cảm ơn bạn bè và gia đình đã luôn động viên giúp
đỡ em về tinh thần, vật chất trong quá trình học tập và thời gian thực hiện
luận văn tốt nghiệp cuối khóa học.
Thái Nguyên, ngày 28 tháng 5 năm 2015
Sinh viên thực hiện
Đoàn Văn Thuyên
ii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1: Ảnh hƣởng của thời vụ gieo hạt đến thời gian nẩy mầm
của Sơn Đậu .................................................................................................... 25
Hình 4.2: Ảnh hƣởng của loại hạt giống (hạt tƣơi, hạt khô) đến độ
nảy mầm của Sơn Đậu .................................................................................... 26
Hình 4.3: Ảnh hƣởng của thời vụ gieo hạt đến số cành lá trên
cây trong giai đoạn vƣờn ƣơm ........................................................................ 26
VBTCT
: Vƣờn bảo tồn cây thuốc
iv
MỤC LỤC
Phần 1. ĐẶT VẤN ĐỀ ................................................................................... 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................ 1
1.2. Mục đích và yêu cầu của đề tài ................................................................ 3
1.2.1. Mục đích của đề tài............................................................................... 3
1.2.2 Yêu cầu của đề tài ................................................................................. 3
1.3 Ý nghĩa của đề tài ..................................................................................... 3
Phần 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU .................................................................. 4
2.1 Nguồn gốc,đặc điểm thực vật học và yêu cầu sinh thái của cây sơn đậu ........... 4
2.1.1 Nguồn gốc của cây sơn đậu ................................................................... 4
2.1.2 Phân bố của cây sơn đậu ........................................................................ 4
2.1.3 Đặc điểm sinh vật học của cây sơn đậu.................................................. 5
2.1.4 Yêu cầu sinh thái của cây sơn đậu ......................................................... 6
2.1.5 Yêu cầu dinh dƣỡng của cây sơn đậu ..................................................... 6
2.1.6 Phòng trừ sâu bệnh hại .......................................................................... 7
2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ Sơn đậu trên thế giới và Việt Nam ............ 8
2.2.1. Tình hình nghiên cứu về cây thuốc trong nƣớc ..................................... 8
2.2.2. Tình hình sản xuất và sử dụng Sơn Đậu ở Việt Nam .......................... 14
2.2.3Các nghiên cứu về cây Sơn đậu làm dƣợc liệu...................................... 16
2.2.4 Tình hình nghiên cứu dƣợc liệu tại cao bằng ....................................... 19
2.2.5 Tình hình nghiên cứu dƣợc liệu tại Nguyên bình ................................. 20
Phần 3. NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ......................... 22
3.1. Vật liệu nghiên cứu: .............................................................................. 22
1
Phần 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), ngày nay có khoảng
80% dân số ở các nƣớc đang phát triển với số dân khoảng 3,5 - 4 tỉ ngƣời có
nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ban đầu phụ thuộc vào các nền y học cổ truyền .
Khoảng 85% trong số này sử dụng dƣợc liệu hoặc các chất chiết suất từ dƣợc
liệu, nhất là từ thực vật có hoa. Tuy nhiên, vấn đề tồn tại chính là chất lƣợng
của dƣợc liệu không ổn định, ảnh hƣởng đến tính an toàn và hiệu lực của
thuốc cây cỏ. Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến điều này là do
việc tạo nguồn dƣợc liệu không đạt tiêu chuẩn, bao gồm các yếu tố bên trong
(nguồn gen) và bên ngoài (môi trƣờng, trồng trọt, thu hái, chế biến sau thu
hoạch, vận chuyển, tồn trữ).
Việt Nam có nguồn tài nguyên dƣợc liệu đa dạng phong phú,tuy nhiên,
nguồn tài nguyên dƣợc liệu tự nhiên đang ngày một cạn kiệt, nhiều loài đang
đứng trƣớc nguy cơ tuyệt chủng, cây dƣợc liệu nuôi trồng đang bị thu hẹp
hoặc phát triển một cách tự phát mất cân đối. Sự giảm sút nguồn dƣợc liệu có
nhiều nguyên nhân, có thể chủ quan lẫn khách quan nhƣ chiến tranh, sự khai
thác tràn lan, trình độ nhận thức con ngƣời còn hạn chế nhất là tại vùng miền
núi nơi có nhiều tài nguyên sinh vật... Hơn nữa trƣớc yêu cầu của phát triển
kinh tế, xã hội đời sống chúng ta đang phải đối mặt mâu thuẫn giữa cung và
cầu, bảo tồn và khai thác sử dụng nguồn tài nguyên quý giá này.
Khai thác, bảo vệ và phát triển tài nguyên sinh vật nói chung và nguồn
cây dƣợc liệu nói riêng đang là vấn đề cấp bách đƣợc đặt lên hàng đầu. Bởi vì
bảo vệ tài nguyên sinh vật là chúng ta đang bảo vệ sự cân bằng sinh thái, bảo
vệ sự đa dạng sinh học và môi trƣờng, bảo vệ chính chúng ta về sức khỏe,
tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ gieo hạt đến khả năng nẩy mầm và
chất lượng cây giống Sơn Đậu trong giai đoạn vườn ươm”.
1.2. Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.1. Mục đích của đề tài
- Xác định đƣợc thời vụ gieo hạt thích hợp nhất đến khả năng nẩy mầm
và chất lƣợng cây giống trong vƣờn ƣơm
1.2.2 Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá đƣợc ảnh hƣởng của thời vụ gieo hạt đến thời gian nảy mầm
và tỷ lệ nảy mầm
- Đánh giá đƣợc ảnh hƣởng của thời vụ gieo hạt đến động thái tăng
trƣởng chiều cao cây, số lá trên cây trong giai đoạn vƣờn ƣơm
- Đánh giá đƣợc ảnh hƣởng của thời vụ gieo hạt đến đặc điểm nông
sinh học
- Đánh giá đƣợc ảnh hƣởng của thời vụ gieo hạt đến tiêu chuẩn cây
xuất vƣờn
1.3 Ý nghĩa của đề tài
+Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học:
+ Ý nghĩa trong học tập: Giúp sinh viên củng cố kiến thức đồng thời
biết vận dụng những kiến thức đã học đƣợc vào thực tế. Biết cách thực hiện
một khoá luận tốt nghiệp, có thêm kiến thức và kinh nghiệm sản xuất.
+ Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học: Giúp sinh viên tiếp cận với công
tác nghiên cứu khoa học, nâng cao trình độ chuyên môn đồng thời tạo cho
mình tác phong làm việc đúng đắn, nghiêm túc, sáng tạo đúc rút đƣợc những
kinh nghiệm thực tế.
+ Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất: Qua kết quả nghiên cứu xác định
đƣợc thời vụ gieo trồng thích hợp nhất nhằm nâng cao năng suất, chất lƣợng
cây giống
Trƣớc năm 1950, Sophora tonkinensis đƣợc phân bố ở 21 quận của tỉnh
Quảng Tây – Trung Quốc. Nhƣng sau đó, các nguồn tài nguyên Sophora
tonkinensis hoang dã giảm nhanh chóng do sự gia tăng của việc khai thác để
sử dụng làm thuốc và xuất khẩu. Cho nên, trong những năm của thập niên
1980, Sophora tonkinensis hoang dã chỉ còn ở 10 quận và đến năm 2002 chỉ
còn ở 4 quận của tỉnh Quảng Tây. Đây cũng chính là nguyên nhân làm cho
giá của Sơn Đậu tăng nhanh. Năm 2002, 1 kg Sơn Đậu C (Sophora
tonkinensis) tƣơi có giá 4 – 5 nhân dân tệ (khoảng 0,63 USD/1kg tƣơi); đến
năm 2013 giá là 80 nhân dân tệ (khoảng 12,6 USD/kg) .Trƣớc thực tế đó, để
đáp ứng nguồn nguyên liệu dƣợc Sơn Đậu trong nƣớc và xuất khẩu, chính
phủ Trung Quốc đã và đang có nhiều chính sách khuyến khích trồng Sơn Đậu
với quy mô lớn. Nhƣng vấn đề này hiện nay vẫn đang gặp khó khăn do
thiếu hụt nghiêm trọng nguồn cây giống
Là loài quý hiếm , có tên trong sách đỏ Việt Nam. Phân bố ở Việt Nam:
Hà Giang( Mèo Vạc, Yên Minh, Quảng Bạ); Quảng Ninh( các đảo thuộc Vịnh
Hạ Long); Ninh Bình( Nho quan); Đà Nẵng(Sơn trà)… Ở Trung Quốc phân
bố địa lí của cây Sơn đậu chủ yếu ở các tỉnh Quảng tây (từ Tây nam sang Tây
bắc), tỉnh Quý Châu và vùng Đông nam của tỉnh Vân nam, các khu vực có vị
trí 22°21'~26°6' độ vĩ Bắc, 103°20'~108°45' độ kinh Đông.
2.1.3 Đặc điểm sinh vật học của cây sơn đậu
-Sơn đậu thuộc loại cây bụi, mọc thẳng đứng hoặc nằm sát mặt đất. Cao
1-2m, thân hình trụ có lông mềm. Bộ rễ có từ 2-5 rễ nhỏ, hình trụ, màu vàng
nâu, dài 30-40cm (có trƣờng hợp đạt 80-100cm). Lá kép lông chim lẻ , mỗi lá
6
kép có từ 9-15 lá chét mọc đối. Lá chét dầy, thuôn hay hình bầu dục dài 3-4
cm, rộng 1-2 cm, mặt trên nhẵn và óng ánh, mặt dƣới có lông. Cụm hoa mọc
thành chùm ở nách lá, dài 12-15cm, hoa cánh bƣớm màu vàng trắng, đài hoa
Hiện nay trên cây Sơn đậu đã phát hiện ra 2 loại bệnh do vi khuẩn gây
ra : Bệnh thối rễ (Root rot) và bệnh Sclerotium rolfsii.
- Bệnh thối rễ nguyên nhân là do vi khuẩn xâm nhập vào bộ rễ gây ra
thối, làm cho nƣớc và chất dinh dƣỡng không vận chuyển đƣợc từ đó dẫn đến
bộ phận trên mặt đất bị héo và chết. Bệnh gây hại cả năm nhƣng hại nghiêm
trọng nhất là vào mùa hè và mùa thu. Thời kỳ đầu của bệnh có thể sử dụng
thuốc Chlorothalonil pha loãng với nƣớc 500 lần rồi tƣới vào gốc.
- Bệnh Sclerotium rolfsii gây hại cả thân và bộ rễ của cây, khiến cho tại
vết bệnh của bộ phận bị hại chuyển sang màu nâu, sau đó sẽ bị thối. Bệnh
phát sinh trong điều kiện nhiệt độ và độ ẩm đều cao. Thời kỳ đầu của bệnh có
thể sử dụng Carbendazim pha loãng với nƣớc 800 lần rồi tƣới vào gốc hoặc
phun dƣới dạng sƣơng mù.
-Sâu hại Sơn đậu có 4 loại chính: Sâu bore hại thân cành, sâu bore hại
quả, nhện đỏ và côn trùng cánh cứng
- Sâu bore hại thân cành: sâu non (ấu trùng) đục thân và cành tạo thành
khoảng trống trong thân (làm thân rỗng), Kết quả là làm bộ phận trên mặt đất
bị khô và chết do quá trình vận chuyển nƣớc và vật chất trong thân bị ngăn
cản. Trên bề mặt nơi bị bệnh tấn công sẽ thấy có vệt kéo dài màu trắng. Phòng
trừ bệnh này bằng cách là bắt ấu trùng tuổi nhỏ và trứng của chúng ( thƣờng
tiến hành vào tháng 4-6) hoặc dùng thuốc Lorsban pha loãng nƣớc 800 lần
phun dƣới dạng sƣơng mù hoặc tƣới trực tiếp.
8
- Sâu bore hại quả: bệnh này hại vào thời kỳ hoa quả. Cách phòng trừ
tƣơng tự nhƣ đối với sâu bore hại thân cành.
- Nhện đỏ: đặc điểm là chúng gây hại gần nhƣ cả năm, chúng tập chung
chủ yếu ở phía sau mặt lá và gây hại bằng cách chích hút. Hậu quả là làm cho
mặt trên của lá xuất hiện các đốm trắng (chuyển từ màu xanh lục sang màu
điều trị viêm xoang; nghiên cứu thuốc chữa u xơ tuyến tiền liệt từ Náng hoa
trắng (Crinum asiaticum), thuốc hỗ trợ điều trị ung thƣ từ nấm Cổ linh chi
(Ganoderma applanatum); thuốc điều trị thƣơng hàn và lị trực khuẩn Geravina
từ Lão quan thảo (Genanium nepalense var. thunbergiii); thuốc điều trị thiểu
năng tuần hoàn não Ligustan từ Xuyên khung (Ligusticum wallichii), Đƣơng
qui (Angeliaca sinensis) và Hy thiêm (Siegesbeckia orientalis); Abivina từ Bồ
bồ của Viện Dƣợc liệu; Kim tiền thảo của Công ty OPC; …
Đã có hàng nghìn sản phẩm là thực phẩm chức năng đƣợc nghiên cứu
và sản xuất đáp ứng nhu cầu thị trƣờng có nguồn gốc dƣợc liệu dƣới dạng chè
nhúng, chè tan,… nhƣ : Giảo cổ lam, Diệp hạ châu, Nhàu, Actiso, bột Nghệ,
hoa Cúc, Tam thất, Hà thủ ô, Tỏi, Gừng, Mƣớp đắng, …
Cùng với việc điều tra về thành phần loài, kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của
các cộng đồng thiểu số; nghiên cứu sàng lọc các bài thuốc dân tộc để ứng
dụng rộng rãi góp phần chăm sóc sức khỏe cộng đồng và phát triển kinh tế
xây dựng đƣợc chú trọng nghiên cứu trong những năm gần đây. Từ kinh
nghiệm truyền thống của dân tộc Tày, nhóm nghiên cứu Đại học Dƣợc Hà
Nội đã sản xuất thành công thuốc chữa đau dạ dày từ cây chè dây
(Ampenopsis cantoniensis). Viện Hóa học các hợp chất Thiên nhiên sản xuất
thành công thuốc chữa viêm loét dạ dày từ củ Nghệ vàng (Curcuma longa)
dựa trên cơ sở bài thuốc dân gian. Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã
đƣa vào thử nghiệm lâm sàng bài thuốc chữa phì đại tuyến tiền liệt TLC-02,
đƣợc phát triển từ bài thuốc dân tộc đang đƣợc đánh giá và nghiên cứu thực
10
nghiệm ở nhiều cơ quan nghiên cứu; nghiên cứu hoạt chất ức chế ung thƣ của
dịch chiết từ cây Ngái (Ficus hispida) tại Đại học Khoa học tự nhiên; nghiên
cứu các bài thuốc dân tộc chữa sỏi thận, viên gan tại Viện Y học cổ truyền
trung ƣơng,..v.v Có thể nhận thấy, nghiên cứu cây thuốc dân tộc không chỉ
Tuy nhiên, trong số 30 dƣợc liệu có nhu cầu lớn để sản xuất thuốc có
nhiều dƣợc liệu trong nƣớc có thể tự túc đƣợc, không phải phụ thuộc vào
nguồn nhập khẩu nhƣ: Actisô, Đinh lăng, Biển súc, Kim tiền thảo, Diệp hạ
châu, Hy thiêm, Ích mẫu, Trần bì, Húng Chanh,Mật ong, Thảo quyết minh,
Hƣơng phụ, Nhân trần, Chè dây, ….
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) có khoảng 80% dân số tại các quốc
gia đang phát triển, ít nhiều có liên quan đến y học cổ truyền hoặc thuốc từ
dƣợc thảo truyền thống để bảo vệ sức khoẻ và dự báo nhu cầu sử dụng dƣợc
liệu để sản xuất thuốc trong các năm tới sẽ tiếp tục tăng.
Số lƣợng thực vật bậc cao có mạch đã thống kê đƣợc ở nƣớc ta khoảng
10.500 loài, dự đoán khoảng 12.000 loài. Trong đó các loài cây đƣợc sử dụng
làm thuốc khoảng trên 3900 loài thuộc 307 họ thực vật. Nền y học cổ truyền
Việt Nam có lịch sử phát triển từ rất lâu đời. Cộng đồng các dân tộc Việt Nam
có nhiều kinh nghiệm độc đáo trong việc sử dụng các loài cây cỏ để làm
thuốc. Từ xa xƣa, ông cha ta đã biết sử dụng các loài cây thuốc sẵn có trong
tự nhiên với các phƣơng pháp bào chế khác nhau để sử dụng chữa bệnh cho
mọi ngƣời. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, từ thế hệ trƣớc truyền cho thế hệ
sau đã đúc kết đƣợc các kinh nghiệm từ thực tiễn lâm sàng, xây dựng nên lý
luận về các phƣơng pháp phòng và chữa bệnh. Đồng thời còn dựa vào hệ
thống Triết học phƣơng Đông, vận dụng vào y học để chữa bệnh phù hợp với
điều kiện và hoàn cảnh của con ngƣời Việt Nam.
12
Điều 49, chƣơng III, Hiến pháp nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam (1992) đã nêu rõ “ Phát triển và hoàn thiện hệ thống bảo vệ sức khỏe cho
ngƣời dân trên cơ sở kết hợp y học, dƣợc học hiện đại với y học cổ truyền”.
Ngày 4/11/1955, Bộ Y tế có công văn 9126 YD/PBCB hƣớng dẫn các
địa phƣơng khai thác và sử dụng các loại thuốc Nam để chữa bệnh trong nhân dân.
Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên đã phát hiện 56 họ, 107 chi, 135 loài
và phân loại đƣợc 13 nhóm cây thuốc. Trong đó có 28 cây thuốc thông tiểu,
thông mật; 27 cây thuốc chữa tê thấp; 22 cây thuốc chữa bệnh tiêu hóa; 21
cây thuốc chữa ho hen; 16 cây thuốc có tác dụng cầm máu; 17 cây thuốc có
tác dụng giải độc; 16 cây thuốc chữa cảm sốt; 14 cây thuốc chữa mụn nhọt,
mẩn ngứa; 9 cây thuốc chữa bệnh dạ dày; 6 cây thuốc trị giun sán; 3 cây thuốc
giúp hạ huyết áp; 3 cây thuốc chữa bệnh về mắt và 2 cây thuốc có tác dụng
chữa ung thƣ.
Báo cáo khoa học “Tài nguyên cây thuốc ở Sơn La và kết quả nghiên
cứu trồng thử nghiệm một số cây thuốc có giá trị tại Chiềng Sinh, thị xã Sơn
La”, Viê ̣n sinh thái và tài nguyên sinh vâ ̣t, đã công bố 500 loài cây thuốc ở
Tây Bắc. Riêng Sơn La có 70 họ, 109 chi và 249 loài cây thuốc. Trong đó:
nhóm cây 2 lá mầm gồm 54 họ, 159 chi và 203 loài; nhóm cây 1 lá mầm gồm
10 họ, 27 chi và 31 loài; Nhóm cây hạt trần gồm 2 họ, 2 chi và 2 loài; nhóm
thông đất gồm 1 họ, 1 chi và 1 loài; Nhóm dƣơng xỉ gồm 3 họ, 9 chi và 12
loài.
Năm 2005, Bộ Y tế, Vụ y học cổ truyền biên soạn cuốn sách “Cây hoa
cây thuốc”, hƣớng dẫn cách sử dụng 29 loài cây hoa cây cảnh có tác dụng
chữa bệnh thông thƣờng. cuốn sách sau khi xuất bản đã đƣợc đông đảo cán bộ
và nhân dân tìm đọc, trở thành nhu cầu cần thiết đối với cộng đồng.
14
Cùng với các công trình nghiên cứu về đặc điểm, công dụng của các
loại cây thuốc trong tự nhiên. Để cây thuốc sử dụng rộng rãi, trở thành sản
phẩm hàng hóa, đồng thời bảo vệ các nguồn gen cây thuốc ngoài tự nhiên
đang bị cạn kiệt dần. Các cơ sở nghiên cứu và các nhà khoa học đã nghiên
cứu biện pháp kỹ thuật gây trồng các loài cây thuốc.
Ngày 22/3/2005, tại Quyết định số 765/2005/QĐ-BYT, Bộ trƣởng Bộ
thuốc đông dƣợc khác .
Trong khối công nghiệp dƣợc, cả nƣớc có 286 cơ sở sản xuất dƣợc liệu
1.294 loại dƣợc phẩm đƣợc sản xuất từ nguyên liệu thực vật và chất chiết xuất
từ thực vật,chiếm 23% số loại dƣợc phẩm đƣợc phép sản xuất và lƣu hành từ
năm 1995 -2000,sử dụng 435 loài cot .Nhu cầu dƣợc liệu cho khối công
nghiệp dƣợc khoảng 20.000 tấn và cho xuất khẩu khoảng 10.000 tấn/năm.
* Bộ phận dùng và thành phần hóa học: Bộ phận dùng là rễ. Rễ cây có
vị đắng, tính hàn. Rễ có thành phần hóa học của rễ Sơn đậu chủ yếu là matrin
và oxymatrin.
* Tác dụng dƣợc lý: Rễ cây Sơn Đậu có chứa matrin, oxymatrin, nên
nó có tác dụng làm ổn định màng tế bào khi màng tế bào bị kích thích quá
mức, ví dụ trong động kinh, hen phế quản, các dạng ung thƣ, các bệnh tự
miễn, tắc nghẽn phổi mạn tính, khí thũng phế nang, suy giảm thính lực, nhức
nửa đầu, khó ngủ, loạn trƣơng lực cơ v.v…
* Công dụng và liều dùng: Sơn Đậu đƣợc dùng để trị phát nóng, ho đau
cổ họng, trị hoàng đản cấp tính, sát trùng. Ngày dùng 6 – 12g dạng thuốc sắc
hay thuốc bột.
16
Theo Trung Y: Lấy rễ khô ngâm nƣớc 4 - 5 ngày, rửa sạch, bỏ hết tạp
chất, rễ nhỏ cắt khúc, rễ to chẻ đôi, ủ độ 4 - 5 ngày cho mềm, thái lát mỏng 1 2 ly phơi khô. Rễ to, nhỏ trộn lẫn với nhau mà dùng.
Theo kinh nghiệm Việt Nam: Rửa sạch, ủ mềm 4 - 5 ngày, thái lát
mỏng 1 - 2 ly. Còn có thể ngậm vào miệng hoặc mài ra uống.
* Các sản phẩm có thành phần Sơn Đậu đã và đang lƣu hành trên thị
trƣờng Việt Nam:
- OP.Cel, sản phẩm của Mylipha Group.
Công dụng: TPCN phòng bệnh, tăng cƣờng chức năng gan, giải độc
gan, tăng sức đề kháng, năng lƣợng của tế bào để hỗ trợ quá trình làm giảm
độc, tiêu thũng, giảm đau.
Chủ trị: trị phát nóng, ho đau cổ họng, trị hoàng đản cấp tính, sát trùng.
Liều dùng: Ngày dùng 6 – 12g.
Công dụng:
Ở Thái Lan và Việt Nam, nƣớc sắc lá dùng uống để làm cho dễ sinh đẻ.
Ở Malaixia, ngƣời ta dùng hạt có vị đắng làm thuốc trị các bệnh về
ngực và nhƣ là thuốc chống độc và bổ.
Ở Inđônêxia, cây đƣợc dùng làm thuốc diệt côn trùng.
Ở Vân Nam (Trung Quốc), rễ đƣợc dùng trị viêm ruột, ỉa chảy, đầy
bụng, đau dạ dày, đau hầu họng.
Kiêng kị: Tỳ Vị hƣ hàn, đại tiện lỏng thì không nên dung
18
- Sơn đậu còn dung chữa trị 1 số bệnh nhƣ: Trị viêm amidan cấp tính,
Trị viêm amidan mạn tính, Trị viêm amidan, viêm họng sƣng thũng, sốt cao,
nuốt đau, Trị viêm họng cấp, đau họng, Trị sƣng lợi răng
* Các bài thuốc đông y có thành phần Sơn Đậu:
- Thuốc uống trong để trị bệnh Sùi Mào Gà:
Bài 1: Dã cúc hoa 30g, thổ phục linh 30g, kim ngân hoa 10g, cam thảo
10g, bản lam căn 10g, sơn đậu 10g, xạ can 10g, liên kiều 10g, hoàng cầm 10g,
chi tử 10g, hoàng bá 10g, thƣơng truật 10g, sơn từ cô 5g, sắc uống mỗi ngày 1
tháng.
+ Thuốc bôi ngoài để trị bệnh Sùi Mào Gà:
Bài 1: Mãxỉ hiện 45g, bản lam căn 30g, sơn đậu 30g, khổ sâm 30g,
hoàng bá 20g, mộc tặc thảo 15g, bạch chỉ 10g, đào nhân 10g, lộ phong phòng
10g, cam thảo sống 10g, tế tân 10g, sắc đặc lấy nƣớc thấm vào gạc đắp lên
vùng tổn thƣơng mỗi ngày 1 lần, mỗi lần 15 phút .
Bài 2: Khổ sâm 50g, đậu căn 20g, đào nhân 15g, đan bì 12g, tam lăng