Đảng lãnh đạo công tác giáo dục đào tạo ở miền bắc giai đoạn 1954 1975 - Pdf 39

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ

======

PHÙNG THỊ XUÂN

ĐẢNG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC
GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO Ở MIỀN BẮC
GIAI ĐOẠN 1954 - 1975
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. TRẦN THỊ VUI

HÀ NỘI, 2016


LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới TS. Trần Thị Vui – ngƣời đã tận tình
hƣớng dẫn, chỉ bảo và truyền đạt kinh nghiệm cho em trong suốt quá trình nghiên
cứu đề tài khóa luận.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử, các thầy cô
trong bộ môn Lịch sử Đảng trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2, đã tạo điều kiện
giúp đỡ em hoàn thành khóa luận của mình.
Do lần đầu tiên làm quen với công tác nghiên cứu khoa học nên đề tài nghiên
cứu khóa luận của em không thể tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy em rất mong
nhận đƣợc ý kiến đóng góp của các thầy cô và các bạn sinh viên để đề tài này đƣợc
hoàn thiện hơn.
Hà Nội, ngày 05 tháng 05 năm 2016

năm lần thứ nhất (1961 – 1965) ................................................................. 35
2.3. Giữ vững và phát triển giáo dục – đào tạo ở miền Bắc giai đoạn 1965
– 1975 .......................................................................................................... 43
Chƣơng 3. NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM .............................. 53
3.1. Nhận xét ............................................................................................... 53
3.2. Một số kinh nghiệm ............................................................................. 59
KẾT LUẬN .................................................................................................. 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 68


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một dân tộc có truyền thống hiếu học, truyền thống đó đã trở
thành nét đẹp của nền văn hiến nƣớc Việt. Lịch sử Việt Nam đã chứng minh: khi
nào Nhà nƣớc quan tâm đến việc phát triển giáo dục, trọng dụng nhân tài, thì lúc đó
đất nƣớc hƣng thịnh.
Giáo dục – đào tạo giữ một vai trò quan trọng trong sự nghiệp cách mạng
dân tộc, góp phần đào tạo đội ngũ nhân tài phục vụ cho công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám, nhân ngày khai
giảng đầu tiên của nƣớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết
thƣ gửi các học sinh, nêu rõ vai trò to lớn của giáo dục đối với sự nghiệp kiến thiết
nƣớc nhà: “Non sông Việt Nam có trở nên tƣơi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có
bƣớc tới đài vinh quang để sánh vai với các cƣờng quốc năm châu đƣợc hay không,
chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”.
Trƣớc, trong cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp Đảng đã chú
trọng đến công tác giáo dục – đào tạo, từng bƣớc xây dựng nền giáo dục Việt Nam,
khắc phục những khó khăn, tàn dƣ của nền giáo dục thực dân để lại, bƣớc đầu đã
đạt đƣợc những thành tựu nhất định.
Sau năm 1954, tình hình đất nƣớc có nhiều thay đổi. Miền Bắc đƣợc hoàn
toàn giải phóng và đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam bƣớc vào cuộc

mảng đề tài này đang ngày càng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, tiếp
cận dƣới nhiều góc độ khác nhau.
Đối với sự nghiệp giáo dục – đào tạo ở miền Bắc từ 1954 – 1975, hiện nay
đƣợc đề cập tản mát trong các công trình sau:
Phạm Văn Đồng, Mấy vấn đề về văn hóa giáo dục. Cuốn sách đề cập đến
những bài nói và viết của đồng chí Phạm Văn Đồng về văn hóa và giáo dục, tầm
quan trọng của sự nghiệp giáo dục phổ thông, trách nhiệm của đội ngũ giáo viên,
tình hình cách mạng và nhiệm vụ văn nghệ.
Phạm Minh Hạc, Sơ thảo giáo dục Việt Nam (1945 – 1992), tập trung
nghiêm cứu lịch sử, cải cách và tổ chức giáo dục, xóa bỏ nạn mù chữ và phổ cập
giáo dục sơ đẳng; giáo dục trƣớc tuổi đi học, giáo dục cao đẳng, hệ thống các
trƣờng trung học, kỹ thuật và các trƣờng dạy nghề, giáo dục bổ sung, đào tạo tại

2


chức và giáo dục liên tục. Nghiên cứu về giáo dục và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực
giáo dục và đào tạo.
Trƣờng Đại học Sƣ phạm thành phố Hồ Chí Minh biên soạn cuốn: 60 năm
ngành Sư phạm Việt Nam (1946 – 2006), tập trung viết về một số ý kiến của Chủ
tịch Hồ Chí Minh và Đồng chí Phạm Văn Đồng về ngành sƣ phạm; giới thiệu sơ
lƣợc 60 năm ngành sƣ phạm Việt Nam, ngành sƣ phạm trƣớc tƣơng lai đất nƣớc và
nhân dân; những hình ảnh 60 năm ngành sƣ phạm Việt Nam (1946 – 2006). Tuy
nhiên tác phẩm mới chỉ đề cập tới ngành sƣ phạm nói riêng.
Tác giả Trần Hồng Quân với cuốn: Năm mươi năm phát triển sự nghiệp giáo
dục và đào tạo (1945 – 1995) cuốn sách chuyên khảo về lịch sử sự nghiệp giáo dục
và đào tạo Việt Nam từ năm 1945 – 1995.
Lê Văn Giạng, Lịch sử giản lược: hơn 1000 năm nền giáo dục Việt Nam, đã
khái quát nền giáo dục Việt Nam qua các giai đoạn phát triển của lịch sử từ nền giáo
dục nho học đến thời Pháp thuộc, thời kỳ giải phóng đất nƣớc, thời kỳ xây dựng xã

phát triển giáo dục đại học, đào tạo cán bộ chuyên môn (1945 – 1975) – Ngô Văn
Hà, số 12, 2010. Xây dựng đội ngũ trí thức ở miền Bắc (1954 – 1965) – Nguyễn
Thu Hải, số 4, 2015.
Tạp chí Khoa học giáo dục: 60 năm phát triển nền giáo dục Việt Nam, Phạm
Minh Hạc, 2005, số 1, tr.3 – 6; số 2, tr.1 – 6.
Tạp chí Nghiên cứu giáo dục: Nền giáo dục Việt Nam – 50 năm trên chặng
đường xây dựng và phát triển, Phạm Tất Dong, 1995, số 2.
Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử: Về cải cách hệ thống giáo dục phổ thông năm
1956 ở miền Bắc Việt Nam – Nguyễn Thúy Quỳnh, 2013, số 7.
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu trên mới chỉ đề cập đến một mặt,
một vấn đề nào đó hoặc đã trình bày khái quát nhƣng chƣa thật sự sâu sắc về công
tác giáo dục ở miền Bắc từ năm 1954 đến năm 1975.
Vì vậy, theo tác giả đề tài khóa luận hoàn toàn mới, không trùng lặp với bất
kỳ công trình, luận án, luận văn nào trƣớc đây.

3. Mục đích, đối tƣợng, nhiệm vụ và phƣơng pháp nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là đi sâu tìm hiểu một cách có hệ thống, toàn
diện về công tác giáo dục – đào tạo ở miền Bắc thời kỳ 1954 – 1975; vai trò lãnh

4


đạo của Đảng và Chính phủ, sự phát triển về giáo dục và đào tạo; đồng thời thấy
đƣợc những đóng góp của quần chúng nhân dân đối với công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở miền Bắc và cuộc kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam. Từ đó khẳng
định những giá trị to lớn, rút ra ý nghĩa sâu sắc của vấn đề.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu về công tác giáo dục – đào tạo ở miền Bắc trong xây
dựng chủ nghĩa xã hội từ 1954 đến 1975.

mà đề tài đặt ra.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phƣơng pháp luận:
Khóa luận đƣợc hình thành trên cơ sở phƣơng pháp luận của chủ nghĩa MácLênin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đƣờng lối, chủ trƣơng của Đảng về
công tác giáo dục – đào tạo.
Phƣơng pháp nghiên cứu:
Kết hợp phƣơng pháp lịch sử với phƣơng pháp logic.
Vận dụng các phƣơng pháp nhƣ phân tích, so sánh, đối chiếu để rút ra kết
luận.
Trong một vài trƣờng hợp khóa luận sử dụng phƣơng pháp thống kê, phƣơng
pháp định lƣợng và định tính để giải quyết vấn đề.

5. Đóng góp của khóa luận
Trên cơ sở nghiên cứu sự phát triển của giáo dục – đào tạo ở miền Bắc từ
năm 1954 đến năm 1975, khóa luận có một số đóng góp:
Dƣới góc độ lịch sử, đề tài nghiên cứu một mảng quan trọng của sự nghiệp
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc thời kỳ 1954 – 1975.
Đánh giá những thành công, hạn chế của công tác giáo dục – đào tạo, những
đóng góp đối với đất nƣớc.
Đúc rút một số kinh nghiệm trong phạm vi nghiên cứu của đề tài.

6


Đặt cơ sở nghiên cứu về công tác giáo dục – đào tạo cho những giai đoạn
tiếp theo, trên phạm vi cả nƣớc.

6. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung
khóa luận gồm 3 chƣơng:

giải phóng dân tộc trở thành làn sóng đấu tranh, đánh dấu sự phát triển quan trọng
trong lịch sử thế giới, nhiều nƣớc xã hội chủ nghĩa liên tiếp ra đời cùng với Liên
Xô, Trung Quốc trở thành hệ thống thế giới.
Sự thành công của các nƣớc xã hội chủ nghĩa có tác động không nhỏ tới Việt
Nam trên nhiều lĩnh vƣc. Đối với ngành giáo dục - đào tạo chúng ta có cơ hội gửi
những sinh viên xuất sắc sang du học, lĩnh hội những kiến thức khoa học kỹ thuật
tiên tiến về phục vụ cho đất nƣớc.

8


Trong hệ thống các nƣớc tƣ bản chủ nghĩa, vị thế của Mỹ ngày càng tăng,
chiếm vị trí lãnh đạo các nƣớc tƣ bản chủ nghĩa. Mỹ đóng vai trò quan trọng đối với
các nƣớc Tây Âu thông qua hai công cụ chính là kế hoạch Masrshall phục hƣng
kinh tế và khối quân sự Bắc Đại Tây Dƣơng (NATO). Kinh tế các nƣớc châu Âu
sau thời gian phục hồi đã phát triển nhanh chóng, bắt đầu thành lập các tổ chức liên
kết hợp tác, năm 1957 thành lập Cộng đồng kinh tế châu Âu (EEC), tiền thân của
Liên minh châu Âu (EU). Đồng thời Mỹ thiết lập các Liên minh quân sự và đóng
quân ở nhiều nơi trên thế giới tạo thành vành đai bao vây các nƣớc xã hội chủ nghĩa
nhƣ: Hiệp ƣớc Mỹ - Nhật, Mỹ - Hàn, Khối quân sự Đông Nam Á (SEATO), khối
Trung Đông (CENTO) và khối ANZUS (gồm Ôtrâylia, Niu Dilân và Mỹ). Với sự
bao vây của các nƣớc tƣ bản đứng đầu là Mỹ đã gây ra những khó khăn đối với sự
phát triển của các nƣớc xã hội chủ nghĩa trong đó có Việt Nam. Đặc biệt việc Mỹ
trực tiếp tham chiến tại miền Nam Việt Nam đã thể hiện tham vọng của Mỹ ở Đông
Nam Á. Đối phó với một nƣớc tƣ bản hùng mạnh đặt ra cho Việt Nam một yêu cầu
cần một đội ngũ cán bộ có trình độ khoa học kỹ thuật về mọi mặt, nhân dân có trình
độ văn hóa để xây dựng, củng cố nội lực của đất nƣớc trƣớc hết là miền Bắc xã hội
chủ nghĩa.
Những sự kiện quốc tế kể trên có ảnh hƣởng quan trọng đối với công cuộc
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nƣớc ta nói chung và sự phát triển của nền giáo dục đào tạo nói riêng.

năm (1951-1953), Nhà nƣớc đã đào tạo đƣợc 7.000 cán bộ kỹ thuật. Sau khi biên
giới đƣợc khai thông, Chính phủ đã cử hàng nghìn cán bộ và sinh viên tốt nghiệp
phổ thông và đại học đi học dài hạn ở nƣớc ngoài, nhằm chuẩn bị cho việc xây dựng
đất nƣớc sau khi chiến tranh kết thúc. Những thành công trên là cơ sở nền tảng quan
trọng để Đảng và nhân dân tiếp tục phát triển sự nghiệp giáo dục trong công cuộc
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi đó, công cuộc xây dựng nền giáo dục
còn gặp nhiều khó khăn, thử thách.
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, song đất nƣớc bị
chia cắt, với hai chế độ chính trị khác nhau. Miền Bắc đƣợc hoàn toàn giải phóng,
tiếp tục thực hiện nhiệm vụ cách mạng dân chủ nhân dân, tạo tiền đề từng bƣớc quá
độ lên chủ nghĩa xã hội. Miền Nam đang bị kìm kẹp dƣới ách thống trị của đế quốc
và tay sai, tiếp tục hoàn thành cuộc cách mạng dân chủ nhân dân, đi tới thống nhất

10


nƣớc nhà. Một Đảng lãnh đạo đồng thời hai nhiệm vụ khác nhau ở mỗi miền là hết
sức khó khăn, phức tạp. Công cuộc xây dựng miền Bắc nói chung và xây dựng nền
giáo dục xã hội chủ nghĩa nói riêng còn mới mẻ đối với chúng ta, do đó phải vừa
làm, vừa tìm hiểu, vừa đúc rút kinh nghiệm.
Hậu quả của chiến tranh để lại là hết sức nặng nề đối với sự phát triển kinh
tế, xã hội, văn hóa, giáo dục. Trƣớc khi rút lui, thực dân Pháp xuyên tạc, tuyên
truyền, dụ dỗ gần một triệu đồng bào công giáo di cƣ vào Nam, ảnh hƣởng tiêu cực
đến tình hình an ninh, trật tự xã hội. Chúng phá hủy hoặc tháo dỡ trang thiết bị, đồ
dùng phục vụ giảng dạy và học tập của các trƣờng đại học, tìm mọi cách lôi kéo,
kích động các giáo sƣ và sinh viên, gây hoang mang giao động trong họ.
Sự nghiệp giáo dục - đào tạo của miền Bắc nằm trong bối cảnh nóng bỏng,
bức xúc và đầy khó khăn đó. Mặc dù vậy, những thuận lợi nêu trên vẫn là yếu tố
căn bản, tác động lớn tới sự phát triển của nền giáo dục miền Bắc.

giảng dạy; bổ túc văn hóa, nghiệp vụ cho giáo viên, chỉnh đốn chƣơng trình và tài
liệu giảng dạy; củng cố sự lãnh đạo nhà trƣờng và tăng cƣờng kiểm tra.
Để khuyến khích phát triển giáo dục dân lập và tƣ thục cần ban hành các
chính sách cụ thể đối với giáo viên dân lập và việc mở trƣờng tƣ thục, có chính sách
khen thƣởng đối với những địa phƣơng có công trong việc vận động xây dựng và
lãnh đạo hệ thống này. Nghiên cứu một chế độ thu học phí hợp lý hơn.
Ngày 30 tháng 1 năm 1959 Ban Bí thƣ ra Chỉ thị số 125-CT/TW Về chấn
trỉnh công tác giáo dục chính trị trong nhà trường phổ thông (cấp II và cấp III).
Công tác giáo dục chính trị trong nhà trƣờng phổ thông có một tầm
quan trọng lớn lao; nó là một bộ phận công tác trong cuộc cách mạng tƣ tƣởng mà
hiện nay Đảng đang tiến hành. Mặt khác, nhà trƣờng phổ thông là một động lực to
lớn, có tổ chức, cho nên Đảng phải chú ý bồi dƣỡng lực lƣợng đó, là cho thanh niên
học sinh trở thành những ngƣời lao động yêu nƣớc, giác ngộ chủ nghĩa xã hội, có
văn hóa, có sức khỏe, có đạo đức, những ngƣời công dân tốt tích cực xây dựng chủ
nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc [13; tr.135].
Về công tác bổ túc văn hóa và thanh toán nạn mù chữ.
Năm 1957 tích cực đẩy mạnh công tác bổ túc văn hóa, hƣớng chính là số cán
bộ xã, công nhân, cán bộ, nhân viên ở các công trƣờng, xí nghiệp và cơ quan nhà

12


nƣớc, phƣơng thức chính là học tại chỗ, tại chức. Các trƣờng bổ túc công nông và
phổ thông lao động tiếp tục hoạt động, tiêu chuẩn lấy học sinh phải chặt chẽ hơn
năm 1956.
Ngày 27-12-1957 Chính phủ ra quyết định thành lập Ban lãnh đạo thanh toán
nạn mù chữ và Bổ túc văn hóa ở Trung ƣơng, cụ Tôn Đức Thắng đƣợc cử làm
Trƣởng ban, các tỉnh lần lƣợt thành lập ban lãnh đạo thanh toán nạn mù chữ và bổ
túc văn hóa tăng cƣờng hoạt động xuống tận cơ sở.
Ngày 7 tháng 3 năm 1958 Ban Bí thƣ ra Chỉ thị số 72-CT/TW Về việc tăng

nhằm đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất
nước nhà.
Do sự quan tâm của Đảng và sự cố gắng của nhân dân, cuối năm
1958, các tỉnh miền xuôi đã căn bản xóa song nạn mù chữ; hàng chục vạn ngƣời
đƣợc bổ túc văn hóa. Những thành tích ấy tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển
cơ sở chính trị, kinh tế. Tuy nhiên, so với yêu cầu cách mạng xã hội chủ nghĩa thì
trình độ văn hóa của cán bộ và nhân dân còn quá thấp. Đại đa số nông dân còn ở
trình độ lớp 1, lớp 2, 80% công nhân ở trình độ lớp 2 và số lƣợng cán bộ chuyên
môn, kỹ thuật chƣa đầy 2% so với tổng số công nhân. Trong 630 cán bộ cao cấp ở
các cơ quan dân chính đảng trung ƣơng thì 10,5% còn ở trình độ cấp I, 50% chƣa
hết cấp II, 16,5% trên trình độ cấp II, 23% có trình độ trên cấp III và đại học… Tình
trạng đó hạn chế nâng cao năng lực công tác, năng suất lao động, hạn chế trình độ
quản lý sản xuất, quản lý nhà nƣớc, hạn chế trình độ giác ngộ xã hội chủ nghĩa và
do đó, hạn chế bƣớc tiến nhanh của cách mạng [13; tr.937].
Do đó Đảng nhấm mạnh: “trong thời gian tới, nếu không khẩn trƣơng nâng
cao trình độ văn hóa của cán bộ công nông thì sẽ ảnh hƣởng lớn đến công cuộc cải
tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, cho nên yêu cầu bức thiết là
phải ra sức đẩy mạnh và lãnh đạo tốt phong trào bổ túc văn hóa” [13; tr.938].
Nội dung bổ túc văn hóa
Nội dung chủ yếu nhằm đảm bảo kiến thức về khoa học cơ bản, có tác
dụng nâng cao trình độ nghiệp vụ, đẩy mạnh sản xuất, đồng thời bao gồm nội dung
nâng cao nhiệt tình xã hội chủ nghĩa, nâng cao tinh thần yêu nƣớc và quyết tâm đấu
tranh thống nhất nƣớc nhà. Nguyên tắc chung là phải học các kiến thức cơ bản phổ

14


thông, nhƣng với một nội dung tinh giảm, một trình tự hợp lý, luôn luôn liên hệ
thực tế, có phần theo hệ thống, có phần phục vụ ngay trƣớc mắt [13; tr.938].
Về đào tạo đại học và trung học chuyên nghiệp

Ngày 24 tháng 5 năm 1957 Ban Bí thƣ ra Nghị quyết số 14-NQ/TW Về việc
thành lập Tiểu ban Giáo dục khoa học Trung ương với nhiệm vụ chủ yếu là phát
triển văn hóa, nghiên cứu đƣờng lối chính sách giáo dục và khoa học để đề nghị
Trung ƣơng quyết định, theo dõi tình hình các trƣờng học và tổ chức nghiên cứu
khoa học.

1.2.2. Quan điểm, chủ trƣơng, chính sách của Đảng về phát triển sự
nghiệp giáo dục – đào tạo ở miền Bắc từ năm 1960 đến năm 1965
Đại hội lần thứ III của Đảng đã khẳng định công cuộc cải tạo xã hội chủ
nghĩa ở miền Bắc đã đạt đƣợc những thành tựu quan trọng. Trên cơ sở đó, Đảng
tiếp tục đề ra nhiệm vụ và đƣờng lối cho giai đoạn tiếp theo trên nhiều lĩnh vực
trong đó có lĩnh vực giáo dục.
Công tác giáo dục phải phát triển theo quy mô lớn nhằm bồi dƣỡng
thế hệ trẻ thành những ngƣời lao động làm chủ nƣớc nhà, có giác ngộ xã hội chủ
nghĩa, có văn hóa và kỹ thuật, có sức khỏe, nhằm phục vụ đắc lực cho việc đào tạo
cán bộ và nâng cao trình độ văn hóa của nhân dân lao động. Công tác giáo dục phải
phục vụ đƣờng lối và nhiệm vụ cách mạng của Đảng, phải kết hợp giáo dục với lao
động sản xuất, kết hợp lý luận với thực tế, giáo dục của nhà trƣờng với giáo dục của
xã hội [14; tr.930].
Đối với giáo dục phổ thông
Cần ra sức phát triển mạnh mẽ nhằm đào tạo những thế hệ thanh niên có đạo
đức, có văn hóa, có sức khỏe, sẵn sàng xây dựng chủ nghĩa xã hội. Công tác giáo
dục phải phục vụ nhiệm vụ và đƣờng lối cách mạng của Đảng, nắm vững những
phƣơng châm giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tế,
học đi đôi với hành, giáo dục nhà trƣờng kết hợp với giáo dục xã hội; kết hợp lực
lƣợng của Nhà nƣớc với lực lƣợng của nhân dân.
Ở miền xuôi, phấn đấu hoàn thành phổ cập giáo dục phổ thông cấp I vào năm
1963-1964, chuẩn bị phổ thông cấp II trong kế hoạch 5 năm lần thứ hai; tiếp tục mở

16

công nhân và nông dân và quần chúng lao động khác, cần thực hiện phổ cập giáo

17


dục cấp I. Hình thức chính để mở rộng việc bổ túc văn hóa là mở các lớp ngoài giờ
làm việc; đồng thời cũng cần mở thêm các trƣờng lớp chính quy để bổ túc văn hóa
nhanh cho những đối tƣợng cần thiết.
Trong việc đẩy mạnh bổ túc văn hóa phải đặc biệt chú trọng việc bổ túc văn
hóa cho các ngành, các cấp, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt từ xã đến Trung ƣơng,
thứ đến là phải chú trọng các đảng viên và đoàn thanh niên trong công nhân, nông
dân đang trực tiếp sản xuất trong các xí nghiệp công trƣờng, nông trƣờng và các
hợp tác xã. Để làm tốt công tác này, cần phải quy định một chế độ học tập thích
đáng; đối với cán bộ tạm thời quy định mỗi tuần hai buổi học tập văn hóa; cần phải
nghiên cứu hình thức tổ chức học tập cho thích hợp với hoàn cảnh công tác của cán
bộ và sản xuất của công nhân, kết hợp hình thức học tập chung với học tại chức; đối
với những cán bộ hoàn cảnh không cho phép học tại chức, thì kiên quyết đƣa đi học
tập ở các lớp tập trung; cần xúc tiến khẩn trƣơng việc biên soạn các chƣơng trình
cho thích hợp với từng đối tƣợng, kịp thời biên soạn các sách giáo khoa. Đối với
các lớp bổ túc văn hóa tập trung cho cán bộ và công nhân, cần kiên quyết điều động
một số giáo viên tốt, có kinh nghiệm về phƣơng pháp giảng dạy cho ngƣời lớn; một
mặt khác, để bổ túc văn hóa cho cán bộ thêm kết quả, đảm bảo chất lƣợng, cũng cần
giành một phần thích đáng về thiết bị thí nghiệm và giáo cụ trực quan cho các lớp
học đó.
Về đào tạo đại học và trung học chuyên nghiệp
Để bảo đảm phát triển mạnh sự nghiệp giáo dục, cần mở rộng các trƣờng sƣ
phạm sơ cấp, trung cấp và đại học, nâng cao chất lƣợng đào tạo giáo viên và bồi
dƣỡng giáo viên sẵn có về mọi mặt, tích cực xây dựng trƣờng sở, tăng thêm các
thiết bị thí nghiệm và xây dựng thƣ viện, tủ sách cho các trƣờng bổ túc văn hóa và
các trƣờng phổ thông.

ngành; phát triển hình thức đào tạo theo lối không chính quy và nửa chính quy; tăng
cƣờng việc bồi dƣỡng giáo sƣ, giáo viên, phát huy năng lực của họ trong việc giảng
dạy; phải học tập chuyên gia tốt hơn nữa.
Phải tăng cƣờng việc phối hợp giữa các ngành trong việc đào tạo cán bộ,
thành lập một hội đồng gồm đại biểu các cơ quan có quan hệ với công tác đào tạo
cán bộ để giúp trung ƣơng chỉ đạo và thống nhất việc đào tạo, phân phối cán bộ và
khoa học kỹ thuật.

19


Đi đôi với việc đào tạo và bồi dƣỡng cán bộ xây dựng kinh tế, các ngành
phải đặc biệt chú trọng đào tạo công nhân về các mặt chính trị, văn hóa, kỹ thuật,
lợi dụng nhiều hình thức đào tạo; đào tạo tại các trƣờng lớp, đào tạo theo hƣớng
kèm cặp, mở lớp đào tạo ngay tại xí nghiệp,…
Về nghiên cứu khoa học, đẩy mạnh công tác nghiên cứu và phổ biến khoa
học và kỹ thuật một cách có trọng điểm, có từng bƣớc vững chắc, nhằm phục vụ sản
xuất, phục vụ dân sinh, phục vụ quốc phòng. Ra sức đào tạo cán bộ khoa học và xây
dựng các cơ sở nghiên cứu khoa học cần thiết, kết hợp với việc phổ biến rộng rãi
những hiểu biết và khoa học kỹ thuật trong đông đảo quần chúng, thúc đẩy phong
trào thi đua cải tiến kỹ thuật, sáng chế phát minh. Mở rộng sự hợp tác với các nƣớc
anh em trong việc nghiên cứu khoa học kỹ thuật.
Phải đẩy mạnh việc điều tra cơ bản, thăm dò tài nguyên; đẩy mạnh công tác
quản lý kỹ thuật bƣớc đầu xây dựng một hệ thống đo lƣờng thống nhất, chủ yếu là
về cân và đo để phục vụ cho sản xuất và thƣơng nghiệp, xây dựng một số tiêu chuẩn
của nhà nƣớc nhƣ tiêu chuẩn về nguyên liệu, vật liệu, chế tạo cơ khí; bắt đầu nghiên
cứu một số vấn đề kỹ thuật riêng biệt của vùng khí hậu nhiệt đới nhằm bảo quản và
sử dụng tốt các thiết bị máy móc chế biến và bảo quản nông, lâm, thủy sản. Về khoa
học kỹ thuật nông nghiệp cần nghiên cứu những biện pháp để tăng năng suất một số
cây trồng trƣớc hết là lúa; nghiên cứu để đi tới áp dụng một cách phổ biến những

Chú trọng giải quyết giáo viên cho các lớp bổ túc văn hóa cho đối tƣợng chính. Cần
chấp hành đúng các chính sách và chế độ đãi ngộ vật chất với giáo viên dân lập và
giáo viên dạy bổ túc văn hóa.
- Đối với công tác đào tạo bồi dƣỡng cán bộ phấn đấu đến năm 1965 số sinh
viên học đại học có mặt đầu năm học sẽ lên đến 36.830 ngƣời, tăng 236% so với
năm 1960; số học sinh trung cấp đầu năm học sẽ lên đến 54.440 ngƣời, tăng 175%
so với năm 1960.
Từ năm 1963 đến năm 1965, trung bình mỗi năm sẽ cố gắng đƣa khoảng 300
đến 400 sinh viên tốt nghiệp đại học ra nƣớc ngoài học tập để nâng lên trình độ phó
tiến sĩ, tiến sĩ, kỹ sƣ trƣởng, tổng công trình sƣ. Về công nhân kỹ thuật trong năm
(1961-1965) dự định đào tạo 200.000, trong đó có 1.000 công nhân đi học ở nƣớc
ngoài.

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status