TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LICH SỬ
VŨ Thị Tơ
ĐẢNG LÃNH ĐẠO QUAN HỆ
VỆT NAM - TRUNG QUỐC GIAI ĐOẠN 1991-2015
KHÓA LUÂN TỐT NGHIÊP ĐAI HOC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
VŨ Thị Tơ
HÀ NỘI, 2016
TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LICH SỬ
ĐẢNG LÃNH ĐẠO QUAN HỆ
VIỆT NAM - TRUNG QUỐC GIAI ĐOẠN 1991-2015
KHÓA LUÂN TỐT NGHIÊP ĐAI HOC
••••
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học:
TS TRẦN THỊ VUI
Vũ Thị Tơ
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ACFTA: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN:
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á COC: Bộ
quy tắc ứng xử tại biển Đông EU: Liên minh
Châu Âu ODA: Hỗ trợ phát triển chính thức
WTO: Tổ chức thương mại thế giới
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
NỘI DUNG .....................................................................................................
CHƯƠNG 1....................................................................................................... 5
CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ QUAN HỆ ................................................. 5
VIỆT NAM- TRUNG QUỐC TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2015 .................. 5
1.1. ........................................................................................................
Những nhân tố tác động đến quan hệ Việt Nam- Trung Quốc ....................... 5
1.2. ........................................................................................................ Chủ
trương đối ngoại của Đảng trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc ............... 15
CHƯƠNG 2..................................................................................................... 25
ĐẢNG LÃNH ĐẠO QUAN HỆ VIỆT NAM- TRUNG QUỐC.................... 25
TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2015 ................................................................... 25
2.1. Quá trình chỉ đạo thực hiện chủ trương quan hệ Việt Nam- Trung Quốc từ
1991-2015........................................................................................................ 25
2.2. Những kết quả đạt được về quan hệ Việt Nam- Trung Quốc ................ 30
2.3. Một số kinh nghiệm................................................................................ 50
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 58
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 60
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
gồm đường đứt đoạn, cho xuất bản bản đồ “Tam Sa”, phạm vi bao gồm hai quần
đảo Hoàng Sa, Trường Sa... Trung Quốc còn đẩy mạnh công tác quy hoạch và
pháp chế hoá khai thác quản lý biển.
Trước những diễn biến phức tạp đó, việc nghiên cứu về Đảng lãnh đạo
quan hệ ngoại giao Việt Nam - Trung Quốc là rất càn thiết. Điều này góp phần
làm sáng tỏ những chủ trương đúng đắn, sáng tạo của Đảng, nhằm hoàn thiện
những phương hướng và sách lược trong mối quan hệ với Trung Quốc, rút ra một
số kinh nghiệm trong quan hệ với các nước lớn, các tổ chức quốc tế, thúc đẩy sự
hội nhập của Việt Nam vào khu vực và thế giới cho nên tôi đã chọn đề tài “Đảng
lãnh đạo quan hệ Việt Nam- Trung quốc giai đoạn 1991-2015” làm đề tài khóa
luận tốt nghiệp của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
về vấn đề quan hệ Việt Nam - Trung Quốc có rất nhiều sách báo, các bài
viết, các công trình nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực: ngoại giao, kinh tế, thương
mại, các vấn đề xã hội, giáo dục, khoa học công nghệ,... tiêu biểu như: “Quan hệ
kinh tế - văn hóa Việt Nam - Trung Quốc hiện trạng và triển vọng”, Nhà xuất bản
Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001. Trong quan hệ đối ngoại có: “Quan hệ thương
mại Việt Nam - Trung Quốc hiện trạng và những vấn đề đặt ra”, 2008 - số 4, Tạp
chí Nghiên cứu Trung Quốc. Quan hệ thương mại Việt Nam - Trung Quốc từ khi
bình thường hóa quan hệ đến nay, 2008 - số 3, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc.
Bài viết về chính trị như “Quan hệ chính trị giữa Việt Nam và Trung Quốc từ sau
bình thường hóa đến nay”, 2008 - số 2, nghiên cứu Đông Bắc Á.
Ngoài ra còn nhiều cuốn sách khác như: Nguyễn Đình Liêm (2000),
“Những vấn đề nổi bật trong quan hệ Trung Quốc - Việt Nam ừong mười năm đầu
thế kỷ XXI và triển vọng đến 2020”. “55 quan hệ Việt Nam - Trung Quốc nhìn lại
quá khứ và hướng tới tương lai”, 2005 - số 2, Tạp chí Cộng sản. “Việt Nam Trung Quốc tăng cường hợp tác cùng nhau phát triển hướng tới tương lai”, Nhà
xuất bản Khoa học xã hội, 2005...
Bên cạnh đó, có một số luận án, luận văn đã bảo vệ đề cập đến chủ đề này
quan hệ giữa hai nước trên mọi lĩnh vực, tập chung chủ yếu vào lĩnh vực kinh tế
và chính trị.
4. Nguồn tư liệu và phưtrng pháp nghiền cứu
4.1 Nguồn tư liệu
Trong khóa luận này tôi sử dụng các nguồn tài liệu thu thập được trong
3
sách, báo, tạp chí, các Văn kiện Đảng, các bài viết, các công trình nghiên cứu có
liên quan.
Ngoài ra khóa luận còn sử dụng các tài liệu được công bố trong các công
trình của các tác giả về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc. Các đề tài nghiên cứu
khóa luận, các luận án tiến sỹ, luận văn, các tài liệu có liên quan đến đề tài.
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận chung của chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Sử dụng phương pháp lịch sử và lôgic là chủ yếu,
có sử dụng các phương pháp phân tích, tổng họp, thống kê, so sánh nhằm làm
sáng tỏ nội dung của đề tài.
5. Đóng góp của khóa luận
Khóa luận phân tích những nhân tố tác động đến quan hệ Việt Nam-Trung
Quốc, khái quát mối quan hệ hai nước trước năm 1991, chủ trương đối ngoại của
Đảng trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc từ 1991 đến năm 2015. Sự lãnh đạo
của Đảng trong việc phát triển mối quan hệ Việt Nam- Trung Quốc từ năm 19912015 và những thành tựu đạt được cũng như hạn chế còn tồn tại trong mối quan
hệ hai nước. Qua đó, đưa ra những nhận xét và một số kinh nghiệm trong việc
thiết lập và phát triển quan hệ với Trung Quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ngoài ra, vói nguồn tài liệu tham khảo của khóa luận sẽ cung cấp những tài
liệu phục vụ tốt cho công tác nghiên cứu các đề tài hay các môn học có liên quan.
6. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đàu, kết luận, tài liệu tham khảo khóa luận gồm có 2
chương:
Chương 1: Chủ trương của Đảng về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc từ
thể là bên trong nước Mỹ tích cực đẩy mạnh chương trình “chấn hưng kinh tế”,
Liên Xô thực hiện “cải tổ”, còn Trung Quốc tiến hành “cải cách”, “ mở cửa”,
“bốn hiện đại hóa”. Bên ngoài các nước này đi vào hòa hoãn, cải thiện quan hệ
từng đôi một, vừa hợp tác vừa đấu tranh kiềm chế lẫn nhau, giảm mạnh cuộc chạy
đua vũ trang, tiến hành rút quân và rút khỏi các căn cứ quân sự của họ ở nước
ngoài, cắt giảm hoặc chấm dứt viện trợ kinh tế, quân sự cho các đồng minh bầu
bạn của họ trên thế giới. Tháng 1-1990, Hội nghị các đầu não an ninh
5
Châu Âu đã tuyên bố “kết thúc chiến tranh lạnh” tạo thêm cơ hội cho các nước có
chế độ chính trị khác nhau cùng tồn tại trong hòa bình.
Năm 1989, các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu lần lượt sụp đổ. Tháng 121991, Liên Xô cũng tan rã. Khối quân sự Vacsava do Liên Xô đứng đàu đối trọng
với khối quân sự NATO do Mỹ chỉ huy chấm dứt sự tồn tại của nó trong 4 thập
kỷ. Chủ nghĩa xã hội và phong trào cách mạng thế giới tạm thời lâm vào tình trạng
thoái trào. So sánh lực lượng trên thế giới từ chỗ cân bằng tương đối giữa hai hệ
thống chính trị xã hội đối lập, tạm thời nghiêng về phía có lọi cho Mỹ và các nước
tư bản phương Tây. Trật tự hai cực Mỹ- Xô kết thúc nhường chỗ cho trật tự thế
giới mới đang trong quá trình hình thành. Mỹ trở thành siêu cường duy nhất có
sức mạnh lớn nhất chi phối nhiều lĩnh vực ttong đời sống quan hệ quốc tế, NATO
được tăng cường mở rộng và có lọi thế hơn các đối thủ mới và đồng minh về
chính trị, kinh tế, khoa học công nghệ và một vài lĩnh vực khác.
Mặc dù cán cân lực lượng thay đổi không có lọi cho cách mạng thế giới
nhưng các mâu thuẫn cơ bản vốn có trên thế thói vẫn tồn tại và phát triển, chủ
nghĩa tư bản không ngừng chống phá nhằm lật đổ các nước xã hội chủ nghĩa còn
lại thông qua “diễn biến hòa bình”. Song, không ngăn các nước này đổi mới, cải
cách và đã thu được những kết quả đáng khích lệ như ở Việt Nam, Trung Quốc.
Như vậy, bản chất quốc tế sau chiến tranh lạnh đã và đang thay đổi trên mọi
mặt của đời sống xã hội, cùng với thành tựu của cách mạng khoa học công nghệ
hội do quá trình quốc tế hóa đang mở ra.
Bên cạnh quá trình hội nhập quốc tế, liên kết khu vực và tiểu khu vực, song
phương và đa phương ngày càng tăng mạnh mẽ, dựa trên cơ sở tương đồng về địa
lý, văn hóa truyền thống, tạo nên sức mạnh tập thể hình thành nên thị trường thống
nhất, nhân công lao động quốc tế phát triển. Các quốc gia chậm phát triển có cơ
hội hội nhập và phát triển kinh tế, từng bước nâng cao vị thế trong khu vực và hên
thế giới. Liên kết kinh tế song phương dưới nhiều hình thức tam giác, tứ giác xuất
hiện phát triển ngày càng bền vững. Do đó, vấn đề ngoại giao kinh tế, cạnh tranh
lợi ích kinh tế, lợi dụng tiềm năng quốc tế để phát triển trở thành nội dung quan
trọng trong quan hệ quốc tế hiện đại.
Những đặc điểm và xu thế trên đây đã chi phối tính đa phương đa dạng hóa
quan hệ quốc tế và đường lối chính sách đối ngoại của nhiều quốc gia ttên
7
thế giới, ừong đó có Việt Nam và Trung Quốc. Để thực hiện chương trình cải cách
kinh tế, Việt Nam và Trung Quốc phải duy trì môi trường hòa bình và quan hệ tốt
đẹp với các nước láng giềng. Trong bối cảnh đó, quan hệ Việt- Trung cần thiết
phải được bình thường hóa và tiếp tục phát triển.
* Quan hệ các nước lớn
Quan hệ Xô - Mỹ, Xô - Trung, Mỹ - Trung tác động không nhỏ đến quan
hệ Việt - Trung trong tiến trình tiến tới bình thường hóa.
Quan hệ Xô - Trung đẩy mạnh chạy đua vũ trang, tăng chi phí quốc phòng
làm cho tình hình thế giới căng thẳng. Những năm 80 nền kinh thế bao cấp bộc lộ
nhiều vấn đề, có nguy cơ xảy ra khủng hoảng kinh tế- xã hội. Sau khi
Goocbarchop lên cầm quyền Liên Xô thúc đẩy chính sách ngoại giao hòa hoãn với
các nước lớn, tập trung vào xây dựng kinh tế. Trong quan hệ với vác nước lớn,
Liên Xô bắt đầu chủ động đưa ra những nhượng bộ nhằm làm giảm đi những khó
khăn, tác động từ bên ngoài tới sự ổn định, phát triển ở trong nước. Năm 1989
Liên Xô đơn phương rút một lực lượng lớn quân đội đóng ở các nước Đông Á.
trọng đến thúc đẩy quan hệ với các nước ASEAN và Đông Dương. Và điều hiển
nhiên là quan hệ Việt- Trung cũng được cải thiện để Trung Quốc có thể giữ ổn
định và phát triển vùng biên giới phía Nam của mình.
Quan hệ Trung - Xô: Cuối những năm 70, tình hình quốc tế và nội bộ của
Liên Xô, Trung Quốc có những thay đổi. Trong quan hệ với Liên Xô, một mặt
Trung Quốc đưa ra đề nghị đàm phán vói chính phủ Liên Xô để cải thiện quan hệ
hai nước, nhưng mặt khác vẫn lên tiếng chỉ trích Liên Xô là chủ nghĩa bá quyền.
Tháng 3-1982, nhà lãnh đạo Liên Xô đã có bài phát biểu ở Tash Kent bày tỏ muốn
tiến hành đối thoại để cải thiện quan hệ hai nước, tiếp tục đàm phán vói Trung
Quốc về vấn đề biên giói bất cứ lúc nào. Tháng 10 năm đó chính phủ hai nước bắt
đầu tiến hành đàm phán, trong cuộc đàm phán Xô- Trung, phía Trung Quốc đưa ra
3 giải pháp cho tiến trình bình thường hóa quan hệ hai nước. Thứ nhất là Liên Xô
rút quân khỏi Apsganistan. Thứ 2 là giảm quân ở biên giới Mông cổ- Trung Quốc,
Liên Xô- Trung Quốc. Thứ 3 là thúc đẩy Việt Nam rút quân khỏi Campuchia,
trong đó vấn đề Campuchia là quan trọng nhất. Đe trả lời những yêu cầu của
Trung Quốc, phía Liên Xô cũng đưa ta 3 quan điểm. Thứ nhất, chỉ trích Trung
Quốc đưa ra điều kiện tiên quyết trong đàm phán. Thứ hai,
trong bình thường hóa quan hệ Tmng- Xô, không làm tổn hại đến lợi ích của các
9
nước thứ 3. Thứ ba, tuyên bố phía Liên Xô không đe dọa Trung Quốc. Cuộc đàm
phán không đạt kết quả. Sau khi Goocbachop lên cầm quyền, quan điểm của Liên
xô đối với 3 vấn đề mà Trung Quốc yêu cầu đã cởi mở lên. Điều này tạo điều kiện
cho cải thiện quan hệ hai nước bình thường hóa sau này. Tháng 4- 1986, tại vòng
đàm phán Xô- Trung lần thứ 8, phía Liên Xô đã có sự nhượng bộ khi lần đầu tiên
bày tỏ đồng ý thảo luận vấn đề Campuchia, việc này cho thấy hai nước bắt tay
nhau đạt được thỏa thuận quan trọng trong giải quyết vấn đề một nước khác.
Đưotng nhiên, những hành động này làm cho Việt Nam chuyển hướng chính sách
đối ngoại, đi theo con đường riêng, tránh sự phụ thuộc quá nhiều vào Liên Xô.
* vẩn đề Campuchia
Trong những năm cuối thập niên 70 và thập niên 80 của thế kỷ XX, vấn đề
Campuchia là một trong những nhân tố chính gây khó khăn cho Việt Nam trong
quan hệ quốc tế. Vì vấn đề này đã lôi cuốn sự quan tâm của các nước trong khu
vực và nhiều nước trên thế giới kể cả các nước lớn. Nhiều cuộc đàm phán giữa các
nước, nhóm nước khu vực và nước lớn trên thế giới đều quan tâm đến nhân tố
Campuchia nhằm gây sức ép, cô lập Việt Nam. Quan điểm của các nước ASEAN
cũng muốn quốc tế hoá vấn đề Campuchia. Ngay từ tháng 7 năm 1981 các nước
này đã tổ chức Hội nghị quốc tế về giải quyết vấn đề Campuchia. Chủ trương của
các nước ASEAN là phối họp với các nước ngoài khu vực ép Việt Nam rút quân
khỏi Campuchia.
Còn với Trung Quốc, năm 1982, trong cuộc đàm phán với Liên Xô để tiến
tới bình thường hoá qua hệ giữa hai nước, Trung Quốc đã đưa ra điều kiện tiên
quyết để giải quyết bình thường hoá bằng việc giải quyết “ ba trở ngại lớn” vói
Liên Xô. Điều này cho thấy nhân tố Campuchia đối vói Trung Quốc đóng một vai
trò không nhỏ trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc với Việt Nam, cũng như
trong quan hệ giữa Trung Quốc với các nước lớn khác.Tất nhiên điều đó cũng dễ
hiểu bởi Trung Quốc là nước đã hậu thuẫn giúp Campuchia đào tạo nhân lực, viện
trợ thời kỳ trước đó và cũng muốn thông qua Campuchia để mở rộng ảnh hưởng
của mình tại khu vực Đông Nam Á.
Chính vì tầm quan trọng của vấn đề Campuchia liên quan đến sự ổn định
và phát triển của Việt Nam. Vì vậy, trọng tâm hoạt động đối ngoại của Việt Nam
11
trong những năm 80 của thế kỷ XX là tập trung giải quyết vấn đề Campuchia và
bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc. Từ năm 1982, Việt Nam bắt đầu cho
thấy thiện chí của mình bằng việc rút hết quân tình nguyện Việt Nam ở
Campuchia về nước. Đến thời kỳ đổi mới, trọng tâm chính sách đối ngoại của Việt
Nam là tìm kiếm một giải pháp chính trị hợp lý cho vấn đề Campuchia, coi đây là
Trung Quốc còn là một nước lớn có tiếng nói trên trường quốc tế. Do vậy, nối lại
quan hệ với Trung Quốc sẽ mang lại cho nước ta nhiều lọi ích về an ninh, kinh tế
và đối ngoại.
Trước tiên, bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc sẽ giúp Việt Nam có
điều kiện tập trung vào phát triển kinh tế, đưa nước ta thoát khỏi khủng hoảng
kinh tế- xã hội diễn ra từ cuối những năm 70 dù Đảng đã tiến hành công cuộc đổi
mới kinh tế nhưng kết quả vẫn còn hạn chế. Những khó khăn đó một phần do
chính sách yếu kém song còn do nguyên nhân quan trọng là Việt Nam bị Mỹ và
nhiều nước bao vây cấm vận, cô lập trong đó có Trung Quốc. Hơn hai mươi năm
căng thẳng với Trung Quốc cũng chính là thời gian kinh tế Việt Nam lao đao.
Điều này cũng dễ hiểu vì Việt Nam phải huy động một bộ phận lớn về người và
của để bảo vệ đất nước nên không thể tập trung cho phát triển kinh tế.
Bình thường hóa quan hệ vói Trung Quốc còn giúp Việt Nam thoát khỏi sự
cô lập trên trường quốc tế, tạo tiền đề cho việc thực hiện chính sách đối ngoại rộng
mở, đa phương hóa, đa dạng hóa của Đảng . Trong suốt thập kỷ 80 của thế kỷ
trước, việc Viêt Nam đưa quân vào Campuchia đã khiến nước ta bị Mỹ, các nước
phương Tây và Trung Quốc bao vây cấm vận và cô lập. Sức ép cấm vận không chỉ
khiến cuộc khủng hoảng kinh tế- xã hội tại nước ta thêm trầm trọng mà nhiều
nước trên thế giói do e ngại Mỹ và Tmng nên còn dè dặt trong quan hệ với ta.
Bình thường hóa quan hệ vói Trung Quốc có nghĩa là Việt Nam sẽ gạt bỏ đi một
trong hai trở ngại chính để thoát khỏi thế cô lập trên thế giới.
Ngoài ra sau khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Ầu tan rã,
Việt Nam mất đi chỗ dựa lớn về chính trị, mất đi thị trường truyền thống cũng như
nguồn viện trợ chủ yếu. Trong khi đó, Mỹ và phương Tây vẫn tiếp tục thi hành
chính sách bao vây cấm vận, thực hiện “diễn biến hòa bình” gây cho Việt Nam rất
nhiều khó khăn. Vì vậy, bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc không những
giúp Việt Nam có điều kiện hợp tác buôn bán với thị trường đầy
tiềm năng này để phát triển nền kinh tế mà còn có thể ttanh thủ sự giúp đỡ của
13
giữa các vùng trong phát triển kinh tế của thế giới.
14
Thêm vào đó, quan hệ tốt với Việt Nam, Trung Quốc mới có cơ hội cạnh
tranh với các nước trên thị trường Việt Nam và Đông Dương, tăng ảnh hưởng của
Trung Quốc và hạn chế ảnh hưởng của Việt Nam ở Lào và Campuchia. Nếu không
sớm bình thường hóa, với sự cạnh tranh của các công ty nước ngoài, các công ty
Trung Quốc có nguy cơ chậm chân và mất cơ hội làm ăn ở Đông Dương. Qua
những năm đối đầu, Trung Quốc càng cô lập Việt Nam thì ba nước Đông Dương
lại càng gắn bó và ảnh hưởng của Việt Nam ở Đông Dương càng lớn. Do vậy, để
có thể tập hợp lực lượng, gây ảnh hưởng ở Đông Dương và Đông Nam Ắ, Trung
Quốc không thể kéo dài sự căng thẳng với Việt Nam.
12. Chủ trương đối ngoại của Đảng trong quan hệ Việt Nam - Trung
Quốc
1.2.1. Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trước năm 1991
* Quan hệ Việt Nam- Trung Quốc từ 1950-1965
Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là quốc gia sớm nhất và đầu tiên có quan hệ
và giúp đỡ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân xâm lược và ngược
lại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng là một trong những nước đầu tiên công nhận
và thiết lập quan hệ ngoại giao vói Trung Quốc (5/1/1950). Ngay sau khi nước
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời, 1/10/1949, thay mặt Đảng, Chính phủ và
nhân dân, chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi điện chúc mừng tới đồng chí Mao Trạch
Đông- Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, bức điện có đoạn nêu rõ:
“Tôi rất vui mừng được tin nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ðýợc thành lập,
thay mặt nhân dân và Chính phủ Việt Nam tôi kính mừng Nhà nýớc, Chính phủ và
nhân dân Trung Hoa. Hai dân tộc Hoa- Việt có mối quan hệ trải mấy nghìn năm
lịch sử. Từ đây, mối quan hệ ấy sẽ càng mật thiết để phát triển tự do, hạnh phúc
của hai dân tộc ta và để bảo vệ dân chủ thế giới và hòa bình lâu dài [38, tr.28].
Ngày 18/1/1950, Trung Quốc chính thức công nhận và thiết lập quan hệ
Tmng Quốc đã tổ chức nhiều hoạt động phong phú biểu hiện tình đoàn kết hữu
nghị vói nhân dân Việt Nam. Ngày 19/7/1960 hơn một vạn nhân dân thủ đô Bắc
Kinh đã mít tinh để lên án tội ác của Mỹ- Diệm, ủng hộ Cách mạng Việt Nam.
Ngày 20/12/1960, Mặt hận dân tộc giải phóng miền Nam ra đời, Trung Quốc là
một trong các nước đầu tiên công nhận và đồng ý để mặt hận mở cơ quan đại diện
tại chính nước mình.
16
Trong khi Việt Nam khôi phục kinh tế miền Bắc, đấu tranh thống nhất nước
nhà, Trung Quốc cũng phải đối mặt với nhiều vấn đề đối nội, đối ngoại, đó là sự
can thiệp của Mỹ vào Đài Loan, sự nổi loạn ở Tây Tạng... Việt Nam lên án việc
Mỹ xâm chiếm Đài Loan, âm mưu tạo ra hai nước Trung Quốc hoặc một Trung
một Đài. Trước sau như một, Việt Nam luôn thừa nhận Đài Loan là một phần lãnh
thổ Trung Quốc và coi Mỹ là kẻ thù chung của hai dân tộc bỏi Mỹ cản trở sự
thống nhất Việt Nam và cản trở việc đưa Đài Loan trở về Trung Quốc.
Trong khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta bước vào
giai đoạn quyết liệt, Trung Quốc tăng cường ủng hộ Việt Nam trên nhiều phương
diện. Ngày 6/8/1964, Trung Quốc ra tuyên bố lên án hành động xâm lược của Mỹ,
khẳng định tinh thần đoàn kết và trách nhiệm cao đối với Việt Nam trước việc
máy bay Mỹ đánh phá một số điểm ở miền Bắc Việt Nam. Tổ chức mít tinh tại
quảng trường Thiên An Môn cùng với sự tham gia của các nhà lãnh đạo cao cấp
của Đảng, Nhà nước Trung Quốc và hơn một triệu dân, phản đối Mỹ dùng không
quân, pháo hạm đánh phá thị xã Đồng Hói, cùng nhiều địa điểm khác thuộc tỉnh
Quảng Bình, Vĩnh Long...
* Quan hệ Việt Nam- Trung Quốc 1965-1975
Đây là thòi gian cuộc đấu tranh của nhân dân ta diễn ra vô cùng khốc liệt,
Đế quốc Mỹ thực hiện chiến lược “chiến tranh cục bộ” , ào ạt đưa quân viễn chinh
Mỹ và quân các nước Đồng minh Mỹ vào nước ta để trực tiếp tham chiến tại miền
tình hữu nghị chiến đấu giữa nhân dân và quân đội hai nước, đã bàn bạc chân
thành và hữu nghị về vấn đề Trung Quốc viện trợ không hoàn lại những trang bị,
vật tư quân sự cho miền Nam Việt Nam trong năm 1968.
Thời kỳ này, Trung Quốc tiếp tục viện trợ tích cực cho Việt Nam theo
thống kê chưa đầy đủ của cơ quan hậu càn Việt Nam, chỉ tính riêng về viện trợ
quân sự, từ năm 1965-1968, Trung Quốc đã viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam
tổng số 36,448 tấn vật chất tri giá 922 triệu nhân dân tệ. Ngay ừong năm 1965,
Trung Quốc đã viện trợ cho Việt Nam 58,953 tấn vũ khí đạn dược và khoảng 900
triệu nhân dân tệ. Trung Quốc còn giúp Việt Nam xây dựng một số cơ sở công
nghiệp phục vụ cho quốc phòng và phát triển kinh tế.
Có thể nói, những giúp đỡ và ủng hộ của nhân dân Trung Quốc đối với
cách mạng nước ta trong giai đoạn này là không thể phủ nhận. Tuy nhiên cũng
18
phải thừa nhận một thực tế đó là, vì lọi ích của mình trong cuộc đối đàu nhằm
cạnh tranh ảnh hưởng với Liên Xô, do hai nước Trung- Xô có nhiều mâu thuẫn,
nếu ở những mức độ khác nhau Trung Quốc đã có những chính sách và thực hiện
nhiều hành động gây bất lợi cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta trong sự nghiệp
kháng chiến chống Mỹ. Tiêu biểu cho những chính sách của Trung Quốc là việc
Trung Quốc gây khó khăn trong việc vận chuyển các loại vũ khí, trang thiết bị kỹ
thuật và hàng cứu trợ mà Liên Xô cũng như các nước xã hội chủ nghĩa đã chi viện
cho nhân dân ta.
Sau ngày giải phóng miền Nam Việt Nam 30/4/1975 mối quan hệ ViệtTrung tiếp tục xấu đi, nhất là khi lực lượng Khmer đỏ triển khai hàng loạt vụ tấn
công quân sự vào lãnh thổ Việt Nam, mở đầu là cuộc đột kích vào đảo Phú Quốc
ngày 4/7/1975, rồi tiếp đó là đảo Thổ Chu ngày 10/7/1975. Sau đó là các cuộc tấn
công mang tính tàn sát đẫm máu của Khmer đỏ vào tháng 4, tháng 7/1977 vào sâu
10 km trong lãnh thổ Việt Nam tại các tỉnh An Giang và Tây Ninh. Trong thời
gian Việt Nam phải đối phó với quân đội Khmer đỏ, mối quan hệ giữa Việt Nam
và Liên Xô ngày càng được thắt chặt và được đánh dấu bằng “hiệp ước hữu nghị
lược Campuchia”. Nhưng tiên thực tế, Mỹ đã là quốc gia phương Tây duy nhất
gần như ủng hộ cuộc xâm lược Việt Nam của Trung Quốc. Ngoài Mỹ thì đa số
các quốc gia phương Tây phản đối mạnh mẽ hoạt động quân sự của phía Trung
Quốc, sự cô lập này đã ảnh hưởng khá lớn tới chính sách ngoại giao bước đầu mở
cửa của Trung Quốc khi đó.
Ngày 18-2-1979, đồng minh của Việt Nam - Liên Xô viện dẫn hiệp định kí
vói Việt Nam thúc giục Trung Quốc “dừng trước khi quá muộn” và yêu cầu Trung
Quốc rút quân lập tức và toàn bộ. Trong thòi gian xảy ra cuộc chiến, Liên Xô
không ngừng lên án cuộc tấn công của Trung Quốc là “hành động man rợ bất
chấp đạo lý của kẻ cướp” yêu cầu Trung Quốc lập tức chấm dứt chiến tranh xâm
lược và cảnh báo Trung Quốc về lòng trung thành của Liên Xô đối với hiệp ước
quân sự Xô- Việt. Ngoài ra, Liên Xô chỉ trợ giúp vận chuyển hàng không và triển
khai hải quân ngoài bờ biển Việt Nam chứ không can thiệp quân sự nhằm tránh
làm đổ vỡ mối quan hệ bấy lâu căng thẳng với Trung Quốc.
20