ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-------------------
DƢƠNG HẢI ĐƢỜNG
TÊN ĐỀ TÀI:
“NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƢỞNG VÀ PHÁT TRIỂN
CỦA MỘT SỐ GIỐNG ĐẬU XANH
TẠI TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành/ngành
: Khoa học cây trồng
Khoa
: Nông học
Khóa học
: 2011 – 2015
Thái Nguyên, 2015
: 2011 – 2015
Giảng viên hƣớng dẫn
: Ths.Nguyễn Thị Quỳnh
Thái Nguyên, 2015
i
LỜI CẢM ƠN
Qua 4 năm học tập tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, được
tiếp thu những kiến thức cơ bản của chuyên ngành Trồng trọt tôi nhận thấy
nếu chỉ có kiến thức thôi thì chưa đủ, mà còn phải kết hợp với thực tiễn “học
đi đôi với hành” thì mới đạt được kết quả cao.
Chính vì vậy việc thực tập tốt nghiệp là vô cùng qua trọng để sinh viên
có đủ kỹ năng thực tế, đem các kiến thức đã được học áp dụng vào thực tiễn.
Mỗi sinh viên cần phải có năng động, sáng tạo, góp phần ứng dụng thành
công những kiến thức đã học vào trong thực tiễn đạt kết quả cao.
Được sự nhất trí của ban giám hiệu nhà trường và Ban chủ nhiệm Khoa
Nông học Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, sau khi đã hoàn thành
khóa học ở trường tôi đã tiến hành thực tập tại Trường ĐH Nông Lâm Thái
Nguyên với tên đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh trƣởng và phát triển
của một số giống đậu xanh tại trƣờng ĐH Nông Lâm Thái Nguyên” khóa
luận hoàn thành được nhờ sự giúp đỡ của thầy cô, cá nhân, cơ quan và nhà
trường.
Xin chân thành cảm ơn các thầy, cô Khoa Nông học Trường Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên, đặc biệt là cô giáo hướng dẫn Ths.Nguyễn Thị
Quỳnh đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ để tôi hoàn thành tốt bài khóa luận này.
iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
°C:
Độ C
AVRDC:
Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau đậu Châu Á
BVTV:
Bảo vệ thực vật
BNNPTNT:
Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
CSDTL:
Chỉ số diện tích lá
ĐC:
Đối chứng
ĐH:
Thời gian sinh trưởng
TW:
Trung ương
iv
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................ i
DANH MỤC CÁC BẢNG ............................................................................ ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT .............................................................. iii
MỤC LỤC ...................................................................................................... iv
Phần I: MỞ ĐẦU .......................................................................................... 1
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................. 1
1.2. Mục đích của đề tài .................................................................................. 3
1.3. Yêu cầu của đề tài .................................................................................... 4
Phần II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU .............................................................. 5
2.1. Nguồn gốc lịch sử của cây đậu xanh........................................................ 5
2.2. Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu xanh trên thế giới ........................ 6
2.2.1. Tình hình sản xuất đậu xanh trên thế giới............................................. 6
2.2.2. Tình hình nghiên cứu đậu xanh trên thế giới ........................................ 9
2.3. Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu xanh trong nước .......................... 10
2.3.1. Tình hình sản xuất đậu xanh trong nước............................................... 10
2.3.2. Tình hình nghiên cứu đậu xanh trong nước ......................................... 13
2.4. Tình hình nghiên cứu và sản xuất đậu xanh ở Thái Nguyên ................... 16
4.3. Khả năng hình thành nốt sần của các giống đậu xanh thí nghiệm tại
trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên ............................................................... 33
4.4. Chỉ số diện tích lá của các giống đậu xanh thí nghiệm tại trường ĐH
Nông Lâm Thái Nguyên.................................................................................. 35
4.5. Tình hình sâu bệnh hại đậu xanh thí nghiệm vụ Xuân 2015 tại trường ĐH
Nông Lâm Thái Nguyên.................................................................................. 37
4.6. Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các giống đậu xanh thí
nghiệm tại trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên ............................................. 39
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ......................................................... 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phụ lục 1: một số hình ảnh trong thí nghiệm
Phụ lục 2: Đặc điểm thời tiết khí hậu trong vụ xuân 2015 tại Thái Nguyên
Phụ lục 3: kết quả xử lí số liệu
1
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Cây đậu xanh là một cây công nghiệp ngắn ngày, cây thực phẩm có giá
trị kinh tế cao và có khả năng cải tạo đất tốt. Đậu xanh đã được con người sử
dụng làm lương thực, thực phẩm từ hàng nghìn năm nay. Trong hạt đậu xanh
có chứa nhiều dinh dưỡng đặc biệt là Protein và Gluxit. Sau khi được coi là
cây trồng giá trị thì sản xuất đậu xanh đã phát triển mạnh với quy mô và diện
tích lớn, năng suất và chất lượng ngày càng cao. Tuy nhiên thực tế mới có
khoảng trên 30 nước trồng và sản xuất đậu xanh, tập trung chủ yếu ở vùng
Viễn Đông như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan...
Hầu hết các giống đậu xanh thương phẩm đều mẫn cảm với chu kỳ ánh
sáng, nó thuộc loại cây ngắn ngày (60-80 ngày). Hiện nay các nhà nghiên cứu
trong y học, ngoài ra đậu xanh còn được chế biến thành bột dinh dưỡng chất
lượng cao bồi dưỡng cho trẻ nhỏ, người già, người ốm yếu...
Bên cạnh những giá trị của hạt đậu xanh thì các bộ phận khác của cây
còn là nguồn thức ăn phong phú cung cấp cho chăn nuôi, làm nguyên liệu cho
các nhà máy chế biến... Protein trong thân lá đậu xanh chiếm khoảng 8-15%,
có thể chế biến tươi hoặc nghiền khô làm thức ăn dự trữ, nhằm góp phần nâng
cao giá trị cây đậu xanh và thúc đẩy cho chăn nuôi phát triển.
Ngoài ra cây đậu xanh còn có giá trị cao về mặt sinh học trong việc cải
tạo bồi dưỡng đất. Bản thân cây đậu xanh có khả năng cố định đạm tự do
trong không khí thành dạng đạm dễ tiêu cung cấp cho cây, nhờ hệ vi sinh vật
Rhizobium Vigna sống cộng sinh ở rễ. Tuy nốt sần cây đậu xanh ít và bé hơn
cây lạc, cây đậu tương, song hàng năm cây đậu xanh để lại cho đất một lượng
3
đạm từ 30-50kg N/ha, tương đương 152 kg đạm Ure. Sau khi thu hoạch cây
đậu xanh còn để lại cho đất từ 5-10 tấn phân xanh/ha/vụ. Do vậy đậu xanh
được coi là cây cải tạo đất, tăng hệ vi sinh vật và lượng đạm trong đất. Đậu
còn có ưu điểm là thời gian sinh trưởng ngắn (60-80 ngày) lại là cây ưa bóng,
có thể trồng xen canh, luân canh, gối vụ trong cơ cấu cây trồng nhằm nâng
cao thu nhập và tăng hệ số sử dụng đất. Điều này có ý nghĩa to lớn trong việc
phát triển nền nông nghiệp Việt Nam ngang tầm thế giới.
Ở Việt Nam, đậu xanh là một trong những cây trồng cổ truyền, nhưng
năng suất và sản lượng đậu xanh tăng rất chậm. Nguyên nhân chính là do
trình độ thâm canh và áp dụng các biện pháp kỹ thuật còn thấp. Ngoài ra ta
chưa có sự cải tiến về bộ giống, chủ yếu vẫn sử dụng giống cũ của địa
phương có năng suất thấp. Để đáp ứng được nhu cầu của sản suất và xuất
khẩu, việc lựa chọn và tạo ra những giống đậu xanh có năng suất cao, chất
lượng tốt, ổn định, chín tập trung, thời gian sinh trưởng ngắn, thích nghi
với điều kiện ngoại cảnh là một vấn đề rất cần thiết. Đây không chỉ là vấn
tiếng anh là Mung bean, Green bean. Cây đậu xanh có nguồn gốc từ trung Á
và được trồng rộng rãi ở khắp các vùng của tiểu lục địa Ấn Độ cũng như
thung lũng sông Nin (Ai Cập ) từ hàng ngàn năm trước. Sau đó, đậu xanh
được lan truyền dần sang các vùng khác của Châu Á, Châu Phi, Bắc Mỹ,
Châu Mỹ latinh và Châu Úc. Với người Châu Âu, bằng chứng sớm nhất về
đậu xanh đã đươc ghi lại bởi ông De La Laubeve, công sứ đặc mệnh nước
Pháp tại Thái Lan vào năm 1867- 1868. Trong thời gian này ông ghi nhận một
điều đáng chú ý rằng: “cây đậu (peas) chưa từng xuất hiện ở Pháp nhưng lại
khá phát triển ở Thái Lan”. Từ “peas” được hiểu như đậu xanh.
Đậu xanh và vừng ở Thái Lan được dùng để biểu tượng cho sự thành đạt
và thịnh vượng trong các nghi lễ trọng đại của Vương Quốc Thái suốt hàng
nghìn năm qua (Peerasak Srinives,1991). Có lẽ điều này đã khiến Srinives và
Yang (1988) đưa ra giả thiết rằng trong khu vực Đông Nam Á, cây đậu xanh
rất có thể được trồng đầu tiên ở Thái Lan giữa những năm của thế kỷ thứ
nhất và thứ ba trước công nguyên. Sự kiện này trùng hợp với các tài liệu kinh
sử của đạo Phật hay đạo Hin-du của Ấn Độ giáo.
Tuy vậy, bằng chứng mới nhất về khảo cổ học tại khu vực Thampec và
Chostcave của tỉnh Machongson (Thái Lan) đã cho thấy đậu xanh được trồng
ở đây 800-1000 năm nay. Như vậy đậu xanh đã có lịch sử trồng trọt lâu đời ở
Châu Á. Nhưng mãi đến năm 1972 khi đậu xanh đã được xác định là cây
trồng chính của trung tâm nghiên cứu và phát triển rau đậu châu Á (AVRDC)
6
thì đồng thời nhiều công trình nghiên cứu cấp nhà nước về cây này đã được
xác lập ở các quốc gia khác nhau như Ấn Độ, Philippin, Thái Lan, Mỹ và
Australia (AVRDC-1974).
Lịch sử trồng đậu xanh ở Việt Nam đến nay chưa đủ nguồn gốc xác
định, song theo “Vân Đài Loại Ngữ” của Lê Quý Đôn thì đậu xanh ở nước ta
được trồng từ lâu đời. Ngoài mục đích làm thực phẩm và làm thuốc thì đậu
Bảng 2.1. Tình hình sản xuất đậu xanh của thế giới 5 năm gần đây.
Diện tích
Năng suất
Sản lƣợng
(triệu ha)
(tạ/ha)
(triệu tấn)
2009
11,5
6,1
10,4
2010
11,9
9,2
11,1
2011
các năm sau đó cũng tăng liên tục nhưng không đáng kể đạt 9,7 tạ/ha vào năm
2013. Về sản lượng trong 5 năm gần đây (từ năm 2009-2013) sản lượng đậu
xanh tăng liên tục và đạt giá trị rất cao vào năm 2013. Tăng từ 10,4 triệu tấn
năm 2009 lên đến 13,1 triệu tấn năm 2013.
Nhìn chung tình hình sản xuất đậu xanh trên thế giới đang phát triển
mạnh mẽ. Ngày càng có nhiều nước trồng đậu xanh, năng suất ngày càng cao
8
và đã có nhiều giống mới đáp ứng nhu cầu sản xuất. Những nước trồng đậu
xanh nhiều trên thế giới như: Thái Lan, Ấn Độ, Iran, Myanma, Pakistan... tình
hình sản xuất đậu xanh của những vùng sản xuất nhiều trên thế giới năm 2013
được thể hiện qua bảng 2.2.
Bảng 2.2. Tình hình sản xuất đậu xanh của một số vùng có diện tích,
năng suất và sản lƣợng lớn trên thế giới năm 2013
Diện tích
Năng suất
Sản lƣợng
(nghìn ha)
(tạ/ha)
(nghìn tấn)
Châu Á
12.079
573
14,2
813
Iran
550
5,4
295
Myanmar
335
14,6
490
Tên nƣớc
Nguồn: Số liệu thống kê của FAO 2015
Qua bảng 2.2. cho thấy Châu Á là vùng trồng đậu xanh phổ biến nhất,
với diện tích là 12.079 nghìn ha, song năng suất bình quân chưa được cao
(trung bình 9,1 tạ/ha). Châu Phi chỉ có diện tích trồng là 483 nghìn ha nhưng
năng suất đạt đến 11 tạ/ha.
Ngoài ra các nước trồng đậu xanh đều có các cơ sở nghiên cứu, chọn tạo,
so sánh và khảo nghiệm một số giống đậu xanh khác nhau. Các trung tâm,
viện nghiên cứu đến các trường đại học từ cấp quốc gia đến cấp cơ sở, tại Mỹ
trạm thí nghiệm Oklahoma đã lai tạo ra 3 giống. Bộ nông nghiệp ở Australia
và CSIRO đã khảo nghiệm 2 giống đậu xanh có triển vọng.
10
Cùng với việc mở rộng vùng trồng sang một số nước ôn đới, Châu Úc,
Châu Mỹ, Châu Phi sễ là điều kiện tốt cho công tác tìm kiếm gen, là cơ sở
cho việc lai tạo giống mới. Do vậy, tương lai cây đậu xanh còn có thể tiến xa
hơn nữa về năng suất và chất lượng, là cây trồng chính tham gia vào hệ thống
luân canh cây trồng.
2.3. Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu xanh trong nƣớc
2.3.1. Tình hình sản xuất đậu xanh trong nƣớc
Ở Việt Nam cây đậu xanh đã được trồng từ rất lâu đời, đậu xanh được
trồng ở các vùng đồng bằng, trung du, miền núi từ Bắc vào Nam, là một trong
ba cây đậu đỗ chính. Việc trồng đậu xanh lấy hạt và dùng làm cây phân xanh,
cải tạo đất và chống xói mòn đã trở thành tập quán của nhiều địa phương. Tuy
nhiên cây đậu xanh vẫn được xem là cây trồng phụ nhằm tận dụng đất đai, lao
động... cho nên ít được đầu tư về phân bón, phòng trừ sâu bệnh... Dẫn đến
năng suất rất thấp. Trước năm 1983 sản xuất đậu xanh ở nước ta vẫn sử dụng
các giống địa phương có nhược điểm lớn là năng suất rất thấp, hiệu quả kinh
tế không cao. Hàng năm diện tích gieo trồng đậu xanh ở nước ta chỉ vào
khoảng 50 nghìn ha với sản lượng 30 nghìn tấn/năm.
Từ năm 1993 trở lại đây, do nhận thức được cây đậu xanh có nhiều giá
trị kinh tế và giá trị sử dụng, dễ tiêu thụ, giá cao, thời gian sinh trưởng ngắn
nên diện tích trồng đậu xanh ngày càng được mở rộng bằng các biện pháp
như: lai tạo giống ngắn ngày, tăng vụ trong năm, đưa cây đậu xanh vào hệ
thống luân canh cây trồng, xen canh, gối vụ các cây trồng một cách hợp lí, mở
đặc biệt là sử dụng các giống mới có năng suất cao, phẩm chất tốt vào sản
xuất như:
- Giống V 87-13: Giống này có chiều cao trung bình từ 50-60 cm, phân
cành tốt, khả năng tái tạo bộ lá mạnh, vì vậy, sau khi thu hoạch nếu cung cấp
đầy đủ chất dinh dưỡng, cây đậu xanh sẽ cho thêm một đợt bông thứ hai với
năng suất vào khoảng 50-60% đợt đầu. Giống V87-13 có hạt đóng kín khá
12
đều, tương đối lớn, màu xanh thích hợp với thị hiếu người tiêu dùng và xuất
khẩu. Năng suất trung bình vào khoảng 1,2 tấn/ha. Đậu xanh tốt có thể đạt 2
tấn/ha. Khả năng chống chịu đối với bệnh khảm vàng do virus và bệnh đốm lá
ở mức trung bình.
- Giống HL89 E3: Đây là giống có tính thích nghi rộng thích hợp trên
nhiều chân đất, hạt đóng khít, dạng hình oval, màu xanh mỡ rất đẹp. Trọng
lượng 1.000 hạt khoảng 50-53 g. Đặc điểm của 2 giống V87-13 và HL89 E3
là hạt không bị chuyển màu nếu gặp mưa trong quá trình thu hái.
- Giống 91-15: Giống này cây cao trung bình khoảng 60-65 cm, phơi
bông nên rất thuận tiện cho công tác phòng trừ sâu hại, hạt có dạng hình trụ,
màu xanh mỡ được người tiêu dùng ưa thích. Tỷ lệ hái đợt đầu vào khoảng
70-80%. Giống này chống chịu bệnh khảm vàng và đốm lá ở mức trung bình.
- Giống V94-208 là giống có năng suất cao, trung bình từ 1,4-1,5 tấn/ha,
có những nơi đạt 2,8 tấn/ha. Đặc điểm nổi bật của giống V94-208 cao 75 cm,
thân to, lá rộng, quả nằm trên mặt lá, hạt to, hình trụ màu xanh đậm, bóng.
Tuy nhiên, loại giống này có nhược điểm hạt đóng không khít trong trái, vì
vậy khi gặp điều kiện dinh dưỡng không tốt các hạt sẽ không đều. Đồng thời,
hạt đậu V94-208 rất dễ đổi màu khi thu hái gặp trời mưa hoặc phơi không kịp
và dễ bị mọt. Khả năng chống chịu bệnh khảm vàng của giống ở mức trung
b́nh - yếu cho nên chỉ gieo trồng trong vụ Đông - Xuân. (Theo kỹ sư Hồ Đình
Hải năm 2014)[12].
hàng chục công ty nước ngoài, công ty trong nước đang thực hiện các hoạt
động nghiên cứu chọn tạo, hoặc nhập nội giống mới phục vụ sản xuất.
*Về tập đoàn
Theo Đào Quang Vinh, Nguyễn Thị Thanh, Chu Thị Ngọc Viên: để có
được một bộ giống đậu xanh tốt viện nghiên cứu ngô đã thu thập một tập
đoàn gồm 87 giống của Philippin, Thái Lan, Ấn Độ, Trung Quốc, Mỹ, Triều
14
Tiên, bước đầu đã chọn tạo được một số mẫu giống có đặc tính tốt đưa vào
thử nghiệm hoặc làm vật liệu lai tạo.
Theo Lê Khả Tường: Nghiên cứu tập đoàn giống đậu xanh đã tiến hành
đánh giá 125 dòng giống nhập nội, giống trong nước, tiến hành phân nhóm
theo các đặc tính nông học, thời gian sinh trưởng, năng suất... của các giống.
Kết quả thí nghiệm cho thấy: phần lớn các dòng, giống có nguồn gốc từ
AVRDC, IRRI dễ thích ứng với điều kiện của Việt Nam cho năng suất cao,
chống bệnh, chống đổ tốt. Nó đã và đang là nguồn gen quý giúp đỡ cho việc
chọn lọc, lai tạo giống mới. Một số giống trong nước như Mỡ Hải Dương,
Tiêu Hà Nội, Vàng Long Khánh tuy còn hạn chế về khả năng thâm canh,
chống bệnh, chống đổ nhưng năng suất ổn định, chất lượng hạt tốt, vẫn được
duy trì trong sản xuất. Tập đoàn cũng cho thấy hơn 20 giống có khối lượng
1000 hạt nhỏ 40-50 g, chất lượng hạt khá, cần được tiếp tục đánh giá chọn lọc
ra những giống thích hợp phục vụ cho sản xuất.[5]
Theo Lê Song Dự: tại trường ĐH Nông Nghiệp I - Hà Nội (1991-1993).
Khoa trồng trọt trong 3 năm thực hiện đề tài đậu đỗ đã đưa vào sản xuất giống
đậu xanh 044 và công nhận giống quốc gia năm 1993. Đã xây dựng quy trình
kĩ thuật cho các giống đậu đỗ mới, đưa các giống đậu xanh mới vào hệ thống
canh tác ở các vùng sinh thái khác nhau. Mô hình này sẽ được mở rộng trên
diện tích lớn góp phần áp dụng khoa học kĩ thuật tiên tiến vào sản xuất.
Kết quả nghiên cứu tập đoàn và so sánh một số giống đậu xanh của Tạ
ngày), chín sớm, khả năng chống đổ, chống bệnh khá, có khả năng cho năng
suất khá ở 3 vụ trong năm. T135 với đặc điểm dạng hạt to, tròn có màu xanh
mốc rất phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng và đặc biệt có hàm lượng
protein khá nhất. T135 được báo cáo tại hội đồng khoa học Bộ Nông Nghiệp
và Phát Triển Nông Thôn và Đã được Bộ cho khu vực hóa rộng toàn quốc
tháng 4 năm 1996. V123A là giống được đánh giá bước đầu về tình hình sinh
trưởng, phát triển trong sản xuất tương đối ổn định. V123A là giống ngắn
16
ngày (70 ngày), tỉ lệ thu hái lần đầu đạt 75% vào lúc 55 ngày sau khi gieo.
Với đặc điểm ấy V123A có thể đưa vào cơ cấu tăng vụ một cách dễ dàng.[5]
Kết quả khảo nghiệm các giống đậu xanh từ 1990-1994 ở các tỉnh phía
bắc, theo Nguyễn Thiện Lương cho thấy: Qua khảo nghiệm hơn 20 giống đậu
xanh tại trung tâm khảo nghiệm giống cây trồng TW thì hầu hết các giống có
năng suất cao từ 0,8-1 tấn/ha, chín tập trung và đề kháng tốt với sâu bệnh
nhưng TGST của một số giống thì quá dài.
Tại trạm khảo nghiệm giống cây trồng TW, trung tâm cây trồng Vũ Di –
Vĩnh Phúc, trạm nghiên cứu đậu đỗ, trạm BVTV Hà Bắc, trong 3 vụ xuân, hè
và thu năm 1989 cho thấy 5 giống có năng suất cao và ổn định là: ĐX 01,
ĐX 02, VX87-E2, 094, 090 trong đó có 3 giống chín tập trung là ĐX 01, ĐX
02, V87-E2 còn 2 giống 090 và 094 cho năng suất cao nhất trong vụ xuân.
Trung tâm Hương Lộc - Đồng Nai so sánh giống nhập nội của PCAPRD
và bộ sưa tập giống địa phương cho thấy giống HL115, HL125, dòng 128 và
HL108 cho năng suất 11-13 tạ/ha, chín tập trung, tỉ lệ thu lần 1 đạt 75-85%,
TGST ngắn 60-70 ngày, hạt to, khối lượng 1000 hạt đạt 57,6 g, ít đổ, ít nhiễm
bệnh vàng lá.
Như vậy công tác nghiên cứu về cây đậu xanh ở nước ta đang được xúc
tiến và triển khai một cách sâu rộng nhằm tạo ra nhiều bộ giống tốt thích ứng
với từng vùng miền sinh thái khác nhau.