PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN. Nguồn thu từ thuế đáp ứng phần lớn
nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, giúp Nhà nước tạo thế chủ động về vốn, kinh phí để
thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình.
Nhận thưc tầm quan trọng của thuế, ngay từ những ngày đầu thành lập nước,
Ế
Đảng và Nhà nước ta đã hết sức quan tâm đến công tác thuế. Qua nhiều lần sửa đổi,
U
bổ sung chính sách thuế ngày càng được hoàn thiện, phù hợp hơn với điều kiện kinh
́H
tế xã hội của đất nước và có xu thế hội nhập với nền kinh tế thế giới. Công cuộc cải
cách thuế bước hai với nội dung chính là thay thế thuế doanh thu và thuế lợi tức
TÊ
bằng thuế giá trị gia tăng (GTGT) và thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đã tạo
nên những chuyển biến mới trong việc thực thi các chính sách thuế.
H
Một trong những bước đột phá trong công tác quản lý thuế đó là Luật Quản
IN
1
Chi cục thuế Quảng Điền được giao nhiệm vụ quản lý thu ngân sách phát
sinh trên địa bàn huyện. Đây là huyện nằm ở phía Bắc của tỉnh Thừa Thiên Huế,
được tái lập từ năm 1990, đã nhanh chóng cùng với cả tỉnh tạo thế, tạo đà vững
bước đi lên, xây dựng huyện từng bước trở thành trung tâm kinh tế-văn hóa ngày
càng vững mạnh. Trong quá trình phát triển kinh tế, huyện luôn luôn quan tâm xây
dựng cơ sở hạ tầng, trung tâm thương mại và các chợ nông thôn, quy hoạch các khu
dành cho phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề truyền thống, kinh
Ế
tế trang trại nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trên địa bàn mở rộng quy mô,
U
đầu tư vốn vào kinh doanh tạo nguồn thu cho ngân sách địa phương ngày càng đáp
́H
ứng nhu cầu chi tiêu của huyện.
Kết quả thu ngân sách qua các năm đều tăng, nhờ hệ thống chính sách thuế
TÊ
ngày càng được bổ sung và hoàn thiện, thực hiện chương trình cải cách và hiện đại
hóa hệ thống thuế; trình độ nhận thức, tính tuân thủ pháp luật về thuế của người nộp
khác, cơ chế quản lý thuế để cho tổ chức, cá nhân kinh doanh tự khai, tự tính, tự
nộp tiền thuế vào NSNN đã xảy ra khá phổ biến trình trạng người nộp thuế không
tuân thủ pháp luật thuế, kê khai không đầy đủ nghĩa vụ thuế, làm thất thu ngân sách
Nhà nước, ảnh hưởng đến tính bình đẳng trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Hàng năm, số thu thuế GTGT, thuế TNDN từ các doanh nghiệp chiếm tỷ trọng
hơn 50% số thu lĩnh vực ngoài quốc doanh. Chính sách thuế GTGT, thuế TNDN thường
xuyên có sự thay đổi bổ sung và còn nhiều bất cập, chưa phù hợp với thực tiễn; công tác
2
quản lý thu chưa được hoàn thiện, tình trạng doanh nghiệp trốn lậu thuế xảy ra phổ biến,
gây thất thu ngân sách Nhà nước.
Xác định tầm quan trọng đó tôi thấy rằng cần phải có những giải pháp trong
công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp nhằm tăng nguồn thu cho ngân sách
Nhà nước đồng thời tạo công bằng, bình đẳng trong hoạt động sản xuất kinh doanh,
tôi chọn đề tài “Tăng cường quản lý thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh
nghiệp đối với các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên
Ế
Huế” làm luận văn thạc sĩ.
U
2. Mục đích nghiên cứu
́H
2.1 Mục tiêu tổng quát
TNDN, các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình quản lý thuế, những mặt tồn tại và hạn
Đ
A
chế của công tác quản lý thuế GTGT, TNDN đối với các doanh nghiệp trên địa bàn
huyện Quảng Điền hiện nay.
(3) Kiến nghị, đề xuất những giải pháp tăng cường quản lý thuế GTGT và
thuế TNDN đối với các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Quảng Điền để tăng nguồn
thu cho ngân sách Nhà nước.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Chi cục thuế Quảng Điền và các doanh nghiệp đăng ký kê khai, nộp thuế
GTGT và thuế TNDN trên địa bàn huyện.
3
3.2. Nội dung nghiên cứu
Hoạt động quản lý thu và nộp thuế GTGT và thuế TNDN.
3.3. Phạm vi không gian
Địa bàn huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
3.4. Phạm vi thời gian
Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý thu và nộp thuế trong giai đoạn 20072009 và đề xuất giải pháp đến năm 2012.
Ế
4. Kết cấu của luận văn
A
̣I H
O
̣C
đối với các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
4
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ THUẾ, QUẢN LÝ THUẾ GTGT
VÀ THUẾ TNDN
1.1. LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ THUẾ, THUẾ GTGT VÀ THUẾ TNDN
1.1.1. Khái niệm, bản chất, chức năng của thuế
1.1.1.1 Khái niệm
Ế
Từ trước đến nay, trên các sách báo kinh tế của thế giới vẫn chưa có sự thống
U
nhất khái niệm về thuế. Nhìn chung các quan điểm của các nhà kinh tế đưa ra mới
́H
cuốn từ điển của hai tác giả người Anh Chrisopher Pass và Bryan Lowes cho rằng:
“Thuế là một biện pháp của Chính phủ đánh trên thu nhập của cải và vốn nhận được
Đ
A
của các cá nhân hay doanh nghiệp (thuế trực thu), trên việc chi tiêu về hàng hoá và
dịch vụ (thuế gián thu) và trên tài sản” [3].
Một định nghĩa về thuế tương đối hoàn chỉnh được nêu lên trong cuốn
“Economics” của hai nhà kinh tế Mỹ K.P.Makkohhell và C.L.Bryu như sau: “Thuế
là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc là chuyển giao bằng hàng hoá,
dịch vụ) của các công ty và các hộ gia đình cho Chính phủ, mà trong sự trao đổi đó
họ không nhận được một cách trực tiếp hàng hoá hoặc dịch vụ nào cả, khoản nộp đó
không phải là tiền phạt mà toà án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật”[3 ].
5
Gần đây trong một số công trình nghiên cứu về thuế các nhà kinh tế cho
rằng, để vạch rõ bản chất của thuế thì trong định nghĩa đó phải nêu bật các khía
cạnh sau đây: nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các quan hệ tiền tệ giữa
Nhà nước với các pháp nhân và các thể nhân; những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ
này được nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt việc chuyển
giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nước xét theo khía
cạnh luật pháp, thuế là một khoản nộp cho Nhà nước được pháp luật quy định theo
Ế
mức thu và thời hạn nhất định.
Nghiên cứu về thuế, người ta nhận thấy thuế có những đặc điểm riêng để phân biệt
O
với các công cụ tài chính khác như sau: [3]
̣I H
Thứ nhất: Thuế là một khoản chuyển giao thu nhập của các tầng lớp trong xã
hội cho Nhà nước mang tính bắt buộc phi hình sự. Tính bắt buộc phi hình sự là
Đ
A
thuộc tính cơ bản vốn có của thuế, nó phân biệt thuế với các hình thức huy động tài
chính khác của ngân sách nhà nước.
Tính cưỡng bức, bắt buộc của việc chuyển giao thu nhập bắt nguồn từ những
lý do sau:
Hình thức chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế không gắn với lợi ích cụ
thể của người nộp thuế, do đó không thể sử dụng phương pháp tự nguyện trong việc
chuyển giao. Để đảm bảo nhu cầu chi tiêu công cộng, nhà nước tất yếu phải sử dụng
quyền lực chính trị để bắt buộc mọi đối tượng có thu nhập phải chuyển giao.
6
Trong xã hội hiện đại, các thành viên cộng đồng có nhu cầu càng cao về
hàng hoá công cộng. Mà đại bộ phận hàng hoá công cộng do nhà nước sản xuất và
với các hình thức động viên khác của NSNN trên nhiều phương diện khác nhau.
K
1.1.1.3. Chức năng, vai trò của thuế
Trong nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường đã tạo ra động lực thúc
̣C
đẩy sản xuất phát triển, kích thích năng suất, nâng cao chất lượng và hiệu quả, thúc
O
đẩy quá trình xã hội hoá sản xuất ...Tuy nhiên, bên cạnh đó, cơ chế thị trường cũng
̣I H
mang trong mình nhiều khuyết tật khó tránh khỏi như: Tính tự phát vốn có của thị
trường thường xuyên gây cho xã hội lãng phí không nhỏ về tài nguyên, lao động,
Đ
A
tiền vốn dẫn đến độc quyền, thủ tiêu cạnh tranh giảm hiệu quả chung của nền kinh
tế. Đặc biệt cơ chế phân phối qua thị trường thường khoét sâu ngăn cách giữa người
giàu và người nghèo, làm này sinh các hiện tượng tiêu cực về mặt xã hội. Tạo nên
sự bất ổn về kinh tế và xã hội.
Nhận thức rõ những mặt ưu, nhược điểm đó, ngày nay ở hầu hết các quốc gia
TÊ
kinh tế thị trường.
a. Thuế là công cụ chủ yếu tạo lập nguồn thu cho ngân sách nhà nước
H
Từ xưa đến nay, có thể nói vai trò đích thực của thuế là tạo lập nguồn thu
IN
cho ngân sách Nhà nước nhằm để nuôi bộ máy cai trị và trang trải các chi phí thực
K
hiện các chức năng của Nhà nước.
Nhà nước trước hết dùng sức mạnh quyền lực của mình để bắt buộc mọi thể
̣C
nhân và pháp nhân trích một phần thu nhập của mình do hoạt động kinh tế mang lại
O
góp vào quỹ chung gọi là ngân sách nhà nước để tiêu dùng. Để việc đóng góp đó
̣I H
hiệu trong tay nhà nước, thông qua thuế, Nhà nước có thể thực hiện việc kiểm kê,
U
kiểm soát, quản lý đối với tất cả các thành phần kinh tế, các hoạt động sản xuất kinh
́H
doanh và mọi hoạt động về đời sống xã hội khác.
Thông qua việc xây dựng đúng đắn cơ cấu và mối quan hệ giữa các loại thuế,
TÊ
xử lý đồng bộ các chính sách thuế (bằng việc xác định hợp lý đối tượng nộp thuế,
đối tượng tính thuế, thuế suất, thuế biểu, chế độ miễn giảm ...) Nhà nước có thể điều
H
chỉnh toàn bộ nền kinh tế theo hướng khuyến khích những hoạt động sản xuất kinh
IN
doanh cần thiết, có hiệu quả. Đồng thời hạn chế, thu hẹp những ngành nghề, những
K
mặt hàng cần hạn chế sản xuất, hạn chế tiêu dùng. Thuế còn tạo điều kiện khuyến
khích đầu tư hướng dẫn cạnh tranh lành mạnh, mở rộng giao lưu hàng hoá, bảo vệ
động viên vừa phải có thể kích thích các yếu tố tăng trưởng kinh tế . Khi nền kinh
tế đang trong cơn suy thoái, Chính phủ có thể cắt giảm các thứ thuế để kích thích
đầu tư, tạo thêm nhiều công ăn, việc làm và thúc đẩy sự tăng lên của cầu tiêu dùng.
Ngược lại, khi nền kinh tế tăng trưởng cao đưa đến một nền kinh tế nóng, lạm phát
có nguy cơ bùng nổ, Nhà nước có thể tăng thuế để hạn chế phía cầu và phía cung.
Ế
Tuy nhiên, cũng cần nhận thức rằng công cụ thuế là một trong những công
U
cụ rất nhạy cảm đối với nền kinh tế. Vì vậy trong cả hai tình huống của nền kinh tế
́H
không phải bao giờ sử dụng công cụ thuế đều thành công. Do đó, để đưa nền kinh tế
ổn định tương đối, cùng với thuế phải sử dụng kết hợp đồng bộ với các công cụ
TÊ
khác một cách nhịp nhàng.
c. Thuế góp phần bảo đảm bình đẳng giữa các tổ chức, cá nhân, các tầng
H
lớp dân cư, điều hoà thu nhập và thực hiện công bằng xã hội
IN
hoà thu nhập, người có thu nhập cao phải đóng góp thuế cao hơn người có thu nhập
10
thấp, thường thông qua thuế suất luỹ tiến từng phần. Đồng thời chính sách thuế
cũng đảm bảo cho người làm ăn hiệu quả cao có thu nhập cao, thậm chí rất cao so
với người làm ăn lười biếng, kém hiệu quả. Khuyến khích đầu tư, cải tiến kỹ thuật,
cải tiến quản lý, đầu tư chất xám, làm ăn giỏi để có thu nhập cao một cách chính
đáng. Đây cũng chính là thể hiện sự công bằng xã hội.
Trong các chính sách thuế đều quy định rõ nghĩa vụ khai báo, chế độ lưu giữ
sổ sách kế toán, hoá đơn chứng từ, các quy định về thủ tục thu nộp thuế và đi kèm
Ế
với nó là các chế độ thưởng phạt nghiêm minh theo đúng luật, đây cũng là những
U
yếu tố quan trọng để chính sách thuế đảm bảo bình đẳng và công bằng xã hội.
́H
1.1.2. Thuế giá trị gia tăng
1.1.2.1. Khái niệm
TÊ
Thuế GTGT(hay còn gọi là VAT-Value Added Tax) được phát kiến bởi
người Đức tên là Carl Fiedrich Von Simens vào những năm năm mươi của thế kỹ
mua vào tương ứng.
1.1.2.2. Đặc điểm của thuế GTGT
Thuế GTGT là loại thuế gián thu đánh vào đối tượng tiêu dùng hàng hóa,
dịch vụ chịu thuế GTGT, là một yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hóa và dịch vụ,
là khoản thu được cộng thêm vào giá bán của người cung cấp.
Thuế GTGT đánh vào giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ phát sinh ở các
giai đoạn từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ đó. Tổng số thuế
GTGT thu được các giai đoạn sẽ bằng số thuế GTGT tính trên giá bán cho người
tiêu dùng cuối cùng .
11
Thuế GTGT là loại thuế có tính trung lập cao. Tính trung lập biểu hiện ở hai
khía cạnh:
- Thứ nhất, thuế GTGT không chịu ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh của
người nộp thuế, do người nộp thuế chỉ là người thay mặt người tiêu dùng nộp hộ
khoản thuế này vào NSNN.
- Thứ hai, thuế GTGT không bị ảnh hưởng bởi quá trình tổ chức và phân
chia quá trình sản xuất kinh doanh, bởi tổng số thuế ở tất cả các giai đoạn luôn bằng
Ế
số thuế tính trên giá bán ở giai đoạn cuối cùng bất kể số giai đoạn nhiều hay ít.
U
Về phạm vi đánh thuế: Thuế GTGT chỉ đánh vào hoạt động tiêu dùng diễn ra
̣I H
trừ ở các khâu sau nên khuyến khích các tổ chức, cá nhân bỏ vốn đầu tư phát triển
sản xuất, kinh doanh, khuyến khích chuyên môn hóa, hợp tác hóa sản xuất, nâng
Đ
A
cao hiệu quả kinh tế, phù hợp với phát triển kinh tế thị trường.
Khuyến khích xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ thông qua áp dụng thuế suất 0%,
doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ không phải chịu thuế GTGT ở khâu xuất
khẩu mà còn được hoàn toàn bộ số thuế đầu vào đã thu ở khâu trước.
Thúc đẩy chế độ hạch toán kế toán, sử dụng hóa đơn chứng từ và thanh toán
qua ngân hàng.
Tóm lại: Thuế GTGT là một sắc thuế tiên tiến, việc áp dụng thuế GTGT
khắc phục nhược điểm của thuế doanh thu trước đây là: ˝thuế chồng lên thuế”, thuế
GTGT có nhiều ưu điểm, tác dụng tích cực thúc đẩy tốc độ giao dịch, khuyến khích
12
phát triển sản xuất kinh doanh, xuất khẩu, tăng cường đầu tư, tăng thu cho ngân
sách Nhà nước [35].
1.1.2.4. Nội dung cơ bản của Luật thuế GTGT
a. Đối tượng chịu thuế GTGT
Hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là
đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng, trừ các đối tượng quy định tại Điều 5 của Luật
này (Đối tượng không chịu thuế)
chưa có thuế giá trị gia tăng. Đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là
O
giá bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng chưa có thuế giá trị gia tăng;
̣I H
+ Đối với hàng hóa nhập khẩu là giá nhập tại cửa khẩu cộng với thuế nhập
khẩu (nếu có), cộng với thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có). Giá nhập tại cửa khẩu được
Đ
A
xác định theo quy định về giá tính thuế hàng nhập khẩu;
+ Đối với hàng hóa, dịch vụ dùng để trao đổi, tiêu dùng nội bộ, biếu, tặng
cho là giá tính thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương
đương tại thời điểm phát sinh các hoạt động này;
+ Đối với hoạt động cho thuê tài sản là số tiền cho thuê chưa có thuế giá trị
gia tăng;
Trường hợp cho thuê theo hình thức trả tiền thuê từng kỳ hoặc trả trước tiền
thuê cho một thời hạn thuê thì giá tính thuế là tiền cho thuê trả từng kỳ hoặc trả
trước cho thời hạn thuê chưa có thuế giá trị gia tăng;
13
Trường hợp thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải của nước ngoài loại
IN
ngân sách nhà nước;
K
+ Đối với hoạt động đại lý, môi giới mua bán hàng hoá và dịch vụ hưởng hoa
hồng là tiền hoa hồng thu được từ các hoạt động này chưa có thuế giá trị gia tăng;
O
̣C
+ Đối với hàng hoá, dịch vụ được sử dụng chứng từ thanh toán ghi giá thanh
sau:
̣I H
toán là giá đã có thuế giá trị gia tăng thì giá tính thuế được xác định theo công thức
Đ
A
Giá chưa có thuế
giá trị gia tăng
Giá thanh toán
=
́H
Trong đó: + Số thuế giá trị gia tăng đầu ra bằng tổng số thuế giá trị gia tăng của
hàng hoá, dịch vụ bán ra ghi trên hoá đơn giá trị gia tăng;
TÊ
+ Số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ bằng tổng số thuế giá trị
gia tăng ghi trên hóa đơn giá trị gia tăng mua hàng hóa, dịch vụ, chứng từ nộp thuế
H
giá trị gia tăng của hàng hóa nhập khẩu và đáp ứng điều kiện quy định tại Điều 12
IN
của Luật thuế GTGT.
K
- Phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng: Cơ sở kinh doanh và tổ
chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh không có cơ sở thường trú tại Việt Nam
̣C
nhưng có thu nhập phát sinh tại Việt Nam chưa thực hiện đầy đủ chế độ kế toán,
O
hoá đơn, chứng từ; hoạt động mua bán vàng, bạc, đá quý.
" Thuế thu nhập được định nghĩa là một sắc thuế trên thu nhập thuần. Thu
U
nhập thuần là cái mà người nộp thuế đã có khả năng để bù đắp các chi phí của mình
phát sinh trong quá trình tạo ra thu nhập[44].
́H
mà không làm giảm phần vốn của họ. Vấn đề quan trọng là xác định cái gì là chi phí
TÊ
1.1.3.2. Đặc điểm của thuế thu nhập doanh nghiệp
Thuế TNDN là loại thuế trực thu. Tính chất trực thu của loại thuế này được biểu
H
hiện ở sự đồng nhất giữa đối tượng nộp thuế và đối tượng chịu thuế. Thuế TNDN đánh
IN
vào thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp, bởi vậy mức động viên vào NSNN đối với
K
loại thuế này phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
vực ở một vùng nào đó.
Ngoài việc quy định thuế suất chung cho các cơ sở SXKD, Nhà nước cũng
đưa ra thuế suất ưu đãi để áp dụng đối với từng ngành nghề, mặt hàng, lĩnh vực thể
hiện mức độ khuyến khích hay không khuyến khích của Nhà nước đối với những
ngành nghề, mặt hàng, lĩnh vực đó trong nền kinh tế.
- Thuế TNDN là một công cụ của Nhà nước thực hiện chính sách công bằng
xã hội.
Ế
Một trong những mục tiêu của thuế TNDN là điều tiết thu nhập, đảm bảo sự
U
công bằng trong phân phối thu nhập xã hội. Thuế TNDN được áp dụng cho các loại
́H
hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, bất kể một doanh nghiệp nào kinh
doanh bất cứ hình thức nào nếu có thu nhập chịu thuế thì phải nộp thuế TNDN,
TÊ
cùng một ngành nghề không phân biệt quy mô kinh doanh nếu có thu nhập chịu
thuế thì phải nộp thuế TNDN. Với mức thuế suất thống nhất, doanh nghiệp nào có
H
thu nhập cao thì phải nộp thuế nhiều hơn doanh nghệp có thu nhập thấp [15].
Tuy nhiên, để thu thuế thu nhập, các nước chú trọng đến việc phân loại công
ty hoạt động dưới hình thức nào. Trên cơ sở các quy định về pháp lý, tên gọi, chủ sở
hữu hoặc đồng chủ sở hữu, các sáng lập viên...mà đã định ra 2 hình thức thu thuế
thu nhập thích hợp. Nhìn chung các nước đều quy định thu nhập của một pháp nhân
kinh doanh phải nộp thuế TNDN. Thu nhập của thể nhân kinh doanh hoặc cá nhân
17
không kinh doanh nộp thuế thu nhập cá nhân.
c. Căn cứ tính thuế: Căn cứ tính thuế là thu nhập tính thuế và thuế suất
+ Thu nhập tính thuế trong kỳ tính thuế được xác định bằng thu nhập chịu thuế
trừ thu nhập được miễn thuế và các khoản lỗ được kết chuyển từ các năm trước.
Thu nhập tính thuế được xác định theo công thức sau:
Thu nhập
chịu thuế
=
- [
Thu nhập được
miễn thuế
Các khoản lỗ được
]
kết chuyển theo
quy định
+
K
đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân
hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh doanh thu
̣C
bằng ngoại tệ.
O
- Các khoản chi được trừ: Doanh nghiệp được trừ mọi khoản chi nếu đáp ứng
̣I H
đủ các điều kiện sau đây:
Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh
Đ
A
của doanh nghiệp;
Khoản chi có đủ hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật.
+ Thuế suất
Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp áp dụng từ ngày 1/1//2009 là 25%,
Quản lý thuế là hoạt động chấp hành, điều hành của cơ quan thuế Nhà nước
các cấp trên cơ sở của luật và để thi hành luật nhằm thực hiện chức năng tổ chức,
H
quản lý, điều hành các hoạt động thu thuế của Nhà nước. Nói cách khác, quản lý
IN
thuế chính là quản lý Nhà nước trong lĩnh vực hành pháp - được thực hiện bởi ít
K
nhất một bên có thẩm quyền hành chính Nhà nước trong quan hệ chấp hành, điều
hành. Quản lý thuế là hoạt động đảm bảo thực thi chính sách thuế trong thực tế,
̣C
trong đó vai trò của cơ quan thuế rất quan trọng khi tác động lên ĐTNT để đảm bảo
O
tính hiệu lực – đáp ứng mục đích thu cho NSNN. Quản lý thuế chủ yếu được thực
̣I H
hiện bởi hệ thống cơ quan thuế Nhà nước: Tổng Cục thuế ở Trung ương, Cục thuế,
Chi cục thuế ở các địa phương.
U
nước. Vì vậy họ đều tính toán khi nộp thuế bởi nó liên quan đến lợi ích của doanh
́H
nghiệp. Nếu không phải nộp thuế hoặc nộp thuế ít thì tỷ lệ để lại được dùng vào mở
rộng sản xuất kinh doanh, lợi nhuận để lại nhiều hơn .... Cho nên còn một số doanh
TÊ
nghiệp tìm cách nộp thuế càng ít càng tốt. Vì vậy những vi phạm về thuế vẫn cứ
tiếp diễn dưới các hình thức như: tìm kẻ hở, lách luật để tránh thuế, tăng chi phí để
H
giảm thu nhập chịu thuế thậm chí có một số doanh nghiệp còn trốn thuế như hạch
IN
toán sai chi phí, doanh thu ... vì vậy đòi hỏi phải tăng cường hơn nữa sự quản lý của
K
cơ quan thuế.
Ngoài ra, các doanh nghiệp vẫn còn một số vi phạm về việc đăng ký, kê khai,
̣C
1.2.1.3. Nội dung quản lý thu thuế
1.2.1.3.1. Lập kế hoạch thu thuế
Lập kế hoạch thu thuế phục vụ hoạch định chính sách và công tác quản lý là
một trong những công cụ quan trọng được nhiều nước trên thế giới áp dụng. Đối với
Ế
Việt Nam, các nhà hoạch định chính sách và thực hiện công tác quản lý thuế cũng
U
đã ứng dụng các phương pháp lập kế hoạch thu thuế để thực hiện các chức năng,
́H
nhiệm vụ theo quy định.
Kế hoạch thu thuế là số lượng thuế các loại phải thu trong kỳ kế hoạch mà
TÊ
các đơn vị thu thuế phải thực hiện. Lập kế hoạch thu thuế thực chất là việc xây
dựng chương trình huy động các nguồn thu vào NSNN nhằm đạt được mục tiêu
IN
- Mục đích của kế hoạch thuế
H
21
đóng góp của nhân dân. Vì vậy kế hoạch thuế phải thực hiện dân chủ để các chỉ tiêu
kế hoạch có cơ sở thực hiện.
Thứ hai, kế hoạch thuế là căn cứ để triển khai các hoạt động để thu thuế vào
NSNN. Trên cơ sở kế hoạch thuế đã được xây dựng, các đơn vị thu thuế phối hợp các
hoạt động và nỗ lực giữa các bộ phận với nhau để hoàn thành mục tiêu thu NSNN.
- Yêu cầu của kế hoạch thuế
Lập kế hoạch thuế là khâu đầu tiên của quá trình quản lý thuế, do đó nếu lập
Ế
kế hoạch thu thuế không tốt sẽ dẫn đến kết quả không thực hiện được hoặc thực
U
hiện kế hoạch thu thuế với hiệu quả không cao. Vì vậy, yêu cầu cơ bản nhất của kế
́H
hoạch thuế là phải dự báo chính xác số thu của các loại thuế trên từng địa bàn quản
lý. Nếu có sai sót từ khâu lập kế hoạch thuế thì dù có cố gắng trong khâu tổ chức
TÊ
thực hiện, kiểm tra, điều chỉnh thì vẫn cứ sai lệch trong một loạt các khâu tiếp sau
trong quá trình quản lý thuế.
Mặt khác, kế hoạch thuế là phương tiện để triển khai thực hiện các hoạt động
thu thuế nên cho dù có sự nỗ lực giữa các bộ phận đi nữa thì nếu kế hoạch được lập
không tốt sẽ dẫn đến không hoàn thành mục tiêu thu NSNN.
- Căn cứ và phương pháp lập kế hoạch thuế
Căn cứ để lập kế hoạch thu thuế là xác định đối tượng nộp thuế và xác định
căn cứ để tính thuế.
Đối tượng nộp thuế là các pháp nhân và thể nhân có nghĩa vụ phải nộp thuế
cho Nhà nước theo các điều kiện được dự liệu trong các luật thuế. Việc xác định
22
ĐTNT được thực hiện một cách khá dễ dàng nhờ hệ thống thông tin quản lý ĐTNT
của ngành thuế.
Đối tượng tính thuế là căn cứ quan trọng nhất để tính thuế, phản ánh nội
dung kinh tế - xã hội, nguồn gốc của bộ phận của cải được tập trung vào quỹ
NSNN, thể hiện tính chất độc lập của một thứ thuế trong hệ thống thuế. Do đó, các
đạo luật thuế quy định đối tượng tính thuế của mỗi thứ thuế có tính độc lập. Chẳng
hạn, đối tượng tính thuế GTGT là giá tính thuế, đối tượng tính thuế của thuế TNDN
Ế
là thu nhập chịu thuế v.v…
U
Việc xác định đối tượng tính thuế có vai trò ảnh hưởng rất lớn tới mức độ
̣I H
ngành còn chưa được xây dựng đầy đủ và đồng bộ. Mặt khác, mức độ chính xác
trong việc lập kế hoạch thuế lại phụ thuộc yếu tố này. Do đó, để kế hoạch thu thuế
Đ
A
lập ra đạt hiệu quả cao nhất cần thiết phải đảm bảo có đầy đủ thông tin và phương
pháp xác định đối tượng tính thuế.
1.2.1.3.2. Tổ chức thực hiện việc thu thuế
Tổ chức thực hiện thu thuế là khâu đóng vai trò quyết định hiệu quả công tác
quản lý thuế. Đây là khâu giải quyết nhiều vấn đề phức tạp trong quá trình tổ chức
động viên giữa Nhà nước với các đối tượng nộp thuế khi thực hiện nghĩa vụ đóng
góp. Trong khâu tổ chức thực hiện kế hoạch cần xuất phát từ điều kiện thực tiễn để
xây dựng kế hoạch quý, tháng. Trên cơ sở xác định mục tiêu phải thực hiện hàng
23
tháng tiến hành tổ chức thực hiện các nghiệp vụ quản lý thuế để theo dõi, đôn đốc
các đối tượng nộp thuế hoàn thành nghĩa vụ đóng góp đúng thời hạn.
Yêu cầu của công tác tổ chức thực hiện thu thuế là phải đảm bảo thu đúng,
thu đủ, kịp thời các khoản thuế vào NSNN và với chi phí hợp lý.
Để đáp ứng yêu cầu của công tác tổ chức thực hiện thu thuế thì phải đảm bảo
các yếu tố sau:
- Về tổ chức bộ máy thu thuế: Việc tổ chức hệ thống bộ máy ngành thuế quyết
Ế
O
̣C
+ Mô hình tổ chức theo địa phương, vùng lãnh thổ và kết hợp cả hai mô hình
̣I H
trên.
+ Kết hợp cả ba mô hình trên.
Đ
A
- Biên chế lao động: Tuỳ theo nhu cầu về nhân lực mà mô hình tổ chức áp
dụng để có thể định biên và bố trí lao động hợp lý cho từng bộ phận cả về phương
diện số lượng và chất lượng.
- Xây dựng, lựa chọn quy trình thu thuế: Có hai cách xây dựng quy trình thu
thuế đó là:
+ Cơ quan thuế tính thuế và ra thông báo. Theo cách này, các đối tượng nộp
thuế nộp các bản khai thuế, cơ quan thuế tiến hành tính toán số thuế theo số liệu kê
khai và ra thông báo cho đối tượng nộp thuế thực hiện.
24
+ Đối tượng nộp thuế tự kê khai, tính toán và nộp thuế. Theo cách này đối
tượng nộp thuế phải tự kê khai, tính toán số thuế phải nộp trong kỳ của mình và tự
khả năng dân cư. Trong cơ chế kinh tế thị trường sự vận động của kinh tế khá phức
K
tạp và đa dạng đo đó yêu cầu đặt ra cho khâu này là cần hết sức nhạy bén áp dụng
các biện pháp hữu hiệu để xử lý các tình huống đúng các quy định của luật thuế và
O
̣C
phù hợp với điều kiện kinh tế thực tế phát sinh.
̣I H
1.2.1.3.3. Công tác thanh tra, kiểm tra thuế
Đối tượng của kiểm tra, thanh tra thuế là các tổ chức kinh tế và các cá nhân
Đ
A
có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước và chính bản thân các đơn vị thuộc ngành thuế.
Mục đích của thanh tra, kiểm tra thuế là nhằm phát hiện để từ đó có biện
pháp xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm pháp luật thuế nhằm hạn chế mức thấp
nhất tình trạng thất thu về thuế cho Nhà nước, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật
thuế cho các ĐTNT và cho người thi hành công vụ trong ngành thuế; phát hiện các
nội dung không phù hợp trong các văn bản pháp luật về thuế với thực tiễn nhằm
kiến nghị các cơ quan chức năng sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện hệ thống thuế.