TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH sử
===o0o===
BÙI THỊ QUỲNH NGA
ĐÁNG LẢNH ĐẠO
HOAT ĐÔNG KINH TÉ ĐỐI NGOAI
• • •
TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2015
KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
HÀ NỘI, 2016
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo Trần Thị Vui đã tận tình
chỉ bảo, giúp đỡ em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Em xin chân thành cảm ơn thầy cô trong Trường Đại học sư phạm Hà
Nội 2, đặc biệt các thầy cô trong Khoa Lịch sử đã tạo điều kiện giúp đỡ em
trong suốt thời gian qua.
Với những hạn chế về thời gian cũng như kiến thức của bản thân nên
khóa luận khó tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Em rất mong sự đóng góp ý
kiến của quý thầy cô.
Em xin chân thành cảm ơn!
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng tôi. Công trình này
được thực hiện dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Trần Thị Vui.
Các kết quả nêu ữong khóa luận chưa công bố trong bất kỳ công trình
nào và cũng không trùng với kết quả nghiên cứu của bất kỳ một tác giả nào.
kinh tế đối ngoại trong giai đoạn 2010-2015 ................................................... 60
CHƯƠNG 3. NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM ........................ 65
3.1. Nhận xét................................................................................................... 65
3.2. Một số kinh nghiệm................................................................................. 70
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................. 78
BẢNG QUY ƯỚC CÁC CHỮ YIẾT TẮT
ADB: Ngân hàng phát ữiển châu Á
AFTA: Khu vực mậu dịch tự daAŨEAN
APEC: Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á- Thái Bình Dương
ASEM: Diễn đàn hợp tác Á- Âu
ASEAN: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
DN: Doanh nghiệp
EU: Liên minh châu Âu
FDI: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
FTA: Hiệp định Thương mại tự do
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội
IMF: Quỹ tiền tệ quốc tế
KH&CN: Khoa học và công nghệ
NAFTA: Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ
NSNN: Ngân sách nhà nước
MFN: Tối huệ quốc
ODA: Vốn hỗ trợ phát ữiển chính thức
OECD: Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
biệt. Phát triển kinh tế đối ngoại trở thành một trong những định hướng lớn của
nền kinh tế quốc dân. Qua đó, Việt Nam mở rộng được thị trường xuất - nhập
khẩu, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tiếp thu khoa học - công nghệ tiên tiến,
phát triển các lĩnh vực dịch vụ và đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài. Nhu cầu đó
ngày càng trở nên bức xúc trước nguy cơ ngày càng tụt hậu xa hơn về kinh tế so
với khu vực và thế giới.
Trong công cuộc đổi mới, Đảng tập trung nhiều nguồn lực cho việc đổi
mới, mở rộng, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế đối ngoại. Thời kì này Đảng
1
đã ban hành nhiều nghị quyết có liên quan và nghị quyết chuyên đề về hoạt
động kinh tế đối ngoại: Nghị quyết số 13 - NQ/TW của Bộ Chính trị năm 2001.
Văn kiện Đại hội Đảng thời kì đổi mới, có phần đánh giá thực tiễn trước
khi xác định phương hướng, nhiệm vụ của hoạt động kinh tế đối ngoại, nêu rõ
tư tưởng chỉ đạo, phương châm và cách thức thực hiện. Các văn kiện của Đảng
gắn việc đổi mới, mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế đối ngoại với
“chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế”. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nền
kinh tế Việt Nam từng bước hội nhập vào kinh tế quốc tế, góp phần tích cực
thúc đẩy kinh tế xã hội thoát ra khỏi khủng hoảng và có bước phát triển ổn
định, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thực hiện “dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Tuy nhiên, sự chỉ đạo, điều hành hoạt động kinh tế đối ngoại còn bất cập.
Khả năng độc lập, tự chủ của nền kinh tế còn yếu, thiếu sức cạnh tranh, nhập
siêu lớn ...
Một chương trình tổng kết hệ thống toàn diện những chủ trương của
Đảng đối với hoạt động kinh tế đối ngoại đánh giá những thành công, hạn chế,
rút kinh nghiệm để khắc phục và phát triển là một việc làm cần thiết, có ý nghĩa
lý luận và thực tiễn sâu sắc.
nước Việt Nam về kinh tế đối ngoại cùng với đúc rút một số bài học kinh
nghiệm về hoạch định chủ trương và thực hiện đường lối đối ngoại tác giả kết
luận: “Lĩnh vực đối ngoại, từ quan điểm, đường lối, chính sách đến phương
châm và phương pháp, hoạt động thực tiễn, vừa phải đảm bảo lợi ích quốc gia
dân tộc, vừa phải thích ứng với đặc điểm và xu thế quốc tế [20; tr.349].
Năm 2005, tạp chí Lịch sử Đảng số 1 đăng bài “Vai trỏ lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam trên lĩnh vực kinh tế đổi ngoại và hội nhập kinh tể
quốc tế trong quá trình đổi mới” của Hoàng Ngọc Hòa. Theo tác giả: Đảng
3
Cộng sản Việt Nam trong suốt 75 năm lãnh đạo cách mạng không bao giờ theo
đuổi “đường lối biệt lập” mà luôn coi việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức
mạnh thời đại để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc “là một trong những nguyên tắc
cơ bản trong đường lối chiến lược” [16; tr.25], bước vào thời kỳ đổi mới, nắm
bắt xu thế khách quan và tác động của toàn cầu hóa, vượt lên trên thử thách,
Đảng Cộng sản Việt Nam đã phân tích đánh giá tình hình thế giới, đề ra đường
lối kinh tế đối ngoại và hội nhập quốc tế đúng đắn, góp phần tạo lên thế và lực
mới đưa đất nước vững bước tiến vào thế kỷ XXI.
Bài báo “Quá trình đổi mới tư duy của Đảng về xây dựng nền kinh tế
độc lập tự chủ và hội nhập kỉnh tể quốc tể” của Nguyễn Thị Thu Hiền( Tạp chí
Lịch sử Đảng số 7, 2010) cho rằng cùng với quá trình hội nhập kinh tế của Việt
Nam với khu vực và thế giới, chủ trương, tư tưởng chỉ đạo của Đảng về xây
dựng nền kinh tế độc lập tự chủ “ngày càng đầy đủ và cụ thể hơn” [15; tr.57].
Mối quan hệ giữa hai nội dung này được Đảng đề cập nhiều hơn tại Đại hội IX
và Đại hội X.
Như vậy, các công trình chủ yếu tập trung ở các báo cáo, bài tạp chí. Cho
đến nay chưa có công trình nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống về sự lãnh
đạo của Đảng đối với hoạt động kinh tế đối ngoại trong giai đoạn 2005- 2015.
Thứ nhất, khái quát và phân tích những đặc điểm của tình hình mới trong
và ngoài nước, những chủ trương và sự chỉ đạo hoạt động kinh tế đối ngoại của
Đảng.
Thứ hai, đánh giá những thành tựu và hạn chế về sự lãnh đạo của Đảng
trong hoạt động kinh tế đối ngoại từ năm 2005 đến năm 2015.
6. Đóng góp của đề tài
Đồ tài nghiên cứu về Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sự phát triển
kinh tế đối ngoại có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Vì vậy, nghiên cứu đề
tài sẽ có nhiều đóng góp.
5
về mặt lý luận: Đề tài nghiên cứu góp phần cung cấp một số hiểu biết về
nghiên cứu kinh tế đối ngoại.
về mặt thực tiễn: Đe tài góp phần tìm hiểu về vai trò của Đảng Cộng Sản
Việt Nam ưong việc lãnh đạo phát triển kinh tế đối ngoại. Đồng thời giúp
chúng ta có thể tham khảo khi giảngjạy, nghiên cứu vai trò của Đảng đối với
phát triển kinh tế, đặc biệt là kinh tế đối ngoại.
7. Bố cuc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài đuợc
chia làm 3 chuơng:
Chuơng 1 : Đảng lãnh đạo phát triển hoạt động kinh tế đối ngoại từ năm
2005 đến năm 2010.
Chuơng 2: Đảng lãnh đạo phát triển hoạt động kinh tế đối ngoại từ năm
2010 đến năm 2015.
Chuơng 3 : Nhận xét và một số kinh nghiệm.
7
dệt, nông thuỷ sản thâm nhập vào thị trường EU; Tham gia APEC (1998 ),
ASEM tạo điều kiện cho quá ữình hội nhập kinh tế khu vực và liên khu vực;
Gửi đơn gia nhập WTO năm 1995 và đang quá trình đàm phán gia nhập tổ chức
này vào năm 2005.
Từ năm 1990, các tổ chức thuộc hệ thống Liên Hợp Quốc, các nước
thuộc OECD và các nước Châu Á đã nối lại viện trợ cho Việt Nam. Nguồn vốn
ODA song phương đã tăng từ 75 triệu USD/năm trong giai đoạn 1985- 1990
lên khoảng 350 triệu USD năm 1992. Tuy nhiên, quan hệ với các tổ chức tín
dụng quốc tế chỉ được chính thức nối lại từ năm 1993 với Hội nghị các nhà tài
trợ dành cho Việt Nam tại Paris (sau này là Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài
trợ dành cho Việt Nam - Hội nghị CG). Sau 10 Hội nghị CG (từ 1993 đến 2003,
các nhà tài trợ đã cam kết dành cho Việt Nam tổng cộng là 25,39 tỷ USD (năm
2003 các nhà tài trợ đã cam kết hỗ trợ Việt Nam 2,84 tỷ USD. Tổng giá trị vốn
ODA đã được hợp thức hoá bằng các hiệp định ký kết đạt khoảng 16,6 tỷ USD
( trong đó đã giải ngân khoảng 11 tỷ), bằng 83% tổng nguồn vốn ODA đã cam
kết, tập trung vào giao thông vận tải và điện.
Trong khi ODA trên thế giới ngày càng giảm, nhiều nhà tài trợ cắt giảm
ODA do yêu cầu trong nước, ODA cam kết dành cho Việt Nam vẫn tăng. Các
nhà tài trợ lớn nhất cho Việt Nam là Nhật Bản, WB và ADB, chiếm khoảng
70% tổng giá trị các hiệp định đã ký kết.
Tình thế giới và khu vực những năm đầu thế kỷ XXI diễn biến phức tạp,
nhất là sự kiện khủng bố ngày 11-9-2001 ở Mỹ. Chủ nghĩa đế quốc thực hiện
chính sách bá quyền, đánh đòn phủ đầu, gây ra chiến tranh ở Ápganixtan, Irắc...
làm cho tình hình thế giới trở lên phức tạp. Đấu tranh dân tộc và giai cấp trên
thế giới trở lên phức tạp và quyết liệt hơn. Thiên tai dịch bệnh xảy ra ở nhiều
nơi như dịch bệnh SARS (năm 2003), dịch cúm gia cầm (năm 2004, 2005) gây
chóng với những diễn biến phức tạp. Xu thế hình thành trật tự thế giới mới theo
hướng đa cực ngày càng rõ. Các nước lớn gia tăng tập hợp lực lượng không chỉ
9
ở khía cạnh chính trị - an ninh truyền thống mà còn trong cả lĩnh vực kinh tế.
Cạnh tranh địa - chính trị chiến lược diễn ra hết sức gay gắt, các nước lớn đẩy
mạnh tập hợp lực lượng ở nhiều địa bàn chiến lược. Quan hệ giữa các nước lớn
tiếp tục vận động trong khuôn khổ vừa hợp tác, vừa đấu tranh, song mặt cạnh
tranh có biểu hiện diễn biến phức tạp. Đã có nhiều sáng kiến hợp tác, liên kết,
kết nối kinh tế liên lục địa, trong đó các nước lớn đóng vai trò chủ đạo, hoặc
với tư cách khởi xướng ý tưởng, hoặc có khả năng chi phối chủ yếu, đã được
đưa ra. Trong khi đó, kinh tế thế giới nhiều năm qua vẫn chưa thực sự phục hồi
vững chắc, tốc độ tăng trưởng chậm hơn kỳ vọng. Trên thế giới, hoà bình, hợp
tác và phát triển vẫn là xu thế lớn. Kinh tế thế giới và khu vực tiếp tục phục hồi
và phát triển nhưng vẫn tiềm ẩn những yếu tố bất trắc khó lường. Toàn cầu hoá
kinh tế tạo ra cơ hội phát triển nhưng cũng chứa đựng nhiều yếu tố bất bình
đẳng, gây khó khăn, thách thức lớn cho các quốc gia, nhất là các nước đang
phát triển. Cạnh tranh kinh tế - thương mại, giành giật các nguồn tài nguyên,
năng lượng, thị trường, nguồn vốn, công nghệ... giữa các nước ngày càng gay
gắt. Khoa học và công nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt và những đột phá lớn.
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới diễn ra năm 2008, đã có tác động to
lớn đến nền kinh tế thế giới trong đó có Việt Nam. Tốc độ tăng trưởng kinh tế
sụt giảm và bộc lộ một số hạn chế lớn trong thời gian dài.
Những cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, tôn
giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp, lật đổ, ly khai, hoạt động khủng
bố, những tranh chấp về biên giới, lãnh thổ, biển đảo và các tài nguyên thiên
nhiên tiếp tục diễn ra ở nhiều nơi với tính chất ngày càng phức tạp. Các mâu
thuẫn lớn của thời đại vẫn rất gay gắt. Nhiều vấn đề toàn cầu bức xúc đòi hỏi
hiệu quả hội nhập quốc tế, góp phần tạo thế và lực mới cho đất nước, phục vụ
đắc lực nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tình hình trong nước
Trong nước, những thành tựu 5 năm qua (2001 - 2005) và 20 năm đổi
11
mới (1986 - 2006) làm cho thế và lực nước ta lớn mạnh lên nhiều so với trước.
Việc mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế
quốc tế, giữ vững môi trường hoà bình tạo thêm nhiều thuận lợi cho nhân dân ta
đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội với tốc độ nhanh hơn.
Việt Nam đẩy nhanh các hoạt động kinh tế đối ngoại với các nước
ASEAN, EU, Nhật Bản, Trung Quốc, mở cửa sang các thị trường mới, trong đó
có Mỹ, hàng xuất khẩu chủ yếu tập ữung vào nông - hải sản, hàng may mặc,
dầu thô, hàng điện tử..., trong đó lợi thế nhất của ta là hàng nông, lâm, thủy sản.
Hàng may mặc và giày dép là lợi thế của nước ta vì nó sử dụng nhiều lao động,
nếu mở rộng được thị trường tiêu thụ ra ngoài nước sẽ tạo được nhiều công ăn,
việc làm và thu nhập, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp
sang công nghiệp, vấn đề là phải đầu tư công nghệ để nâng cao chất lượng sản
phẩm, đáp ứng yêu cầu nâng cao sức cạnh tranh của hàng Việt Nam trên thị
trường thế giới, nhất là vào Mỹ và EU.
Việt Nam đã là thành viên và tích cực đóng góp vào hoạt động của các tổ
chức quốc tế, khu vực như Liên Hợp Quốc, ASEAN, APEC, ASEM, tham gia
các cam kết xây dựng thị trường tự do khu vực ASEAN (AFTA)... và trở thành
thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào tháng 1 năm 2007.
Nhờ thắng lợi của hơn 20 năm đổi mới, dựa trên chính sách đối ngoại đúng đắn,
Việt Nam có quan hệ hòa bình, hữu nghị rộng lớn trong quan hệ quốc tế. Uy tín
và vị thế của nước ta trên thế giới và khu vực không ngừng tăng lên. Điều đó đã
tạo thêm nhiều thuận lợi cho công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội
kết trong khuôn khổ AFTA” [8; tr.60].
Đại hội IX của Đảng đưa ra chủ trương “chủ động hội nhập kinh tế quốc
tế và khu vực”. Sau Đại hội IX, Bộ Chính trị khóa IX đã ra Nghị quyết 07 về
hội nhập kinh tế quốc tế. Nghị quyết Trung ương 9 khóa IX nhấn mạnh: “Chủ
động và khẩn trương hơn trong hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện đầy đủ các
cam kết quốc tế đa phương, song phương nước ta đã ký và chuẩn bị tốt điều
13
kiện để sớm gia nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO)”.
Như vậy, sau hơn 20 năm đổi mới, từ nhận thức đúng đắn tính tất yếu
khách quan và những vấn đề của toàn cầu hóa, Đảng đã xác định rõ chủ trương
đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại, hội nhập sâu hơn và đầy đủ hơn, hội
nhập kinh tế quốc tế và khu vực, tạo bước ngoặt về hội nhập kinh tế và hoạt
động kinh tế đối ngoại. Điều này thể hiện khi Việt Nam gia nhập WTO (tháng
1/ 2007).
Đường lối đối ngoại Đại hội VII “Độc lập tự chủ, đa dạng hóa, đa
phương hóa các quan hệ đối ngoại” đã đánh dấu một bước khởi đầu cho tiến
trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong bối cảnh quốc tế mới. Mở
rộng quan hệ hợp tác kinh tế đa phương là điều kiện để giữ thế cân bằng, tránh
sự lệ thuộc một chiều vào một số đối tác nhất định. Đó là một giải pháp để vừa
mở rộng các mối quan hệ kinh tế, vừa giữ độc lập tự chủ.
Với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và mở rộng Việt Nam đã mở
rộng quan hệ kinh tế đối ngoại song phương và đa phương với nhiều nhóm đối
tượng khác nhau dưới nhiều hình thức và trên nhiều lĩnh vực. Nhờ chủ trương
đúng đắn của Đảng, Việt Nam đã có những thành công đáng kể trong hội nhập
kinh tế quốc tế.
Triển khai thực hiện đường lối “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế”, Bộ
Chính trị ra Nghị quyết 07- NQ/TW về hội nhập kinh tế quốc tế. Nghị quyết
quả đạt được trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.
Đại hội X đã nhấn mạnh nhiệm vụ: “Chủ động và tích cực hội nhập kinh
tế quốc tế”, “hội nhập sâu hơn và đầy đủ hơn với các thể chế kinh tế toàn cầu,
khu vực và song phương”. Chủ động theo tinh thần Đại hội X đó là: chủ động
sáng tạo, phân tích, lựa chọn, chủ động dự báo được những tình huống thuận
lợi và khó khăn khi mở cửa, hội nhập để từ đó chủ động quyết định các đường
lối chiến lược, chính sách, chủ trương [10; ữ.55].
Với quan điểm chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế Đại hội X
có chính sách cụ thể: “Đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại, hội nhập sâu và
15
đầy đủ hơn với các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương, lấy phục
vụ lợi ích đất nước làm mục tiêu cao nhất... Tiếp tục đổi mới thể chế kinh tế,
cải thiện môi trường đầu tư, thu hút các nguồn vốn ODA, FDI; đầu tư gián tiếp
tín dụng thương mại và các nguồn vốn khác... duy trì tỷ lệ vay nợ nước ngoài
hợp lý, an toàn. Phát huy vai trò chủ thể và tính năng động của doanh nghiệp
thuộc mọi thành phần kinh tế... Xúc tiến mạnh thương mại và đầu tư, khuyến
khích các doanh nghiệp Việt Nam hợp tác liên doanh với doanh nghiệp nước
ngoài và mạnlrxlạn đầu tư ra nước ngoài” [10; tr.l 12- 115].
Trên đây là những chủ trương của Đảng lãnh đạo hoạt động kinh tế đối
ngoại phát triển.
1.2.2. Sự chỉ đạo của Đảng
I.2.2.I. Đổi mới cơ chế, chính sách hoạt động xuất- nhập khẩu
Sau khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương
mại thế giới (WTO), tình hình xuất khấu có nhiều khởi sắc hơn so với giai đoạn
trước. Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tăng trưởng xuất khẩu khá cao
trong năm 2007 và 2008, tương ứng là 21,9%, và 29,1%. Sau khi giảm 8,9%
vào năm 2009 do tác động của khủng hoảng tài chính thế giới, xuất khẩu tăng
Xúc tiến mở rộng xuất- nhập khẩu bằng cách:
Xây dựng các mặt hàng chủ lực đạt chất lượng cao để hướng sự cố gắng
của các đơn vị xuất - nhập khẩu vào một chương trình chung.
Khuyến khích tiếp thị bằng cách tổ chức hệ thống thông tin, đặt các văn
phòng đại diện ở nước ngoài và nhiều hình thức phong phú khác.
Tổ chức lại mạng lưới sản xuất- xuất nhập khẩu theo hướng mở rộng
quyền cho các doành nghiệp tự quyết định các phương án sản xuất, kinh doanh,
xóa bỏ hình thức chủ quản cấp trên và chế độ giao chỉ tiêu kế hoạch “ cứng”
cho cơ sở.
Thành lập một vài tập đoàn công ty kinh doanh tổng hợp mạnh có đủ
năng lực về vốn và về thị trường để xâm nhập thị trường thế giới.
Tham gia vào các Hiệp định Thương mại quốc tế với các nước trên thế
giới và khu vực.
17
I.2.2.2. Hợp tác kỉnh tế, thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Việc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) năm 2006 đánh dấu
bước ngoặt lớn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Các
dòng vốn đầu tư nước ngoài đổ vào Việt Nam tăng đột biến, nhất là nguồn vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Năm 2007, lượng vốn FDI đăng ký đạt
21,348 tỷ USD, tăng gần 80% so với năm 2006 (năm 2006 đạt 12,044 tỷ USD),
và đạt mức kỷ lục gần 72 tỷ USD vào năm 2008. Tuy nhiên, sau đó lượng FDI
lại liên tục giảm: năm 2009 đạt 23,107 tỷ USD; 2010 đạt 19,764 tỷ USD.
Những kết quả thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài có ý nghĩa hết sức
quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, khẳng định môi trường kinh doanh
Việt Nam đã có sự cải thiện đáng kể trong những năm qua. Tuy nhiên, trước
bối cảnh sự cạnh tranh mạnh mẽ trong thu hút đầu tư giữa các quốc gia, Việt
Nam cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ cơ chế chính sách, tạo môi trường kỉnh
trường đầu tư là tổng thể các bộ phận mà ở đó chúng tác động qua lại lẫn nhau
và chi phối mạnh mẽ đến các hoạt động đầu tư; buộc các nhà đầu tư phải tự
điều chỉnh các mục đích, hình thức và phạm vi hoạt động cho thích hợp, tạo
điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh và đưa đến hiệu quả cao trong
kinh doanh.
Sau khi đường lối đổi mới được Đại hội Đảng lần thứ VI thông qua, và
nhất là sau khi Việt Nam công bố Luật Đầu tư nước ngoài ở Việt Nam (1987),
hoạt động đầu tư nước ngoài trong những năm (2005- 2010) bước đầu đã thu
được nhiều thành tựu.
Việc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) năm 2006 đánh dấu
bước ngoặt lớn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Các
dòng vốn đầu tư nước ngoài đổ vào Việt Nam tăng đột biến, nhất là nguồn vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Năm 2007, lượng vốn FDI đăng ký đạt
21,348 tỷ USD, tăng gần 80% so với năm 2006 (năm 2006 đạt 12,044 tỷ USD),
và đạt mức kỷ lục gần 72 tỷ USD vào năm 2008. Tuy nhiên, sau đó lượng FDI
lại liên tục giảm như: năm 2009 đạt 23,107 tỷ USD; năm 2010 đạt 19,764 tỷ.
Khủng hoảng tài chính toàn cầu (năm 2008) đã có những tác động tiêu
19